Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á thái bình dương - Apec

KHÁI QUÁT CHUNG VỀ APEC Giữa thế kỷ XX, cuộc cách mạng Khoa học - Kĩ thuật bùng nổ và phát triển một cách nhanh chóng trên toàn cầu về chiều rộng lẫn chiều sâu theo hướng quốc tế hoá và khu vực hoá, mang sắc thái mới của công nghệ thông tin. Lúc này, trên thế giới bắt đầu xuất hiện sự điều chỉnh mới, nhằm thúc đẩy nhanh chóng năng suất lao động và sự tiến bộ xã hội. Song song với xu thế đó chính là sự kết thúc của chiến tranh lạnh, không còn sự đối đầu của giữa các cường cường quốc lớn, xu thế hoà dịu, hình thành nên thế giới đa cực và đa phương hóa các mối quan hệ. Cuộc cách mạng Khoa học- Kĩ thuật hiện đại đang thúc đấy nhanh quá trình toàn cầu hoá, xu hướng tăng trưởng hợp tác và nhất thể hoá kinh tế khu vực và thế giới ngày càng được thể hiện rõ. Các tổ chức liên chính phủ , các tổ chức phi chính phủ hình thành và đang hoạt động rộng rãi từ lĩnh chính trị đến lĩnh vực kinh tế , văn hóa - xã hội. Trong đó có nhiều hình thức đa dạng như: liên minh tiền tệ, thị trường chung, các khu mậu dịch tự do và các tổ chức, diễn đàn, liên kết kinh tế khu vực đặc trưng ( tự do hoá kinh tế, thương mại, đầu tư, thông tin .) đã tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi để đẩy nhanh quá trình khu vực hóa và toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới.

doc36 trang | Chia sẻ: tranhoai21 | Ngày: 25/02/2016 | Lượt xem: 1095 | Lượt tải: 3download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á thái bình dương - Apec, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
DIỄN ĐÀN HỢP TÁC KINH TẾ CHÂU Á THÁI BÌNH DƯƠNG - APEC KHÁI QUÁT CHUNG VỀ APEC Giữa thế kỷ XX, cuộc cách mạng Khoa học - Kĩ thuật bùng nổ và phát triển một cách nhanh chóng trên toàn cầu về chiều rộng lẫn chiều sâu theo hướng quốc tế hoá và khu vực hoá, mang sắc thái mới của công nghệ thông tin. Lúc này, trên thế giới bắt đầu xuất hiện sự điều chỉnh mới, nhằm thúc đẩy nhanh chóng năng suất lao động và sự tiến bộ xã hội. Song song với xu thế đó chính là sự kết thúc của chiến tranh lạnh, không còn sự đối đầu của giữa các cường cường quốc lớn, xu thế hoà dịu, hình thành nên thế giới đa cực và đa phương hóa các mối quan hệ. Cuộc cách mạng Khoa học- Kĩ thuật hiện đại đang thúc đấy nhanh quá trình toàn cầu hoá, xu hướng tăng trưởng hợp tác và nhất thể hoá kinh tế khu vực và thế giới ngày càng được thể hiện rõ. Các tổ chức liên chính phủ , các tổ chức phi chính phủ hình thành và đang hoạt động rộng rãi từ lĩnh chính trị đến lĩnh vực kinh tế , văn hóa - xã hội... Trong đó có nhiều hình thức đa dạng như: liên minh tiền tệ, thị trường chung, các khu mậu dịch tự do và các tổ chức, diễn đàn, liên kết kinh tế khu vực đặc trưng ( tự do hoá kinh tế, thương mại, đầu tư, thông tin.) đã tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi để đẩy nhanh quá trình khu vực hóa và toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới. Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á Thái Bình Dương là gì? Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á Thái Bình Dương( tiềng anh Asia- Pacific economic Cooperation, viết tắt là APEC) là diễn đàn quốc tế của quốc gia nằm trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương với mục tieu tăng cường mối quan hệ về kinh tế lẫn chính trị. APEC diễn đàn nhóm liên Chính phủ trên cơ sở cam kết ràng buộc, đối thoại cởi mở và tôn trọng bình đẳng trong các quan điểm của tất cả các thành viên tham gia. Không giống như WTO hoặc các cơ quan thương mại đa phương khác, APEC không có nghĩa vụ bắt buộc các thành viên tham gia hiệp ước của mình. Các quyết định trong APEC đều dựa trên sự đồng thuận và cam kết thực hiện trên cơ sở tự nguyện của tất cả các thành viên. Sứ mệnh: APEC là diễn đàn kinh tế hàng đầu khu vực Châu Á Thái Bình Dương và thế giới, mục tiêu chính của APEC lả hỗ trỡ tăng trưởng kinh tế bền vững và thịnh vượng ở khu vực Chấu Á Thái Bình Dương. Diễn đàn là nơi các nước cùng nhau đoàn kết xây dựng một cộng đồng Châu Á Thái Bình Dương năng động và hài hào trong tự do thương mại và đầu tư, xúc tiến và đẩy mạnh hội nhập khu vực kinh tế, khuyến khích hợp tác kinh tế kĩ thuật, tăng cường an ninh con người, và tạo điều kiện môi trường kinh doanh thuận lợi và bền vững. 1. Bối cảnh và sự ra đời của APEC Thành lập tháng 11/1989, Diễn đàn Hợp tác Kinh tế  châu Á – Thái Bình Dương (APEC) là một diễn đàn kinh tế mở, nhằm xúc tiến các biện pháp kinh tế, thúc đẩy thương mại và đầu tư giữa các nền kinh tế thành viên trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện trong khi thực sự mở cửa đối với tất cả các nước và khu vực khác. Hiện nay, APEC có 21 thành viên chiếm khoảng 52% diện tích lãnh thổ, 59% dân số, 70% nguồn tài nguyên thiên nhiên trên thế giới và đóng góp khoảng 55% GDP toàn cầu và gần 43 % thương mại thế giới. * Bối cảnh ra đời chung: - Kinh tế toàn cầu:  Sự gia tăng của quá trình toàn cầu hoá trên tất cả các lĩnh vực khiến các quốc gia trên thế giới ngày càng tăng tính phụ thuộc vào nhau. Trong khi đó, vòng đàm phán Uruguay trong khuôn khổ GATT có nguy cơ không đạt được kết quả như mong đợi, đã  thúc đẩy thêm quá trình khu vực hoá với sự hình thành các khối mậu dịch khu vực lớn trên thế giới như EU, NAFTA, AFTA... - Kinh tế khu vực:  Khu vực châu Á, đặc biệt là Đông Á là những nền kinh tế năng động trên thế giới vào những năm 1980 có tốc độ tăng trưởng trung bình là 9-10%/năm. Mặc dù vậy, chưa có hình thức hợp tác kinh tế thương mại có hiệu quả trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương để thúc đẩy sự phát triển kinh tế. - Chính trị:  Sự điều chỉnh chiến lược của các quốc gia lớn vào cuối những năm 80 khi chiến tranh lạnh chấm dứt, đặc biệt là sự hội tụ về lợi ích kinh tế cũng như chính trị giữa những nước lớn dẫn tới việc hình thành một cơ cấu kinh tế thương mại trong khu vực. - Các nước đang phát triển: (ASEAN) cũng muốn tăng cường tiếng nói trong khu vực để thúc đẩy phát triển kinh tế, nhưng không muốn làm lu mờ những cơ chế hợp tác chính trị sẵn có. 1.1. Sáng kiến của Ô-xtrây-lia về việc thành lập APEC Ngay từ những năm 1960, ý tưởng về liên kết kinh tế khu vực đã được một số học giả người Nhật Bản đưa ra. Năm 1965, hai học giả người Nhật Bản Kojima và Kurimoto đã đề nghị thành lập một "Khu vực mậu dịch tự do Thái Bình Dương" mà