Đặc điểm sinh vật học của cây chè

Bảo quản khối theo đống: Bảo quản theo đống chỉ nên duy trì thời gian ngắn và sau đó cà phê đưa vào bao bì hoặc thùng để giảm diện tích bảo quản. + Bảo quản khối trong các silo: Các silo có hình khối hộp vuông hoặc chữ nhật và tùy theo kích thước của mỗi silo có thể chứa từ 3,5 - 50 tấn cà phê. Mặt sàn làm bằng lưới thép không gỉ hoặc bằng các tấm nhôm có đục lỗ để thông khí.

pdf15 trang | Chia sẻ: haohao89 | Lượt xem: 5739 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đặc điểm sinh vật học của cây chè, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
124 + Bảo quản khối theo đống: Bảo quản theo đống chỉ nên duy trì thời gian ngắn và sau đó cà phê đưa vào bao bì hoặc thùng để giảm diện tích bảo quản. + Bảo quản khối trong các silo: Các silo có hình khối hộp vuông hoặc chữ nhật và tùy theo kích thước của mỗi silo có thể chứa từ 3,5 - 50 tấn cà phê. Mặt sàn làm bằng lưới thép không gỉ hoặc bằng các tấm nhôm có đục lỗ để thông khí. Bảo quản trong các silo nếu áp dụng cho cà phê chưa khô hoàn toàn và trong kho đóng kín hoặc thông khí tự nhiên thì có thể gặp hiện tượng chảy mồ hôi tường. Lớp cà phê ven tường bị mốc trước, sau đó làm hỏng tiếp lớp cà phê bên cạnh. Vì vậy, ẩm độ hạt cà phê đưa vào bảo quản cần dưới 13% và cần lắp đặt các quạt thổi. Lưu ý: Dung tích bảo quản sản phẩm giảm dần theo thứ tự: Cà phê quả khô  cà phê thóc khô cà phê nhân xô  cà phê đã đánh bóng. Thời gian nhanh bị xuống cấp chất lượng của sản phẩm theo trình tự ngược lại. Bài 10. ĐẶC ĐIỂM SINH VẬT HỌC CỦA CÂY CHÈ I. RỄ CHÈ. Hệ rễ chè nếu trồng bằng hạt gồm rễ trụ (rễ cọc), rễ bên và rễ hấp thu. Rễ trụ có thể dài tới 2m nhưng thường chỉ dài 1m. Rễ trụ dài hay ngắn phụ thuộc vào tính chất đất, chế độ làm đất, phân bón, tuổi chè và giống. Đất tốt sâu, thoát nước thì bộ rễ ăn sâu, rộng hơn. Giống chè thuộc dạng thân gỗ có rễ trụ ăn sâu hơn dạng thân bụi. Chè trồng bằng phương pháp giâm cành thì không có loại rễ này. Rễ bên (đối với chè cành thì loại rễ này rất phát triển) và rễ hấp thu phân bố ở tầng canh tác, ở lớp đất từ 5 - 50 cm phân bố theo chiều ngang thường gấp từ 1,2 - 2 lần tán chè. Trong điều kiện sản xuất, rễ hấp thu tập trung chủ yếu ở khoảng cách giữa hai hàng chè. II. THÂN CHÈ Cây chè mọc từ hạt, sinh trưởng trong điều kiện tự nhiên là cây đơn trục, thân thẳng, phân nhánh liên tục tạo thành hệ thống cành chồi trên cây và hình thành nên tán cây. Tùy theo chiều cao phân cành, kích thước thân chính và các cành chè mà người ta chia làm 3 loại: thân bụi, thân gỗ nhỏ và thân gỗ. - Thân bụi: Cây chè không có thân chính rõ rệt, vị trí phân cành thấp, sát với cổ rễ. Cành nhỏ, tán chè có dạng bụi, điển hình là các thứ chè Trung Quốc lá nhỏ, chè Nhật Bản, chè Gruzia. -Thân gỗ nhỏ (Thân bán gỗ): Là loại hình trung gian có thân chính tương đối rõ, vị trí phân cành thường cách mặt đất từ 20 - 30 cm. Điển hình là chè