Dạo chơi cùng bá tước Tolstoi ở Moskva

ISABEL HAPGOOD (1850-1928) là dịch giả, nhà phê bình và nhà báo Mỹ. Từ nhỏ bà đã say mê ngữ văn học, đã thành thạo các ngôn ngữ chủ yếu của lục địa Âu châu cũng như tiếng Nga và tiếng Slavơ cổ. Với sức làm việc phi thường, chỉ riêng trong một năm 1886 bà đã dịch và cho ra mắt độc giả tuyển tập tráng ca Những ca khúc sử thi của Nga vốn có tiếng vang lớn ở Hợpchủng quốc Hoa Kỳ và ở Anh quốc, những tác phẩm chính của Gogol và bộ ba tự truyện của L. Tolstoi: Thời thơ ấu, Thời niên thiếu, Thời thanh xuân. Bộ sách này bà gửi đến Jasnaja Poljana (1) với lời đề tặng: “Gửi bá tước I.N. Tolstoi với tấm lòng kính mến vàlời chào thắm thiết của nữ dịch giả. Boston 24/8/1886”. Vào những năm 1888-1890 bà đã dịch Những truyện ngắn Sevastopol, bản luận văn Bàn về cuộc đời và những tác phẩm nghệ thuật và chính luận khác của Tolstoi. Những bản dịch của Hapgood có độ chính xác cao và tính biểu cảm của ngôn ngữ (bà cũng dịch cả văn xuôi của Pushkin, Turgenev, Leskov, Gorki) đồng thời bà nổi tiếng như một dịch giả giỏi nhất về tiếng Nga.

pdf8 trang | Chia sẻ: tranhoai21 | Ngày: 29/02/2016 | Lượt xem: 407 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Dạo chơi cùng bá tước Tolstoi ở Moskva, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Dạo chơi cùng bá tước Tolstoi ở Moskva ISABEL HAPGOOD (1850-1928) là dịch giả, nhà phê bình và nhà báo Mỹ. Từ nhỏ bà đã say mê ngữ văn học, đã thành thạo các ngôn ngữ chủ yếu của lục địa Âu châu cũng như tiếng Nga và tiếng Slavơ cổ. Với sức làm việc phi thường, chỉ riêng trong một năm 1886 bà đã dịch và cho ra mắt độc giả tuyển tập tráng ca Những ca khúc sử thi của Nga vốn có tiếng vang lớn ở Hợp chủng quốc Hoa Kỳ và ở Anh quốc, những tác phẩm chính của Gogol và bộ ba tự truyện của L. Tolstoi: Thời thơ ấu, Thời niên thiếu, Thời thanh xuân. Bộ sách này bà gửi đến Jasnaja Poljana(1) với lời đề tặng: “Gửi bá tước I.N. Tolstoi với tấm lòng kính mến và lời chào thắm thiết của nữ dịch giả. Boston 24/8/1886”. Vào những năm 1888-1890 bà đã dịch Những truyện ngắn Sevastopol, bản luận văn Bàn về cuộc đời và những tác phẩm nghệ thuật và chính luận khác của Tolstoi. Những bản dịch của Hapgood có độ chính xác cao và tính biểu cảm của ngôn ngữ (bà cũng dịch cả văn xuôi của Pushkin, Turgenev, Leskov, Gorki) đồng thời bà nổi tiếng như một dịch giả giỏi nhất về tiếng Nga. Mùa xuân năm 1887, Hapgood cùng với mẹ thực hiện một chuyến viễn du dài ngày đến nước Nga và đã lưu lại đây hai năm. Niềm mơ ước thiêng liêng của bà là được gặp Tolstoi. Ở Peterburg bà đã nhờ V. Stasov(2) giới thiệu mình với tác giả yêu quí. Ngày 2/12/1887 Stasov viết thư cho Tolstoi: “Thưa Lev Nikolaevich, bà Hapgood nhờ tôi nói với Ngài vài lời có lợi cho bà ấy. Vậy tôi có thể nói được điều gì đây? Chỉ nói rất ngắn thôi, nhưng phải là những lời tuyệt vời nhất có lợi cho bà ấy. Người đàn bà Mỹ này do Rolston(3) từ London giới thiệu với tôi. Chính tôi nhận thấy rằng bà ta là một phụ nữ rất tuyệt vời, một nữ trí thức ở trình độ cao nhất và rất khả ái. Qua các sách báo tiếng Anh tôi cũng biết rằng bà ta được tôn vinh là nữ dịch giả