FDI vào Việt Nam giai đoạn 1990 – 2000

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI = Foreign Direct Investment) là hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh. Cá nhân hay công ty nước ngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này. Tổ chức Thương mại Thế giới đưa ra định nghĩa như sau về FDI: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay đựoc gọi là "công ty mẹ" và các tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty".

doc53 trang | Chia sẻ: haohao89 | Ngày: 04/06/2013 | Lượt xem: 1885 | Lượt tải: 3download
Bạn đang xem nội dung tài liệu FDI vào Việt Nam giai đoạn 1990 – 2000, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN I. KHÁI NIỆM FDI: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI = Foreign Direct Investment) là hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh. Cá nhân hay công ty nước ngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này. Tổ chức Thương mại Thế giới đưa ra định nghĩa như sau về FDI: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay đựoc gọi là "công ty mẹ" và các tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty". II. NHỮNG NHÂN TỐ THÚC ĐẨY ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI: 1. Chênh lệch về năng suất cận biên của vốn giữa các nước: Helpman và Sibert, Richard S. Eckaus cho rằng có sự khác nhau về năng suất cận biên của vốn giữa các nước. Một nước thừa vốn thường có năng suất cận biên thấp hơn. Còn một nước thiếu vốn thường có năng suất cận biên cao hơn. Tình trạng này sẽ dẫn đến sự di chuyển dòng vốn từ nơi dư thừa sang nơi khan hiếm nhằm tối đa hoá lợi nhuận. 2. Chu kỳ sản phẩm: Akamatsu Kaname (1962) cho rằng sản phẩm mới đầu được phát minh và sản xuất ở nước đầu tư, sau đó mới được xuất khẩu ra thị trường nước ngoài. Tại nước nhập khẩu, ưu điểm của sản phẩm mới làm nhu cầu trên thị trường nội địa tăng lên, nên nước nhập khẩu chuyển sang sản xuất để thay thế sản phẩm nhập khẩu này bằng cách chủ yếu dựa vào vốn, kỹ thụât của nước ngoài. Khi nhu cầu thị trường của sản phẩm mới trên thị trường trong nước bão hoà, nhu cầu xuất khẩu lại xuất hiện. Hiện tuợng này diễn ra theo chu kỳ và do đó dẫn đến sự hình thành FDI. Raymond Vernon (1966) lại cho rằng khi sản xuất một phẩm đạt tới giai đoạn chuẩn hóa trong chu kỳ phát triển của mình cũng là lúc thị trường sản phẩm này có rất nhiều nhà cung cấp. Ở giai đoạn này, sản phẩm ít được cải tiến, nên cạnh tranh giữa các nhà cung cấp dẫn tới quyết định giảm giá và do đó dẫn tới quyết định cắt giảm chi phí sản xuất. Đây là lý do để các nhà cung cấp chuyển sản xuất sản phẩm sang những nước cho phép chi phí sản xuất thấp hơn. 3. Lợi thế đặc biệt của các công ty đa quốc gia: Stephen H. Hymes (1960, công bố năm 1976), John H. Dunning (1981), Rugman A. A. (1987) và một số người khác cho rằng các công ty đa quốc gia có những lợi thế đặc thù (chẳng hạn năng lực cơ bản) cho phép công ty vượt qua những trở ngại về chi phí ở nước ngoài nên họ sẵn sàng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài. Khi chọn địa điểm đầu tư, những công ty đa quốc gia sẽ chọn nơi nào có các điều kiện (lao động, đất đai,chính trị) cho phép họ phát huy các lợi thế đặc thù nói trên. 4. Tiếp cận thị trường và giảm xung đột thương mại: Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là một biện pháp để tránh xung đột thương mại song phương. Ví dụ, Nhật Bản hay bị Mỹ và các nước Tây Âu phàn nàn do Nhật Bản có thặng du thương mại còn các nước kia bị thâm hụt thương mại trong quan hệ song phương. Đối phó, Nhật Bản đã tăng cường đầu tư trực tiếp vào các thị trường