Trung Quốc lá to và chè Trung du. 125 - Thân gỗ: Là loại hình cây cao, to, có thân hình rõ rệt, vị trí phân cành cao. Điển hình là các thứ chè Ấn Độ, chè Shan. Cây chè trong điều kiện tự nhiên không đốn có dạng tán lá đều, căn cứ vào góc độ giữa thân chính và các cành cấp 1 mà người ta chia làm các dạng tán chè như sau: Dạng hình suốt chỉ, cây cao nhưng tán hẹp. Dạng hình cầu, nửa cầu: Là loại hình trung gian thấp hơn dạng suốt chỉ, tán to hơn. Dạng hình mâm xôi: To ngang, mặt tán to, rộng. Tiêu chuẩn chọn giống chè là chọn cây có tán cây càng to, càng tốt. III. CÀNH CHÈ Hình 10.1. Cơ dạng tán chè. Cành chè do mầm dinh dưỡng phát triển thành. Trên cành chia ra nhiều đốt, chiều dài đốt cành biến động từ 1- 10 cm tùy theo giống, điều kiện sinh trưởng. Đốt cành chè dài là một trong những biểu hiện của giống chè có khả năng cho năng suất cao. Theo tuổi của cành chè mà màu sắc cành chè biến đổi từ màu xanh đậm, xanh nhạt, màu đỏ, màu nâu và khi cành già có màu xám. Tùy theo vị trí tương đối của cành chè với thân chính mà người ta chia ra các cấp cành: Cành cấp 1, cấp 2, cấp 3. Cũng như đối với các cây lâu năm khác, cành cấp 1 được mọc ra từ thân chính, cành cấp 2 được mọc ra từ cành cấp 1, tương tự cành cấp 3 được mọc ra từ cành cấp 2, các cấp cành trên tán rất khác nhau. Theo lý thuyết phát triển giai đoạn thì những mầm chè nằm càng sát phía gốc của cây càng có tuổi phát dục giai đoạn non, sức sinh trưởng mạnh. Những cành chè càng ở phía trên ngọn (mặt tán) thì càng có tuổi phát dục giai đoạn già, sức sinh trưởng yếu, khả năng ra hoa kết quả mạnh hơn. Những cành chè ở giữa tán thì có sức sinh trưởng mạnh hơn những cành ở rìa tán. 126 Thân và cành chè tạo nên bộ khung tán của cây chè. Với lượng cành chè thích hợp và cân đối trên tán chè, cây chè sẽ cho năng suất cao, vượt qua giới hạn đó năng suất chè không tăng mà phẩm chất búp giảm do có nhiều búp mù xòe. IV. CÁC LOẠI MẦM CHÈ Người ta chia mầm chè thành 2 loại : Mầm dinh dưỡng và mầm sinh thực. - Mầm dinh dưỡng: Mầm dinh dưỡng là mầm từ đó phát triển thành cành và lá chè. Căn cứ vào vị trí của mầm dinh dưỡng trên thân và cành người ta lại chia mầm dinh dưỡng thành mầm đỉnh, mầm nách, mầm ngủ và mầm bất định. + Mầm đỉnh: Mầm đỉnh là mầm dinh dưỡng nằm ở vị trí tận cùng của cành chè. Mầm đỉnh thường sinh trưởng mạnh (gọi là ưu thế ngọn) thường lấn át sinh trưởng của các mầm khác ở phía dưới. Mầm đỉnh không phát sinh liên tục quanh năm, do đặc tính di truyền hay khi gặp điều kiện không thuận lợi như rét, hạn, dinh dưỡng kém thì mầm đỉnh cũng ngừng sinh trưởng chuyển sang trạng thái ngủ nghỉ gọi là búp mù xòe. + Mầm nách: Là mầm dinh dưỡng nằm ở các nách lá. Trong điều kiện sinh trưởng tự nhiên, đa số các mầm nách ở trong trạng thái ngủ nghỉ do sự kìm hãm của mầm đỉnh. Mầm nách chỉ thực sự phát triển khi mầm đỉnh được hái đi. Tùy theo vị trí của mầm nách trên cành chè mà chúng có ưu