thành viên gồm năm nước công nghiệp phát triển, có thể mở cửa cho một số thành viên liên kết là các nước đang phát triển ở khu vực lòng chảo Thái Bình Dương. Sau đó, một số học giả khác như Tiến sĩ Saburo Okita (cựu Ngoại trưởng Nhật Bản) và Tiến sĩ John Crawford (Đại học Tổng hợp Quốc gia Ôt-xtrây-lia) đã sớm nhận thức được sự cần thiết phải xây dựng sự hợp tác có hiệu quả về kinh tế ở khu vực. Tư tưởng này đã thúc đẩy những nỗ lực hình thành Hội đồng Hợp tác Kinh tế Thái Bình Dương (PECC) năm 1980. Chính PECC sau này đã cùng với ASEAN đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành chế độ tư vấn kinh tế rộng rãi giữa các nền kinh tế trong khu vực cũng như thúc đẩy ý tưởng thành lập APEC. Vào cuối những năm 1980, một số quan chức chính phủ Nhật Bản, đặc biệt Bộ trưởng Bộ Thương mại và Công nghiệp (MITI) lúc đó là Hajime Tamura, đã gợi ý thành lập một diễn đàn hợp tác có tính chất kỹ thuật về các vấn đề kinh tế khu vực. Mỹ lúc đầu tỏ ra ít quan tâm đến gợi ý này vì đang tập trung thúc đẩy tiến triển của vòng đàm phán U-ru-goay của GATT và hình thành Khu vực Mậu dịch Tự do Bắc Mỹ (NAFTA), trong khi chính phủ Công Đảng của Thủ tướng Bob Hawke ở Ôt-xtrây-lia lúc đó đã nhận thức được tầm quan trọng thiết yếu của mối quan hệ kinh tế, thương mại với châu Á đối với Ôt-xtrây-lia nên đã kịp thời nắm bắt và thúc đẩy ý tưởng về một diễn đàn hợp tác kinh tế. Tháng 1 năm 1989, tại Xê-un, Hàn Quốc, Thủ tướng Bob Hawke đã nêu ý tưởng về việc thành lập một Diễn đàn tư vấn kinh tế cấp Bộ trưởng ở châu Á - Thái Bình Dương với mục đích phối hợp hoạt động của các chính phủ nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế ở khu vực và hỗ trợ hệ thống thương mại đa phương. Nhật Bản, Ma-lai-xia, Hàn Quốc, Thái Lan, Phi-líp-pin, Sin-ga-po, Bru-nây, In-đô-nê-xia, Niu Di-lân, Ca-na-đa và Mỹ đã ủng hộ sáng kiến này. Tháng 11 năm 1989, các Bộ trưởng Ngoại giao và Kinh tế của các nước nói trên đã họp tại Can-bê-ra, Ôt-xtrây-lia quyết định chính thức thành lập APEC. Sau đó, APEC kết nạp thêm Trung Quốc, Hồng Công và Đài Loan (với tên gọi theo tiếng Anh là Chinese Taipei) vào tháng 11 năm 1991; Mê-hi-cô, Pa-pu-a Niu Ghi-nê tháng 11 năm 1993; Chi-lê tháng 11 năm 1994 và tạm ngừng thời hạn xét kết nạp thành viên trong ba năm. Đến tháng 11 năm 1998, APEC kết nạp thêm ba thành viên mới là Pê-ru, Liên bang Nga và Việt Nam, đồng thời quyết định tạm ngừng thời hạn xem xét kết nạp thành viên mới trong mười năm để củng cố tổ chức. Đến nay, APEC đã có 21 nền kinh tế thành viên với khoảng 2,5 tỷ dân; 19.000 tỷ đô la Mỹ GDP mỗi năm và chiếm 47% thương mại thế giới (xem bảng 1). APEC bao gồm cả hai khu vực kinh tế mạnh và năng động nhất thế giới: khu vực Đông Á và khu vực Bắc Mỹ (gồm Mỹ, Ca-na-đa và Mê-hi-cô) với những nét đặc thù và vô cùng đa dạng về chính trị, xã hội, kinh tế và văn hóa. Chỉ trong mười năm đầu tồn tại và phát triển, các nền kinh tế thành viên APEC đã đóng góp gần 70% cho sự tăng trưởng chung của nền kinh tế toàn cầu. 1.2. Những nhân tố dẫn đến sự ra đời của APEC Từ cuối những năm 1970, đặc biệt là trong những năm 1980, sự tăng trưởng kinh tế liên tục và với nhịp độ cao của châu Á mà nòng