ưu tú chuyên giới thiệu các nhà văn Nga đương thời sang tiếng Anh. Song điều tuyệt vời nhất là bà ta đã dịch các tác phẩm của Ngài và Gogol (những bản dịch của bà có không ít trong thư viện công cộng ở ta). Tôi chẳng cần phải nói thêm rằng bà ta rất ngưỡng mộ Lev Tolstoi. Xin thề với Ngài như vậy. V. Stasov”(4). Lần đầu tiên Hapgood đến thăm Tolstoi vào ngày 25/11/1888 tại Moskva. Trong nhật ký của Tolstoi có nhắc tới thêm hai cuộc gặp nữa với nữ dịch giả - vào ngày 17 và 18/12 năm đó. Theo lời mời của nữ bá tước S.A. Tolslstaja, Hapgood cùng với mẹ đã ở chơi trang trại Jasnaija Poljama trong mùa hè năm 1889. Hapgood đã đến thăm Tolstoi ngay sau khi trong thế giới quan của nhà văn đã diễn ra bước ngoặt, khi ông gọi nghệ thuật là “trò nghịch ngợm”, còn những tác phẩm văn học của mình, theo lời xác nhận của người chép tiểu sử của nhà văn, thì được coi là “kết quả của sự hao phí sức lực một cách vô ích”. “Tại sao Ngài không tiếp tục viết nữa? - Hapgood hỏi Tolstoi trong buổi tiếp xúc đầu tiên của mình với nhà văn. - Một việc làm vô bổ - Tolstoi đáp. - Tại sao? Có quá nhiều sách, và hiện nay cho dù sách có được viết ra đến mấy chăng nữa thì thế giới vẫn cứ như vậy. Nếu như đức Chúa trời có đến và đưa bộ kinh Phúc âm đi in thì các quý bà chỉ cố nằn nì xin được chữ ký của Người, thế thôi”(5). Trong bài Tolstoi trong đời sống nói về cái hại của thuốc lá, Hapgood còn dẫn thêm một câu nói của nhà văn rất tiêu biểu cho thời kỳ đó: “Tất cả những gì mà tôi đã viết ra cho đến nay - Toltsoi nói - là được sáng tác dưới ảnh hưởng tai hại của thuốc lá. Bởi vậy tôi đã bỏ hút. Tất cả những gì của tôi được in ra từ thời gian này - là kết quả của sự hào hứng thuần khiết về mặt trí tuệ và tinh thần”. Đối với lời thú nhận nghiêm túc này của Tolstoi, Hapgood đã trả lời bằng một câu đùa: “Thưa Lev Nikolaevich, rất, rất mong ngài hãy lập tức hút lại”(6). Sau khi từ nước Nga trở về, Isabel Hapgood trở nên nổi tiếng ở Mỹ như một người bạn gần gũi và người môi giới của Tolstoi. Nhiều người khác nhau đã nhờ bà chuyển tới nhà văn Nga mối thiện cảm và lòng biết ơn, còn các Tổng biên tập những tờ tạp chí thì muốn được Tolstoi gửi tài liệu để đăng. Tổng biên tập tờ tạp chí “The Independent” thông qua Hapgood muốn nhờ Tolstoi viết cho một bài về George Washington. Năm 1892, Isabel Hapgood đã hỗ trợ nhiều cho Tolstoi trong thời gian nạn đói hoành hành ở Nga do mất mùa. Bà đã tổ chức tại New-York quỹ Tolstoi nhằm mục đích quyên tiền để giúp những người nông dân đang bị đói ở Nga, hơn nữa, tất cả số tiền lạc quyên đã được gửi trực tiếp cho bá tước Lev Tolstoi. ... Năm 1891 Hapgood cho công bố thiên hồi ký Dạo chơi cùng bá tước Tolstoi ở Moskva trên tờ tạp chí “The Independent”. Tác phẩm này cùng với những hành trình du ký khác sau đó với tư cách là một chương được đưa vào cuốn Những chuyến sang Nga xuất bản ở New-York năm 1895. Ở đây, nữ ký giả kể về những cuộc gặp gỡ và những cuộc trò chuyện với Tolstoi vào ngày 17 và 18 tháng 12 năm 1888. Việc Hapgood không chấp nhận nhiều quan điểm của Tolstoi vào thời kỳ sau này được thể hiện ở sự chú ý đặc biệt của vị khách Mỹ tới “tính thiếu