thế sinh trưởng khác nhau. Những mầm nách ở phía trên chiếm ưu thế sinh trưởng mạnh hơn mầm nách ở phía dưới. + Mầm ngủ: Mầm ngủ là những mầm dinh dưỡng nằm ở các bộ phận đã hóa gỗ của các cành một năm hoặc già hơn. Mầm ngủ thường ở trạng thái ngủ nghỉ, chúng chỉ thực sự được hoạt động trở lại khi có tác nhân hóa học (chất kích thích sinh trưởng) hay tác nhân cơ giới (đốn, uốn cành...). Những mầm ngủ ở phía dưới có tuổi phát dục giai đoạn non, khi được phát động trở lại thường sức sinh trưởng mạnh. Đây là cơ sở để tiến hành biện pháp đốn lửng, đốn đau. + Mầm bất định: Là mầm dinh dưỡng thường nằm ở phía gốc, cổ rễ của chè. Nó chỉ được phát triển thành các cành mới khi cây chè được đốn trẻ lại. Trong trường hợp đốn trẻ lại, cành chè như mọc từ dưới đất lên, có sức sinh trưởng mạnh (do có tuổi phát dục giai đoạn non). - Mầm sinh thực: Mầm sinh thực là mầm từ đó phát triển thành hoa, quả chè. Mầm sinh thực nằm ở nách lá chè. Bình thường ở mỗi nách lá có hai mầm sinh thực nhưng cũng có trường hợp nhiều hơn, tạo thành chùm nụ hoa ở nách lá. Mầm sinh thực và mầm dinh dưỡng cùng nằm ở nách lá chè. Mầm sinh thực ở hai bên, mầm dinh dưỡng ở giữa vì thế quá trình sinh trưởng của hai loại mầm này thường mâu thuẫn nhau. Khi mầm dinh dưỡng phát triển mạnh thì mầm sinh thực phát triển yếu đi và ngược lại. Đối với chè thu hoạch búp người ta thường áp dụng các biện pháp 127 kỹ thuật nhằm hạn chế sự phát triển của các mầm sinh thực. Trong khi tiến hành giâm cành chè, người ta tiến hành loại bỏ hai nụ chè ở nách lá chè của hom chè giâm tạo điều kiện cho mầm dinh dưỡng phát triển thành cây chè mới. V. BÚP CHÈ. Búp chè là ngọn non của cành chè được hình thành từ các mầm dinh dưỡng. Búp chè trong quá trình sinh trưởng chịu sự chi phối của nhiều yếu tố ngoại cảnh và nội tại. Kích thước búp chè thay đổi tuỳ theo giống, chế độ bón phân, các biện pháp kỹ thuật canh tác và điều kiện tự nhiên (đất đai, khí hậu), được chia làm 2 loại búp bình thường và búp mù. - Búp bình thường: Là búp gồm 1 tôm và 2 hay 3 lá thật non. Búp bình thường có khối lượng biến động từ 0,8 - 1,2 gam đối với chè Shan và từ 0,5 - 0,6 gam đối chè Trung Du. Búp chè càng non phẩm chất chè khô càng tốt. - Hình 10.2: Búp chè Hình 10. 3: Mầm chè cắt dọc - Búp mù xòe: Là búp phát triển không bình thường, không có tôm mà chỉ có 2 - 3 lá non. Khối lượng búp mù xòe chỉ bằng 1/2 búp bình thường, tỷ lệ búp mù xòe càng cao thì chất lượng chè khô càng kém. Có nhiều nguyên nhân làm cho búp mù xòe: Do đặc tính sinh vật học cây chè, do thời tiết không thích hợp (nắng, hạn, rét), do đất đai (đất xấu), do canh tác không hợp lý vv. VI. LÁ CHÈ Lá chè mọc cách trên cành chè, mỗi đốt có 1 lá, lá chè thường thay đổi về hình dạng, màu sắc, kích thước tùy theo giống, điều kiện tự nhiên và điều kiện canh tác. Lá chè là loại lá đơn, nguyên, có hệ gân lá rất rõ. Nhưng gân chính của lá chè không mọc ra tận mép