cốt là các nền kinh tế Đông Á đã thu hút sự chú ý của cả thế giới. Tiếp theo "sự thần kỳ" của Nhật Bản, các nền kinh tế công nghiệp mới (NIEs), ASEAN và đặc biệt là sự nổi lên của Trung Quốc đã biến châu Á thành khu vực phát triển kinh tế năng động bậc nhất thế giới. Từ những năm 1980, các nước châu Á luôn luôn dẫn đầu thế giới về tốc độ phát triển kinh tế trong khi kinh tế thế giới bị suy thoái vào đầu những năm 1990. Xuất khẩu thực sự là động lực tăng trưởng kinh tế ở các nước châu Á. Trong giai đoạn 1980-1992, xuất khẩu của các nước châu Á tăng nhanh nhất thế giới, đạt tốc độ bình quân hàng năm trên 10%, so với 4% của các nước châu Âu và Mỹ La-tinh và 6% của các nước công nghiệp phát triển vốn chiếm tới 2/3 thương mại thế giới. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào các nước châu Á tăng mạnh, phần lớn từ Mỹ, Nhật Bản và các nền kinh tế NIEs. Tiềm lực lớn về xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ và vốn đầu tư đòi hỏi phải có thị trường ổn định, rộng mở và hạn chế đến mức tối đa những hàng rào ngăn trở sự lưu chuyển của hàng hoá, dịch vụ, đầu tư trong khu vực. Do đó, hợp tác và liên kết kinh tế khu vực trở thành nhu cầu cấp thiết để bảo đảm cho sự phát triển kinh tế cao và ổn định. Trong khi đó, xu thế toàn cầu hóa phát triển mạnh, thể hiện qua sự phân công lao động quốc tế đan xen nhau dưới tác động của những tiến bộ của khoa học - công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin. Việc Trung Quốc cải cách và mở cửa càng làm gia tăng xu thế này ở châu Á - Thái Bình Dương. Trong nền kinh tế thế giới, các hoạt động sản xuất, thương mại, tài chính và dịch vụ ngày càng được quốc tế hóa. Cùng với toàn cầu hóa và như một sự ứng phó với toàn cầu hoá, xu thế khu vực hóa cũng phát triển mạnh mẽ cả về chiều rộng và chiều sâu. Từ cuối những năm 1980, liên kết kinh tế khu vực ở châu Âu và Bắc Mỹ được đẩy mạnh thêm một bước. Các nước thuộc Liên hiệp châu Âu đã thoả thuận lập ra một thị trường chung vào năm 1992 và ráo riết lập kế hoạch cho một liên minh tiền tệ với một đồng tiền chung. Còn ở Bắc Mỹ, tháng 1 năm 1989 Mỹ và Ca-na-đa chính thức ký Hiệp định thành lập Khu vực Mậu dịch Tự do song phương (CAFTA). Trong khi đó, ở châu Á- Thái Bình Dương tuy có ổn định tương đối về chính trị, và là một khu vực năng động và có nhịp độ tăng trưởng kinh tế cao nhưng chưa có một hình thức liên kết nào có tính chất chính thức, liên chính phủ và toàn khu vực để bảo đảm lợi ích của các nước trong khu vực trước sự gia tăng ngày càng mạnh của chủ nghĩa khu vực bảo hộ ở Tây Âu và Bắc Mỹ. Từ những năm 1970 -1980, nhất là cuối những năm 1980, trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương đã thấy rõ xu thế là các nền kinh tế ngày càng tuỳ thuộc lẫn nhau một cách chặt chẽ hơn về nhiều mặt. Chỉ nói riêng về thương mại, năm 1989, xuất khẩu hàng hóa của các nước châu Á - Thái Bình Dương sang Mỹ chiếm 25,8% tổng giá trị xuất khẩu của họ, trong khi đó xuất khẩu của Mỹ sang châu Á - Thái Bình Dương chiếm 30,5% tổng giá trị xuất khẩu của Mỹ. Xuất khẩu của Nhật Bản sang các nước châu Á - Thái Bình Dương chiếm 33% tổng kim ngạch xuất khẩu của Nhật Bản và giá trị