đó. Họ sản xuất và bán ô tô, máy tính ngay tại Mỹ và châu Âu, để giảm xuất khẩu các sản phẩm này từ Nhật Bản sang. Họ còn đầu tư trực tiếp vào các nước thứ ba, và từ đó xuất khẩu sang thị trường Bắc Mỹ và châu Âu. 5. Khai thác chuyên gia và công nghệ: Không phải FDI chỉ đi theo hướng từ nước phát triển hơn sang nước kém phát triển hơn. Chiều ngược lại thậm chí còn mạnh mẽ hơn nữa. Nhật Bản là nước tích cực đầu tư trực tiếp vào Mỹ để khai thác đội ngũ chuyên gia ở Mỹ. Ví dụ, các công ty ô tô của Nhật Bản đã mở các bộ phận thiết kế xe ở Mỹ để sử dụng các chuyên gia người Mỹ. Các công ty máy tính của Nhật Bản cũng vậy. Không chỉ Nhật Bản đầu tư vào Mỹ, các nước công nghiệp phát triển khác cũng có chính sách tương tự. Trung Quốc gần đây đẩy mạnh đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, trong đó có đầu tư vào Mỹ. Việc công ty đa quốc gia quốc tịch Trung Quốc là Lenovo mua bộ phận sản xuất máy tính xách tay của công ty đa quốc gia mang quốc tịch Mỹ là IBM được xem là một chiến lược để Lenovo tiếp cận công nghệ sản xuất máy tính ưu việt của IBM. Hay việc TCL (Trung Quốc) trong sáp nhập với Thompson (Pháp) thành TCL-Thompson Electroincs, việc National Offshore Oil Corporation (Trung Quốc) trong ngành khai thác dầu lửa mua lại Unocal (Mỹ) cũng với chiến lược như vậy. 6. Tiếp cận nguồn tài nguyên thiên nhiên: Để có nguồn nguyên liệu thô, nhiều công ty đa quốc gia tìm cách đầu tư vào những nước có nguồn tài nguyên phong phú. Làn sóng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài lớn đầu tiên của Nhật Bản vào thập niên 1950 là vì mục đích này. FDI của Trung Quốc hiện nay cũng có mục đích tương tự. III. LỢI ÍCH CỦA THU HÚT FDI: 1. Bổ sung cho nguồn vốn trong nước: Trong các lý luận về tăng trưởng kinh tế, nhân tố vốn luôn được đề cập. Khi một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh hơn, nó cần nhiều vốn hơn nữa. Nếu vốn trong nước không đủ, nền kinh tế này sẽ muốn có cả vốn từ nước ngoài, trong đó có vốn FDI. 2. Tiếp thu công nghệ và bí quyết quản lý: Trong một số trường hợp, vốn cho tăng trưởng dù thiếu vẫn có thể huy động được phần nào bằng "chính sách thắt lưng buộc bụng". Tuy nhiên, công nghệ và bí quyết quản lý thì không thể có được bằng chính sách đó. Thu hút FDI từ các công ty đa quốc gia sẽ giúp một nước có cơ hội tiếp thu công nghệ và bí quyết quản lý kinh doanh mà các công ty này đã tích lũy và phát triển qua nhiều năm và bằng những khoản chi phí lớn. Tuy nhiên, việc phổ biến các công nghệ và bí quyết quản lý đó ra cả nước thu hút đầu tư còn phụ thuộc rất nhiều vào năng lực tiếp thu của đất nước. 3. Tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu: Khi thu hút FDI từ các công ty đa quốc gia, không chỉ xí nghiệp có vốn đầu tư của công ty đa quốc gia, mà ngay cả các xí nghiệp khác trong nước có quan hệ làm ăn với xí nghiệp đó cũng sẽ tham gia quá trình phân công lao động khu vực. Chính vì vậy, nước thu hút đầu tư sẽ có cơ hội tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu thuận lợi cho đẩy mạnh xuất khẩu. 4. Tăng số lượng việc làm và đào tạo nhân công: Vì một trong những mục đích của FDI là khai thác các điều kiện để đạt được chi phí sản xuất thấp, nên xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ thuê mướn nhiều lao động địa phương. Thu nhập của một bộ phận dân cư địa phương được cải thiện sẽ đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế của địa phương. Trong quá trình thuê mướn đó, đào tạo các kỹ năng nghề nghiệp, mà trong nhiều trường hợp là mới mẻ và tiến bộ ở các nước đang phát triển thu hút FDI, sẽ được xí nghiệp cung cấp. Điều này tạo ra một đội ngũ lao động có kỹ năng cho nước thu hút FDI. Không chỉ có lao động thông thường, mà cả các nhà chuyên môn địa phương cũng có cơ hội làm việc và được bồi dưỡng nghiệp vụ ở các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. 