lá, mà nối với nhau thành mạng, rìa lá có hình dạng răng cưa. 128 Đầu lá, màu sắc lá, số đôi gân chính, hình dạng lá là các chỉ tiêu để phân loại giống. Những giống chè có mặt lá ghồ ghề, mỏng, màu xanh sáng thường có khả năng cho năng suất cao. Trên cành chè có các loại lá sau: - Lá vảy ốc: Lá vẩy ốc là những lá hình vảy rất nhỏ, có màu nâu cứng. Lá vảy ốc là bộ phận bảo vệ điểm sinh trưởng của mầm chè khi ở trạng thái ngủ nghỉ. Số lượng lá vảy ốc thường là 3 - 4 cái trên 1 điểm sinh trưởng ở vụ đông và 1- 2 cái ở vụ hè. - Lá cá: Lá cá là lá thứ nhất nhưng phát triển không hoàn toàn, thường dị hình hay có dạng hơi tròn, không có hoặc có rất ít răng cưa ở mép lá. Về cấu tạo giả i phẩu, lá cá có lớp mô dậu và mô khuyết ít hơn lá thật, số diệp lục ít hơn, hàm lượng tanin ít hơn từ 1- 2%. - Lá thật: Lá thật là lá phát triển bình thường gồm cả đầu lá, gân lá và răng cưa, thường là lá thứ 2, thứ 3 trở đi. Cấu tạo giải phẫu của lá thật gồm có: Lớp biểu bì: Gồm những tế bào nhỏ, dày, cứng xếp thành lớp có tác dụng bảo vệ . Lớp mô dậu: Gồm từ 1- 3 lớp tế bào sắp xếp đều nhau, chứa nhiều diệp lục. Lớp tế bào mô khuyết: Gồm các tế bào sắp xếp không đều nhau, ở trong đó có nhiều tế bào đá và các tinh thể oxalat canxi. Lá chè có tỷ lệ giữa mô dậu và mô khuyết càng lớn thì cây chè có khả năng chống chịu càng tốt với điều kiện ngoại cảnh. Lá chè mọc trên cành chè theo các thế lá khác nhau: thế lá rủ, thế lá ngang, thế lá xiên và thế lá úp. Thế lá ngang và thế lá rủ là đặc trưng của giống chè năng suất cao. Lá chè có tuổi thọ trung bình là 1 năm. VII. HOA, QUẢ Cây chè 2, 3 tuổi đã có thể ra hoa, kết quả lần đầu, hoa chè mọc ra từ mầm sinh thực ở nách lá chè. Hoa chè là hoa lưỡng tính, trong hoa có 5 - 9 cánh màu trắng, có khi phớt hồng. Bộ nhị đực từ 100 - 400 cái, thường chỉ 200 - 300 cái. Chỉ nhị ở phía gốc dính với nhau từ 3 - 5 cái. Bao phấn gồm 2 ngăn gồm 4 túi phấn. Hạt phấn hình tam giác, khi chín có màu vàng hoặc vàng kim. Bầu nhụy có 3 - 4 ô trong đó chứa 3 - 4 noãn, phía ngoài có lông tơ, núm nhụy chẻ 3. Ở gốc bầu nhụy có tuyến mật làm thành một vòng tròn gọi là đĩa. Khi hoa nở tiết ra mật ngọt và mùi thơm để dẫn dụ côn trùng. Quả chè thuộc loại quả nang có từ 1- 4 hạt. Quả chè có dạng hình tròn, tam giác, vuông tùy theo số hạt. Khi còn non quả chè có màu xanh, khi chín chuyển sang màu xanh đậm hoặc nâu. Khi vỏ chín, vỏ quả nứt ra. Hạt chè có vỏ sành bên ngoài màu nâu cứng. Kích thước hạt chè to, nhỏ phụ 129 thuộc vào giống và kỹ thuật chăm sóc. Hạt chè có khối lượng từ 0,6 - 2 gam, thường là từ 1- 1,6 gam. Vỏ hạt chè gồm 6 - 7 lớp tế bào đá tạo thành lớp vỏ cứng, phía trong là lớp vỏ lụa mỏng, có màu nâu, có nhiều gân, có tác dụng vận chuyển nước và dinh dưỡng. Nhân chè có 2 lá mầm và phôi (mầm) chè. Lá mầm chiếm 3/4 khối lượng hạt chè, là nơi dự trữ dinh dưỡng gồm 10% protein, 32% lip it, 31% gluxit. Dưới tác dụng của ánh sáng mầm hình thành diệp lục. Hạt chè có hiện tượng đa phôi. Bài 11. ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ YÊU CẦY SINH THÁI CỦA CÂY CHÈ. I. ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN Chè là cây lâu năm có 2 chu kỳ phát triển: Chu kỳ phát triển lớn và chu kỳ phát triển nhỏ. - Chu kỳ phát triển lớn: Chu kỳ phát triển lớn hay còn gọi là chu kỳ phát dục cá thể của cây chè bao gồm cả đời sống của cây chè, kể từ khi tế bào trứng được thụ tinh bắt đầu phân chia (đối với chè hạt) hoặc từ khi phôi mầm bắt đầu phân hóa đến khi hình thành một cây mới (nhân giống vô tính) cho đến khi cây già cỗi và chết. Cây chè là cây lâu năm có chu kỳ sinh trưởng rất dài và có thể đạt tới 100 năm hoặc lâu hơn. Chè là cây có khả năng ra hoa kết quả nhiều lần trong chu kỳ sống của mình. Theo một số tác giả của Trung Quốc thì chu kỳ lớn của chè được chia làm 5 giai đoạn: + Giai đoạn phôi thai: Giai đoạn phôi hạt được tính từ khi tế bào trứng được thụ tinh bắt đầu phân chia, hình thành hạt, đến khi hạt chín (gia i đoạn này kéo dài khoảng 15 tháng) hoặc từ khi phôi mầm bắt đầu phân hóa đến khi hình thành một cây mới đối với nhân giống vô tính (gia i đoạn này kéo dài 60 - 80 ngày). Đây là giai đoạn đầu tiên của cây chè chủ yếu nằm ở vườn ở chè giống lấy hạt hoặc chè cành. + Giai đoạn cây con: Giai đoạn cây con được tính từ khi hạt chè hoặc cành chè bắt đầu nẩy mầm cho đến khi cây chè ra hoa kết quả lần đầu. Giai đoạn này kéo dài từ 1 - 2 năm (chè hạt), 3-6 tháng (cành giâm). Ở Việt Nam cây chè gieo hạt 1 tuổi đã có khả năng ra hoa kết quả lần đầu. Ở giai đoạn cây con, sinh trưởng dinh dưỡng phát triển mạnh, tán cây, bộ rễ chủ yếu phát triển theo chiều cao, chiều sâu hơn chiều ngang gọi là ưu thế sinh trưởng hai đầu. Giai đoạn này cần chú ý chăm sóc tốt để cây sinh trưởng khoẻ. + Giai đoạn cây non: Giai đoạn cây non được tính từ khi cây chè ra hoa kết quả lần đầu tiên đến khi cây chè định hình (có bộ khung tán ổn định). 130 Thời gian này thường kéo dài từ 2 - 3 năm. Trong điều kiện Việt Nam giai đoạn này từ năm thứ 2 đến năm thứ 4. Đặc điểm của gia i đoạn này là tuy cây chè đã có hoa, quả nhưng sinh trưởng dinh dưỡng vẫn chiếm ưu thế, cùng với sự vươn cao của thân và sự đâm sâu của rễ thì các cành bên, rễ bên cũng bắt đầu phát triển (tuy nhiên ưu thế đỉnh vẫn còn). Cần thực hiện tốt các biện pháp kỹ thuật chăm sóc chè non, trồng giặm, làm cỏ, bón phân, bảo vệ thực vật (thâm canh ngay từ đầu). Tiến hành đốn tạo hình nhằm hạn chế sinh trưởng đỉnh, kích thích mầm nách và cành ngang phát triển, tạo cho cây chè có bộ khung tán to, khỏe, vững chắc, hái tạo tán là chủ yếu, không tận thu làm kiệt sức. + Giai đoạn chè lớn: Giai đoạn chè lớn được tính từ khi cây chè có bộ khung tán ổn định, bước vào giai đoạn kinh doanh, thu hoạch búp đến khi cây chè có biểu hiện thay tán mới, phía gốc mọc lên những cành vượt thay thế lớp cũ đã già cỗi. Giai đoạn này