xuất khẩu của châu Á - Thái Bình Dương sang Nhật Bản chiếm 9,8% tổng kim ngạch xuất khẩu của các nước này. Xuất khẩu của Nhật Bản sang Mỹ chiếm 34,2% giá trị xuất khẩu của Nhật Bản và xuất khẩu của Mỹ sang Nhật Bản chiếm 12,3% tổng giá trị xuất khẩu của Mỹ. Sự tuỳ thuộc lẫn nhau ngày càng tăng về kinh tế đã tạo ra một lực gắn kết, một nhu cầu phối hợp giữa các nền kinh tế trong khu vực với nhau. Như vậy, chính sự tăng trưởng cao liên tục và phát triển của nền kinh tế ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương, xu thế toàn cầu hóa và khu vực hóa cũng như sự tuỳ thuộc lẫn nhau ngày càng tăng giữa các nền kinh tế đã đặt ra yêu cầu khách quan, cấp bách cho việc hình thành một diễn đàn mở rộng trong khu vực nhằm phối hợp chính sách về các lĩnh vực kinh tế, thúc đẩy tự do hóa và khuyến khích thương mại hàng hoá, dịch vụ và đầu tư, tăng cường hợp tác kinh tế, khoa học - công nghệ giữa các nền kinh tế ở châu Á - Thái Bình Dương, qua đó duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và bảo đảm sự phát triển bền vững của khu vực châu Á - Thái Bình Dương khi bước vào thế kỷ XXI. 1.3. Quy chế thành viên và quan sát viên của APEC Việc soạn thảo quy chế thành viên của APEC được giao cho các quan chức cao cấp của APEC thực hiện và đệ trình lên Hội nghị Bộ trưởng xem xét và Hội nghị các nhà Lãnh đạo Cấp cao APEC thông qua vào kỳ họp hàng năm tại Van-cu-vơ, Ca-na-đa, tháng 11 năm 1997. Về cơ bản, nước hoặc vùng lãnh thổ kinh tế, muốn trở thành thành viên APEC phải có đủ một số điều kiện cần thiết như sau: 1- Vị trí địa lý: Nằm ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương, tiếp giáp với bờ biển Thái Bình Dương. 2- Quan hệ kinh tế: Có các mối quan hệ kinh tế chặt chẽ với các nền kinh tế thành viên APEC về thương mại hàng hóa và dịch vụ, đầu tư trực tiếp nước ngoài và sự tự do đi lại của các quan chức. 3- Tương đồng về kinh tế: Chấp nhận chính sách kinh tế mở cửa theo hướng thị trường. 4- Quan tâm và chấp thuận các mục tiêu của APEC: Tỏ rõ mối quan tâm mạnh mẽ tới các lĩnh vực hoạt động của APEC bằng cách tham gia vào các Nhóm công tác hoặc nghiên cứu độc lập và các hoạt động khác của APEC. Tuy nhiên, không có mối liên quan đặc biệt nào giữa việc tham gia vào các Nhóm công tác của APEC và việc trở thành thành viên. Nước muốn trở thành thành viên phải hoàn toàn chấp nhận những mục tiêu và nguyên tắc cơ bản được đề ra trong các Tuyên bố và Quyết định của APEC, kể cả các nguyên tắc đồng thuận và tự nguyện. Ngoài quy chế thành viên chính thức, APEC còn có quy chế quan sát viên dành cho ba tổ chức khu vực là Ban Thư ký ASEAN, Hội đồng Hợp tác Kinh tế Thái Bình Dương (PECC) và Diễn đàn Đảo Thái Bình Dương (PIF), không có quy chế quan sát viên cho một nước hay vùng lãnh thổ riêng biệt. Quan sát viên có thể tham dự các cuộc họp từ cấp Bộ trưởng trở xuống và tham gia vào các hoạt động của APEC. Các nước không phải thành viên APEC có thể được tham gia các hoạt động với tư cách khách mời tại các Nhóm công tác của APEC. 2. Mục tiêu, nguyên tắc hoạt động của APEC   2.1. Mục tiêu Trong bối cảnh quá trình liên kết và hợp tác kinh tế ở các khu vực và trên phạm vi toàn cầu phát triển