5. Nguồn thu ngân sách lớn: Đối với nhiều nước đang phát triển, hoặc đối với nhiều địa phương, thuế do các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nộp là nguồn thu ngân sách quan trọng. Chẳng hạn, ở Hải Dương riêng thu thuế từ công ty lắp ráp ô tô Ford chiếm 50 phần trăm số thu nội địa trên địa bàn tỉnh năm 2006. IV. CÁC HÌNH THỨC FDI: 1. Phân theo bản chất đầu tư: a. Đầu tư phương tiện hoạt động: Đầu tư phương tiện hoạt động là hình thức FDI trong đó công ty mẹ đầu tư mua sắm và thiết lập các phương tiện kinh doanh mới ở nước nhận đầu tư. Hình thức này làm tăng khối lượng đầu tư vào. b. Mua lại và sáp nhập: Mua lại và sáp nhập là hình thức FDI trong đó hai hay nhiều doanh nghiệp có vốn FDI đang hoạt động sáp nhập vào nhau hoặc một doanh nghiệp này (có thể đang hoạt động ở nước nhận đầu tư hay ở nước ngoài) mua lại một doanh nghiệp có vốn FDI ở nước nhận đầu tư. Hình thức này không nhất thiết dẫn tới tăng khối lượng đầu tư vào. 2. Phân theo tính chất dòng vốn: a. Vốn chứng khoán: Nhà đầu tư nước ngoài có thể mua cổ phần hoặc trái phiếu doanh nghiệp do một công ty trong nước phát hành ở một mức đủ lớn để có quyền tham gia vào các quyết định quản lý của công ty. b. Vốn tái đầu tư: Doanh nghiệp có vốn FDI có thể dùng lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh trong quá khứ để đầu tư thêm. c. Vốn vay nội bộ hay giao dịch nợ nội bộ: Giữa các chi nhánh hay công ty con trong cùng một công ty đa quốc gia có thể cho nhau vay để đầu tư hay mua cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp của nhau. 3. Phân theo động cơ của nhà đầu tư: a. Vốn tìm kiếm tài nguyên: Đây là các dòng vốn nhằm khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên rẻ và dồi dào ở nước tiếp nhận, khai thác nguồn lao động có thể kém về kỹ năng nhưng giá thấp hoặc khai thác nguồn lao động kỹ năng dồi dào. Nguồn vốn loại này còn nhằm mục đích khai thác các tài sản sẵn có thương hiệu ở nước tiếp nhận (như các điểm du lịch nổi tiếng). Nó cũng còn nhằm khai thác các tài sản trí tuệ của nước tiếp nhận. Ngoài ra, hình thức vốn này còn nhằm tranh giành các nguồn tài nguyên chiến lược để khỏi lọt vào tay đối thủ cạnh tranh. b. Vốn tìm kiếm hiệu quả: Đây là nguồn vốn nhằm tận dụng giá thành đầu vào kinh doanh thấp ở nước tiếp nhận như giá nguyên liệu rẻ, giá nhân công rẻ, giá các yếu tố sản xuất như điện nước, chi phí thông tin liên lạc, giao thông vận tải, mặt bằng sản xuất kinh doanh rẻ, thuế suất ưu đãi, v.v... c.Vốn tìm kiếm thị trường: Đây là hình thức đầu tư nhằm mở rộng thị trường hoặc giữ thị trường khỏi bị đối thủ cạnh tranh giành mất. Ngoài ra, hình thức đầu tư này còn nhằm tận dụng các hiệp định hợp tác kinh tế giữa nước tiếp nhận với các nước và khu vực khác, lấy nước tiếp nhận làm bàn đạp để thâm nhập vào các thị trường khu vực và toàn cầu. CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG THU HÚT FDI Ở VIỆT NAM I. THỰC TRẠNG THU HÚT ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM: Ba năm đầu triển khai luật (1988-1990) được coi là thời kỳ thử nghiệm mò mẫm nên kết quả đạt được không nhiều: 214 dự án, vốn đăng ký 1582,3 triệu USD và vốn pháp định 1007,4 triệu USD. Bình quân một dự án có 7,4 triệu USD vốn đăng ký và 4,7 triệu USD vốn pháp định. Các lĩnh vực thu hút vốn đầu tư chủ yếu là khách sạn, du lịch, khai thác thăm dò dầu