thường kéo dài thường 20 - 30 năm hoặc lâu hơn tùy theo giống, đất đai, khí hậu, chế độ quản lý, chăm sóc và khai thác. Giai đoạn chè lớn là giai đoạn dài nhất và là giai đoạn kinh doanh sản xuất. Trong giai đoạn này hai quá trình sinh trưởng dinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực diễn ra song song. Ở giai đoạn này các biểu hiện về bản chất của giống thể hiện rõ rệt nhất. + Giai đoạn già cỗi: Giai đoạn già cỗi bắt đầu được tính từ khi nương chè có biểu hiện thay tán đến khi cây chè già và chết. Ở giai đoạn này cây suy yếu dần, ra hoa, kết quả nhiều, cành tăm hương nhiều, các mầm chè mọc lên nhanh chóng bị mù xòe, lá chè nhỏ, tuổi thọ lá giảm, tán mỏng, cành chè có nhiều mấu, dưới gốc xuất hiện nhiều cành vượt. Giai đoạn này cần tiến hành đốn đau, đốn trẻ lại nhằm tạo tán mới, bón phân, chăm sóc tốt nhằm kéo dài thời gian thu hoạch búp. - Chu kỳ phát triển nhỏ: Chu kỳ phát triển nhỏ hay còn gọi là chu kỳ phát triển hàng năm được tính từ khi mầm chè bắt đầu phân hóa sau đốn cho đến khi mầm chè ngừng sinh trưởng vào thời kỳ cuối năm. Ở Việt Nam thời kỳ này thường kéo dài 1 năm, từ tháng 1 đến tháng 12 hàng năm. Chu kỳ phát triển hàng năm của cây chè bao gồm 2 quá trình phát triển song song: sinh trưởng dinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực. Trong mùa xuân, mùa hè, trên cây chè quá trình sinh trưởng dinh dưỡng chiếm ưu thế. Mùa Thu và mùa Đông sinh trưởng sinh thực chiếm ưu thế. Quá trình sinh trưởng dinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực của cây chè có ảnh hưởng qua lạ i với nhau và phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên (khí hậu, đất đai...), giống và chế độ canh tác. + Quá trình sinh trưởng dinh dưỡng: Quá trình sinh trưởng dinh dưỡng của cây chè bao gồm sinh trưởng búp, sinh trưởng cành và sinh trưởng rễ. 131 * Sinh trưởng búp chè: Búp chè hoạt động sinh trưởng theo một quy luật nhất định và hình thành nên các đợt sinh trưởng theo thứ tự thời gian. Thời gian hình thành 1 đợt sinh trưởng phụ thuộc vào giống, điều kiện khí hậu và chế độ canh tác. Trong điều kiện tự nhiên (không đốn, không hái búp) một năm cây chè có từ 3 – 5 đợt sinh trưởng. Trong điều kiện có đốn và hái búp một năm cây chè có từ 6 – 8 đợt sinh trưởng. Số đợt sinh trưởng càng nhiều thì số lứa hái càng nhiều và sản lượng nương chè càng cao. Bảng 11.1. Thời gian hình thành các đợt sinh trưởng trong năm Số ngày hình thành một đợt s inh trưởng (ngày) Đợt sinh trưởng Chè 4 tuổi Chè 7 tuổi Chè 40 tuổi 1 42 40 41 2 31 32 36 3 29 32 35 4 30 31 31 5 32 36 36 6 36 34 34 7 42 36,5 41 (Nguyễn Phong Thái, 1976) Sơ đồ tóm tắt diễn biến một đợt s inh trưởng Giai đoạn ẩn Giai đoạn hiện Thời kỳ hoạt động Thời kỳ tiềm sinh Mầm chè được phát động Lá vảy ốc mở Mầm chè Được phát động Lá thật xuất hiện Cành chè ngừng sinh trưởng (hoặc hái búp) 132 Đợt sinh trưởng * Sinh trưởng cành chè: Khi còn nhỏ cây chè