mạnh, tự do hóa kinh tế, thương mại và đầu tư trở thành xu hướng bao trùm, APEC ra đời như một sự đáp ứng đúng lúc đối với yêu cầu và lợi ích của các nền kinh tế ở châu Á- Thái Bình Dương vốn đang ngày càng tuỳ thuộc lẫn nhau hơn. Từ chỗ ban đầu hoạt động như là một nhóm đối thoại không chính thức, APEC đã dần dần trở thành một thực thể khu vực đi đầu trong việc thúc đẩy tự do hóa mậu dịch, đầu tư và hợp tác kinh tế. Ngày nay, APEC bao gồm tất cả các nền kinh tế lớn trong khu vực và các nền kinh tế năng động nhất, tăng trưởng nhanh nhất trên thế giới. Các nền kinh tế của các thành viên APEC cho thấy sự đa dạng, phong phú của khu vực cũng như các trình độ và phương thức phát triển khác nhau. Mặc dù giữa các nền kinh tế trong khu vực có nhiều điểm khác biệt nhưng việc họ hợp tác được với nhau trong một diễn đàn đã phản ánh mục đích và quyết tâm chính trị chung là thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển kinh tế bền vững trong khu vực và trên thế giới. Mục đích chung của APEC đã được xác định ngay từ Hội nghị Bộ trưởng APEC lần thứ nhất ở Can-bê-ra, Ôt-xtrây-lia năm 1989. Mục tiêu tăng trưởng và phát triển kinh tế của khu vực đòi hỏi phải thúc đẩy hệ thống thương mại đa phương mở, tập trung giải quyết những vấn đề kinh tế nhằm tăng cường lợi ích chung thông qua việc khuyến khích các luồng hàng hoá, dịch vụ, vốn đầu tư và chuyển giao công nghệ giữa các thành viên. Những yêu cầu cơ bản trên được đúc kết thành các mục tiêu cơ bản của APEC tại Hội nghị Bộ trưởng lần thứ ba ở Xê-un, Hàn quốc năm 1991. Tại Hội nghị này, các Bộ trưởng đã thông qua Tuyên bố Xê-un, đặt nền móng cho sự phát triển của APEC như một khuôn khổ hợp tác khu vực với 4 mục tiêu là: - Duy trì sự tăng trưởng và phát triển của khu vực vì lợi ích chung của các dân tộc trong khu vực, và bằng cách đó đóng góp vào sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế thế giới; - Phát huy các kết quả tích cực đối với khu vực và nền kinh tế thế giới do sự tuỳ thuộc lẫn nhau ngày càng tăng về kinh tế tạo ra, khuyến khích các luồng hàng hoá, dịch vụ, vốn và công nghệ; - Phát triển và tăng cường hệ thống thương mại đa phương mở vì lợi ích của các nước châu Á - Thái Bình Dương và các nền kinh tế khác; - Cắt giảm những hàng rào cản trở việc trao đổi hàng hoá, dịch vụ và đầu tư giữa các thành viên phù hợp với các nguyên tắc của GATT/WTO ở những lĩnh vực thích hợp và không làm tổn hại tới các nền kinh tế khác. Tuy nhiên, không giống như các tổ chức khu vực khác (đặc biệt là EU), ngay từ đầu APEC không nhấn mạnh đến mục tiêu tạo lập hệ thống ưu đãi thuế quan, liên minh thuế quan, hay thị trường chung, mà nhấn mạnh tới việc tăng cường hệ thống thương mại đa phương mở. Điều này có thể lý giải bởi hai lý do. Một là, APEC là tập hợp của các nền kinh tế rất đa dạng về trình độ phát triển, chế độ chính trị-xã hội cũng như điều kiện lịch sử - văn hóa. Vì thế, các nước đang phát triển như ASEAN, NIEs không muốn thành lập một khu vực tự do hóa và bị lệ thuộc một cách bất bình đẳng vào các nền kinh tế lớn hơn, có trình độ phát triển cao hơn như Mỹ, Nhật Bản, Ô-xtrây-lia và Ca-na-đa. Hai là, các nền kinh tế APEC, đặc biệt là các