nhất quán” của nhà văn Nga. Đồng thời Hapgood cũng nói đến tính chân thành sâu sắc trong những quan điểm của Tolstoi, đến lối sống cực kỳ giản dị của nhà đại văn hào và bằng cách đó đã bác bỏ những tin đồn đại sai trái về ông từng lưu hành ở Mỹ. * - Bà đã bao giờ vào nhà thờ cổ giáo chưa? - Có lần bá tước Tolstoi hỏi tôi vào một buổi tối. Chúng tôi ngồi sau bàn ăn tại nhà bá tước Tolstoi ở Moskva. Tôi vừa mới ăn món nấm ngâm dấm được hái từ Jasnaija Poljana, một món ăn ngon tuyệt mà tôi được thưởng thức ở cái xứ sở này là nơi người ta ăn rất nhiều nấm. Món nấm và câu hỏi được nêu lên là cái cớ cho cuộc chuyện trò. Bọn trẻ con đã đi ngủ hết. Những người lớn trong gia đình, một vài người bà con và chúng tôi ngồi đàm đạo sôi nổi, nói một cách chính xác hơn, đó là tôi nói chuyện với bá tước, còn những người khác thì thỉnh thoảng mới chen vào câu chuyện. Chúng tôi nói về những người ăn mày ở Moskva. - Bây giờ thì tôi đã hiểu họ và đã hiểu những điều mà Ngài đã viết về họ - tôi nói. - Tôi không có nhiều tiền, và trái tim tôi cũng không phải bằng sắt đá. Nếu như tôi từ chối lời cầu xin của họ thì tôi cảm thấy rất áy náy. Còn nếu tôi cho họ năm côpếch thì tôi cảm thấy bất tiện. Hình như số tiền đó là quá ít để giúp đỡ họ. Mấy đồng tiền ấy chỉ đủ cho họ mua rượu vodka thôi. Còn nếu tôi cho mười côpếch thì họ cầm tiền trong bàn tay chìa ra, mắt nhìn số tiền và nhìn tôi với vẻ hoài nghi. Lúc ấy tôi đâm bực mình và trong vòng mấy ngày liền, tôi không cho ai một xu nào cả. Tôi cảm thấy rằng của bố thí chẳng mang lại điều gì tốt lành hết. - Không phải đâu - bá tước Tolstoi nghiêm chỉnh nói - có mang lại đấy. Cho tiền bất cứ ai cầu xin không có nghĩa làm việc thiện, đó chỉ là tỏ thái độ lịch sự mà thôi. Nếu như người ăn mày xin tôi năm côpếch, năm rúp hay năm nghìn rúp, tôi phải cho họ theo phép lịch sự chứ không hơn, tất nhiên nếu tôi có tiền. Có lẽ của bố thí hầu như bao giờ cũng dùng để mua rượu. - Nhưng biết làm sao được? Khi có người xin tiền mua bánh mì, tôi đôi khi nghĩ rằng tốt nhất là nên mua bánh mì cho anh ta và theo dõi để anh ta ăn hết cái bánh mì đó. Nhưng thật trớ trêu là người ăn mày không bao giờ xin tiền ở gần cửa hàng bánh mì. Tôi cho rằng tốt nhất đối với tôi là nên cất công tìm ra được một người nào đó trong đám ăn mày và cho anh ta bánh mì. - Không, bởi lẽ bà vẫn phải mua bánh mì. Anh ta không đáng làm bà phải mất công như vậy. - Nhưng giả sử tôi nướng bánh mì thì sao? Tôi biết làm việc đó giỏi lắm, có điều không phải ở đây vì không có điều kiện. Bởi vậy, thay vì bánh mì, tôi cho họ tiền. - Nếu như bà nướng được bánh mì thì bà vẫn cứ không trồng được lúa mì, không cày được ruộng, không gieo được hạt, không gặt, không đập, không quạt được lúa. Đó không phải là công sức của bà. - Nếu thế thì tôi vừa làm một điều kinh khủng. Tôi đã khâu mấy cái mũ trùm cho những người bị đi đày đến Sibiri hiện đang ở trại tạm giam. Thật ra tốt nhất là cứ để những cái đầu bị cạo trọc của họ bị lạnh cóng. - Nhưng tại sao? Bà đã tốn công sức và thời gian của mình. Nhẽ ra bà có thể làm một việc gì khác, và điều ấy sẽ làm bà thích thú hơn. - Tất nhiên rồi. Nếu