có đặc tính phân cành một trục, theo kiểu phân đơn, có thân chính rõ rệt, tán cây không to (đặc biệt là chè trồng bằng hạt). Cây chè lớn tuổi và chè già có đặc tính phân cành hợp trục và thân chính không rõ. Sau khi hái búp hay đốn thì cành chè phân nhánh theo kiểu trục hợp nhiều giả. Dựa vào đặc tính này người ta sử dụng biện pháp đốn, hái để tạo tán cho cây chè (đặc biệt là thời kỳ kiến thiết cơ bản), làm tăng mật độ cành chè, mật độ búp chè (thời kỳ kinh doanh sản xuất) tạo điều kiện cho cây chè có khả năng cho năng suất cao, chất lượng nguyên liệu tốt. * Sinh trưởng của bộ rễ chè: Khi hạt chè nảy mầm, mầm rễ phát triển thành rễ trụ, sau 6 - 7 tháng rễ trụ phát triển chậm lại và các rễ nhánh (rễ bên) mới phát triển mạnh lên. Đối với chè cành thì rễ nhánh là chủ yếu. Quá trình phát triển của bộ rễ chè lúc nhanh, lúc chậm xen kẽ với sự phát triển của bộ phận trên mặt đất lúc chậm, lúc nhanh. Theo các nhà khoa học Trung Quốc thì về mùa Đông cành lá sinh trưởng chậm lại còn bộ rễ phát triển mạnh lên, đến tháng 5 búp chè sinh trưởng mạnh thì bộ rễ phát triển chậm lại. Trong một năm rễ chè có từ 3 - 4 đợt sinh trưởng, xen kẽ với các đợt sinh trưởng búp. Các biện pháp kỹ thuật: Làm đất, bón phân, điều tiết chế độ nước, dinh dưỡng và khí hậu sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của bộ rễ chè. - Sinh trưởng sinh thực của cây chè: Quá trình sinh trưởng sinh thực của cây chè bao gồm : Sự hình thành chồi hoa, nở hoa, thụ phấn và kết quả. Chè là cây thân gỗ nở hoa nhiều lần. Ở Liên Xô, Trung Quốc, cây chè 3 - 4 tuổi ra hoa, kết quả lần đầu. Ở Việt Nam, thời kỳ này ngắn hơn: Cây chè 1- 3 tuổi đã nở hoa, kết quả lần đầu. Từ khi mầm hoa bắt đầu phân hóa đến khi quả chín là 15 tháng. Ở Việt Nam mầm hoa bắt đầu từ tháng 6, 7; quả chín vào tháng 10, tháng 11. Như vậy trên cây chè luôn luôn tồn tại hai quá trình sinh trưởng dinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực. Đây là một đặc điểm riêng của cây chè. + Quá trình hình thành nụ hoa: Cây chè không có cành chuyên ra hoa, quả. Chồi lá và chồi hoa cùng mọc ở nách lá. Mỗi nách lá thường có một chồi lá (mầm dinh dưỡng) và từ 1 - 4 chồi hoa (mầm sinh thực). Trong điều kiện Việt Nam sự hình thành nụ thường bắt đầu từ tháng 6. Đầu tiên là hình thành đài hoa, tràng hoa, sau đó là hình thành các nhị đực, nhụy cái. + Quá trình nở hoa: Hoa chè thường bắt đầu nở từ tháng 10 - 12 (nở rộ vào tháng 11). Quá trình nở hoa như sau: 133 Nụ bộp Bắt đầu nở hoa Nở hoàn toàn Nhị đực rụng Cánh hoa rụng. (Quá trình từ nụ bộp đến nở hoa hoàn toàn thường kéo dài khoảng 1 tháng) Hoa chè nở trong điều kiện nhiệt độ từ 16–25OC, nhiệt độ thích hợp nhất là 18 – 20OC, độ ẩm tương đối của không khí 60 - 70% và trong điều kiện ánh sáng ngày ngắn. Hoa chè thường nở từ 6-10 giờ sáng. Trong điều kiện nhiệt độ thấp quá trình nở hoa chậm lại, ở - 2OC hoa chè không nở, hoa chè sẽ bị
Tài liệu liên quan