nước Đông á phụ thuộc rất lớn vào môi trường kinh tế thế giới. Sự tăng trưởng của các nền kinh tế Nhật Bản, NIEs và ASEAN trong thập kỷ 70 và 80 chủ yếu nhờ vào sự thành công của chiến lược hướng vào xuất khẩu, do vậy, họ rất muốn duy trì một hệ thống thương mại toàn cầu mở và ổn định. Việc thế giới bị chia cắt thành các khu vực cát cứ sẽ là điều bất lợi trước hết đối với những thành viên APEC có nền kinh tế, thương mại phát triển cao. Ngay từ đầu, APEC đã tích cực theo đuổi mục tiêu tăng cường hệ thống thương mại đa phương mở. Trong tất cả các Hội nghị Bộ trưởng hàng năm của APEC đều thảo luận những tiến triển trong Vòng đàm phán đa phương U-ru-goay của GATT và ra những tuyên bố chung nhằm phối hợp hành động của các thành viên APEC trong quá trình đàm phán, kêu gọi các nước khác tăng cường nỗ lực để Vòng đàm phán U-ru-goay đạt kết quả. Mỹ và một số thành viên APEC coi diễn đàn này là chỗ dựa để xúc tiến tự do hóa thương mại trong trường hợp vòng đàm phán U-ru-goay thất bại. Trên thực tế, APEC đã đóng một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự thành công của Vòng đàm phán U-ru-goay. Tuyên bố chung của Hội nghị Cấp cao lần thứ nhất năm 1993 nhấn mạnh: "Cơ sở của sự tăng trưởng kinh tế của chúng ta là một hệ thống thương mại đa phương mở. Vì vậy, chúng ta cam kết cố gắng hết sức để Vòng đàm phán U-ru-goay kết thúc thành công vào ngày 15/12". Các Bộ trưởng APEC dẫn đầu là Mỹ và Nhật Bản đã đưa ra sự nhượng bộ về tiếp cận thị trường đối với một loạt các sản phẩm trị giá 250 tỷ đô-la trong vòng đàm phán cuối cùng ở U-ru-goay, qua đó thúc đẩy các nước khác, đặc biệt là Cộng đồng châu Âu, kết thúc cuộc đàm phán đúng kỳ hạn. Việc kết thúc thành công Vòng đàm phán U-ru-goay và sự ra đời của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã đặt APEC trong một khung cảnh mới. Hội nghị Bộ trưởng Thương mại APEC tại Gia-các-ta tháng 11 năm 1994 nhận định: "Trong bối cảnh sau Vòng đàm phán U-ru-goay, đang có một cơ hội rộng mở để APEC bắt đầu tiến tới sự tự do hóa rộng lớn hơn phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của GATT/WTO, có tính tới sự đa dạng về trình độ phát triển kinh tế khác nhau của các thành viên APEC". Trên thực tế, mục tiêu về một khu vực thương mại mở ở châu Á - Thái Bình Dương đã được đề cập ngay từ Hội nghị Bộ trưởng lần thứ hai năm 1990. Tại Hội nghị này, các Bộ trưởng đã đồng ý rằng "chủ đề trung tâm kế tiếp của APEC sau sự kết thúc Vòng đàm phán U-ru-goay là xúc tiến một hệ thống thương mại cởi mở hơn". Mục tiêu này được thúc đẩy tại Hội nghị Cấp cao lần thứ nhất tại Seattle (Mỹ) tháng 11 năm 1993 khi các nhà Lãnh đạo APEC thừa nhận sự tuỳ thuộc lẫn nhau về kinh tế và sự đa dạng của các nền kinh tế ở khu vực, đồng thời bắt đầu nhìn nhận về một "cộng đồng” châu Á - Thái Bình Dương. Một năm sau, tại Hội nghị Cấp cao ở Bô-go, In-đô-nê-xi-a, các nhà Lãnh đạo APEC đã tiến một bước lớn hướng tới mục tiêu dài hạn về thương mại và đầu tư tự do và mở cửa trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Tuyên bố về Quyết tâm chung của Hội nghị nhấn mạnh: "Chúng ta nhất trí tuyên bố cam kết hoàn thành việc đạt được mục tiêu
Tài liệu liên quan