cứ truy đến cùng thì người ta có thể bảo tôi; những chiếc mũ trùm được làm ra từ những mảnh len đầu thừa đuôi thẹo mà tôi không cần đến và chỉ tổ chiếm chỗ trong va li của tôi mà thôi. Tôi từ chối tự tay trao những chiếc mũ đó. Chúng được bó lại cùng với nhiều chiếc mũ trùm khác do một người nào đó cũng làm ra từ những mảnh len vụn và cũng xuất phát bởi những ý đồ nhỏ nhoi như vậy. Hơn nữa, tôi không cày đất, không trồng cỏ, không nuôi cừu, không cắt lông chúng, không kéo sợi len và không làm tất cả những việc khác. Và tôi cũng không vót kim đan để đan. Bá tước quay trở lại với lời khẳng định trước đây của tôi cho rằng lao động cá nhân là sự đền bù chính đáng duy nhất cho người đồng loại, rằng lao động cần phải toàn tâm toàn sức một khi thứ lao động ấy cần cho những người khác. - Song không phải bao giờ người ta cũng làm đúng điều đó mà không suy tính. Bao giờ cũng có nhiều người cảm thấy vui sướng khi công việc được thực hiện vì bản thân họ. Đó là bản tính của con người. - Nhưng điều đó chả liên quan gì đến chúng ta cả - Ông đáp. - Nếu có người cầu xin tôi xây dựng cho anh ta một ngôi nhà hoặc cày giúp anh ta một thửa ruộng thì tôi có trách nhiệm thực hiện yêu cầu ấy cũng như tôi có bổn phận cho người ăn mày tất cả những thứ mà anh ta cầu xin, nếu như tôi có những thứ ấy. Và tôi chả cần biết tại sao anh ta lại cầu xin tôi về điều này. - Nhưng hãy giả định rằng người ấy lười biếng hoặc muốn cho những người khác làm hộ công việc của mình còn trong lúc đó thì anh ta ăn không ngồi rồi, du hí hoặc kiếm tiền chỉ cốt để uống rượu hoặc để làm một trò gì đại loại như thế? Tôi không phản đối việc giúp đỡ những người yếu đuối hoặc những người không trốn tránh lao động, song cần có một sự phân biệt. Tuy nhiên, bá tước Tolstoi vẫn khăng khăng một mực cho rằng một người mong muốn thực hiện bổn phận của mình bằng cách giúp đỡ những người đồng loại thì không cần phải quan tâm đến lý do của lời yêu cầu. Bà vợ chín chắn của ông đã đến hỗ trợ tôi và bảo rằng bà thoạt tiên bao giờ cũng tìm hiểu rõ ngọn ngành sau đó mới giúp đỡ theo cái lý do mà tôi đã nêu lên. Bởi vậy tôi bèn chuyển sự tấn công sang một hướng khác. - Liệu mỗi người có nên tự mình làm cho bản thân càng nhiều càng tốt chứ không nên nhờ vả những người khác nếu như không thật cần thiết? - Tất nhiên rồi. - Rất hay. Tôi khỏe mạnh, hoàn toàn có khả năng tự phục vụ mình. Nhưng tôi rất không thích đi giày cao su và mặc áo choàng lông nặng nề. Và tôi không bao giờ sẽ làm điều đó nếu như không phải làm. Tôi không có quyền nhờ ngài đi giày cao su cho tôi nếu như không có gia nhân ở bên cạnh. Nhưng cứ thử giả định rằng giá như tôi nhờ thì sao? - Thì tôi sẽ vui lòng làm việc đó - bá tước đáp, khuôn mặt nghiêm nghị của ông nở ra một nụ cười - Và tôi sẽ chữa giày hầu bà, nếu bà muốn. Tôi cám ơn bá tước song lấy làm tiếc rằng giày tôi không cần phải chữa, và tiếp tục phát triển dòng suy nghĩ của mình. - Nhưng bà nên từ chối tôi. Bổn phận của bà là dạy tôi phục vụ cho bản thân mình. Bà không có quyền ủng hộ những thói xấu của tôi. Chúng tôi đã tranh luận như vậy. Ông lên tiếng khẳng định rằng cần phải noi theo