khí, công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản, xây dựng. Đối tác đầu tư chủ yếu là các nước và lãnh thổ trong khu vực châu Á như Singapo, Hồng Công, Đài Loan, Nhật Bản... Thời kỳ 1991 - 1996: làn sóng đầu tư nước ngoài trở nên sôi động tại việt nam và kết quả đạt được cao nhất từ trước tới nay. Trong 6 năm (1991-1996) cả nước đã thu hút 1784 dự án với số vốn đăng ký lên tới 25646 triệu, vốn pháp định đạt 11886 triệu USD. Bình quân một năm thu hút được trên 4,2 tỷ USD vốn đăng ký và gần 2 tỷ USD vốn pháp định. Bình quân một dự án có 14,27 triệu USD vốn đăng ký và 6,7 triệu vốn pháp định. Năm 1996 có số vốn đăng ký đầu tư nhiều nhất 8979 triệu USD vốn đăng ký, vốn pháp định 3280 triệu với 380 dự án, quy mô bình quân một dự án lên tới 25,5 triệu USD vốn đăng ký và 8,47 triệu USD vốn pháp định. Bên cạnh các dự án đầu tư mới, trong thời gian này còn có 222 dự án bổ sung thêm vốn đầu tư với số vốn đăng ký là 2099 triệu USD. Nếu loại trừ 237 dự án rút giấy phép với số vốn đăng ký 1269 triệu USD và 16 dự án đã kết thúc với số vốn 310 triệu USD tính từ năm 1988 đến hết năm 1996 cả nước có 1998 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 27406 triệu USD, vốn pháp định 12893 triệu USD. Các dự án tập trung chủ yếu vào ngành công nghiệp với 1077 dự án và 11546,3 triệu USD vốn đăng ký, kế đến là khách sạn, du lịch 189 dự án và 3880,5 triệu USD, thứ ba là ngành xây dựng 221 dự án và 3677 triệu USD vốn đăng ký, thứ tư là giao thông vận tải và bưu điện 120 dự án và 2785 triệu USD vốn đăng ký. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tuy có 316 dự án nhưng chỉ có 1527 triệu USD vốn đăng ký Hoạt động thu hút vốn FDI sôi động khắp các vùng và nhiều địa phương, trong đó tập trung vào các vùng STT vùng Số dự án Vốn đăng ký ( triệu USD) 1 Đông Nam Bộ 1262 15986 2 ĐB sông Hồng 514 9503 3 Đông Bắc 97 1442 4 Duyên Hải Miền Trung 120 1302 5 ĐBSCL 128 763 Nguồn : Ban tư tưởng văn hóa trung ương vụ tuyên truyền và hợp tác quốc tế - Đối Ngoại Việt Nam thời kỳ đổi mới – NXB Chính trị quốc gia Địa phương thu hút nhiều dự án vốn FDI đến năm 1997 là thành phố Hồ Chí Minh với 697 dự án, 8857 triệu USD vốn đăng ký và 3993 triệu USD vốn pháp định. Hà Nội có 345 dự án, 6885 triệu USD vốn đăng ký và 2803 triệu USD vốn pháp định. Đồng nai có 249 dự án, 3259 triệu USD vốn đăng ký, 1249 triệu USD vốn pháp định. Bà rịa – vũng tàu có 83 dự án, 2249 triệu USD đăng ký, 1042 triệu USD vốn pháp định . Số lượng các đối tác đầu tư đã lên tới 63 quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc tất cả các châu lục. các quốc gia và vùng lãnh thổ dẫn đầu về số vốn đầu tư vào Việt Nam trong thời kỳ này là: singapo 185 dự án và 4846 triệu USD; Đài Loan 354 dự án và 4168 triệu USD; Hồng Công 264 dự án với 3364 triệu USD; Nhật Bản 236 dự án với 3037 triệu USD; Hàn Quốc 223 dự án 2961 triệu USD vốn đăng ký. Đóng góp của khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài vào nền kinh tế Việt Nam ngày càng cao. Tỷ trọng trong khu vực FDI trong cơ cấu GDP từ 6,3% năm 1995 lên 7,27% năm 1996. Tỷ trọng công nghiệp FDI năm 1996 chiếm 26,49% giá trị sản xuất công nghiệp cả năm. Nhờ có sự tham gia của khu vực FDI mà diện mạo kinh tế có sự thay đổi theo chiều hướng tiến bộ, nhất là trong sản xuất công nghiệp, xây dựng, khách sạn, du lịch. Nhiều sản phẩm công nghiệp mới xuất hiện như khai thác dầu thô, lắp ráp ô tô, xe gắn máy, điện tử, tin học, chế biến nông, lâm, thủy sản chất lượng cao, da giày, may mặc xuất khẩu, hóa chất... khu vực FDI đã tạo việc làm cho hơn 200 ngàn lao động xã hội và đóng góp phần quan trọng thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và