tấm gương của Đức Chúa Trời vốn từng chữa khỏi bệnh và giúp đỡ tất cả mọi người mà không cần hỏi về những lý do hoặc về công xá. Tôi nói rằng trong khi Đức Chúa “biết rõ bụng dạ của con người” thì con người không thể biết được bụng dạ người anh em của mình - chí ít không phải bao giờ cũng từ phút đầu gặp gỡ. Mặc dầu sau đó con người có thể hiểu rõ xem anh ta có bị sử dụng như công cụ trong tay kẻ khác hay không. Song bá tước vẫn một mực bảo vệ học thuyết “không chống lại cái ác”, còn tôi thì khẳng định rằng bản thân chữ “cái ác” đã chỉ rõ một cái gì đó mà cần phải chống lại bằng sự thuyết pháp lẫn hành động. Có lẽ bá tước Tolstoi chưa từng tiếp xúc với những đại diện nhất định của loài người, mà tôi, rất tiếc, là đã có dịp quan sát thấy. Sau đó bá tước với thiện chí vốn có của mình đã hỏi: - Bà đã bao giờ vào nhà thờ cổ giáo chưa? - Chưa. Người ta nói với tôi rằng ở Peterburg có một nhà thờ như vậy, nhưng tôi không được vào đó vì tôi đội mũ chứ không chít khăn và tôi không biết làm dấu một cách đúng đắn và không biết cúi chào. - Nếu bà muốn, tôi sẽ dẫn bà vào đó - Bá tước nói - Chúng ta sẽ là khách của linh mục. Ông ấy là bạn tôi. Rồi ông kể cho tôi nghe câu chuyện sau đây: Nhiều năm về trước, một đạo quân côdắc thuộc phái cổ giáo cùng với những cha đạo của họ đã vượt biên giới sang Thổ Nhĩ Kỳ vì các lý do tôn giáo... Ở thời trước, hàng nghìn người theo phái cổ giáo đã bị tiêu diệt. Ở thời nay, đội quân côdắc ấy đã ra nước ngoài sinh sống, thế thôi. Sau đó, khi cuộc chiến tranh Kryme(7) bắt đầu, đội quân côdắc xông trận chống lại những người đồng bào của mình và bị bắt làm tù binh, trong số đó có ba cha đạo của họ. Những người này bị buộc tội phản bội giáo hội và nhà nước và bị đày ải trong tu viện Suzdal. - Khi tôi đang tại ngũ, tôi có nghe nói về trường hợp này - Tolstoi kể - Sau đó tôi đã quên hẳn chuyện ấy cũng như tất cả những sự việc khác. Nhiều năm tháng đã trôi qua, một thương gia ở Tula đã kể cho tôi nghe câu chuyện đó, và tôi được biết rằng ba linh mục ấy vẫn bị giam giữ trong tu viện. Tôi đã xin cho họ được tha và chúng tôi kết bạn với nhau. Sau đó một người đã chết, còn một người khác thì đang sống ở đây, tại Moskva. Hiện nay ông ta đã già lắm rồi. Bây giờ chúng ta sẽ đến thăm ông ấy, song tôi cần phải biết rõ bao giờ thì buổi cầu kinh nhật tụng ban chiều sẽ bắt đầu. Bà sẽ được nhìn thấy nghi thức như nó từng diễn ra cách đây ba trăm năm. - Ông không được nói nửa lời và không được cười - một trong số những người có mặt nói - Họ sẽ nghĩ rằng ông chế nhạo họ và ông sẽ bị đuổi ra ngoài đấy. - Đâu có! - bá tước nói - mặc dầu im lặng vẫn là tốt hơn cả. - Tôi có một kinh nghiệm nhỏ - tôi nói - Chủ nhật trước tại nhà thờ Đức Chúa cứu thế, tôi bảo mẹ tôi đưa cho tôi giữ hộ chiếc áo choàng lông rất nặng của bà. Mẹ tôi mỉm cười nói: “Không sao, cám ơn con”. Một người nông dân nghe thấy tiếng nước ngoài, nhác thấy nụ cười và làm hai mẹ con tôi hoảng sợ thực sự bằng cái nhìn giận dữ của ông ta. Chúng tôi đã làm dịu cơn tức giận của người ấy bằng cách cúi chào thật thấp, khi đức cha xuất hiện với chiếc bình hương trong tay.
Tài liệu liên quan