chuyển dịch xã hội. Nguyên nhân của sự khởi sắc về FDI trong giai đoạn 1991-1996 là: luật đầu tư nước ngoài sau khi thử nghiệm( trong ba năm 1988-1990) đã được bổ sung hoàn thiện nên có sức hấp dẫn các đối tác đầu tư. Thêm vào đó các bộ luật khác có liên quan như luật đất đai năm 1993, luật thuế, luật lao động và nhiều cơ chế chính sách của nhà nước, của chính quyền các địa phương đã thông thoáng hơn, tạo điều kiện thu hút các nhà đầu tư nước ngoài. Tình hình kinh tế thế giới và khu vực tăng trưởng ổn định nên các công ty mẹ có đủ các yếu tố cần thiết, nhất là vốn, thị trường, công nghệ để mở rộng thị trường đầu tư vào Việt Nam. Tuy nhiên, bắt đầu từ năm 1997, làn sóng đầu tư nước ngoài vào Việt Nam xuất hiện những xu hướng chững lại và giảm sút. Vốn đăng ký bắt đầu giảm mạnh cuối 1997 với số vốn đăng ký cả năm 4894,2 triệu USD, bằng 54,5% năm 1996. Năm 1998, có 285 dự án đăng ký mới với số vốn đăng ký 4138 triệu USD chỉ bằng 92,5% số dự án và bằng 84,55% số vốn đăng ký của năm 1997. năm 1999 chỉ còn 1568 triệu USD vốn đăng ký, bằng 38,7% vốn đăng ký năm 1998 và là mức thấp nhất kể từ năm 1991. Năm 2000 tuy có tăng lên 2018 triệu USD nhưng cũng chỉ bằng 48,7% năm 1998. Tính chung bốn năm 1997 – 2000 cả nước chỉ thu hút được 1343 dự án với số vốn đăng ký 12618 triệu USD và 6698 triệu USD vốn pháp định. Số vốn đăng ký bình quân cho một dự án chỉ có 9,39 triệu USD so với 14,8 triệu USD của thời kỳ 1991 – 1996. Nguyên nhân của tình trạng này có nhiều. về khách quan, cuộc khủng hoàng tài chính khu vực châu Á trong những năm 1997-1998 đã tác động xấu đến hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty mẹ ở nhiều nước khu vực này nên khả năng đầu tư mới cũng như đầu tư bổ sung của các dự án là rất hạn chế. Thị trường tiêu thụ sản phẩm công nghiệp và dịch vụ thế giới bị thu hẹp nên đã tác động xấu đến khả năng xuất khẩu của các sản phẩm công nghiệp và dịch vụ của các dự án FDI. Một số lợi thế ban đầu của Việt Nam như tài nguyên thiên nhiên phong phú, giá thuê nhân công thấp,... đang giảm dần do sự cạnh tranh rất quyết liệt của các nước trong khu vực nhất là Trung Quốc. Về chủ quan, luật đầu tư nước ngoài của Việt Nam đã bổ sung, sửa đổi nhiều nhưng vẫn còn nhiều bất cập. nhiều cơ chế, chinch sách kinh tế tài chinch vẫn chưa làm yên lòng các nhà đầu tư nước ngoài, trong đó giá thuê đất cao, chinch sách 2 giá trong nhiều lĩnh vực vừa cao so với các nước trong khu vực vừa mang nặng tính chất phân biệt đối xử chậm được khắc phục ( giá điện, cước điện thoại, vé máy bay...). Hệ thống cơ sở hạ tầng yếu kém, nhất là đường giao thông, bến cảng, sân bay. Thủ tục hành chinch rườm rà, nhưng khắc phục chậm làm nản lòng các nhà đầu tư. II. CÁC NGUỒN ĐẦU TƯ FDI VÀO VIỆT NAM: 1. Quan hệ Việt Nam – Châu Âu: Châu Âu đầu tư FDI vào Việt Nam từ khi quan hệ Việt Nam và cộng đồng Châu Âu bình thường hóa ngày 20/10/1990, trong quan hệ kinh tế, thương mại với Châu Âu, Việt Nam quan hệ mật thiết với Liên minh Châu Âu (EU), mối quan hệ giữa Việt Nam và EU không ngừng phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu. Hiệp định buôn bán hàng dệt may Việt Nam – EU ( 15/12/1992) và sau đó là hiệp định khung được ký giữa Việt Nam – EU (17/7/1995), mối quan hệ này đã có sự phát triển mới. Thực to cho thấy Việt Nam và EU đã trở thành những người bạn hàng không thể thiếu của nhau, cùng bổ sung cho nhau, hợp tác hai bên cùng có lợi. Đến năm 2000 tổng số vốn đăng ký đầu tư của EU vào Việt Nam đạt tới 5380 triệu USD với 322 dự án được cấp giấy phép. Tuy vậy, 71 dự án đã hết hạn, giải thể hoặc chuyển nhượng vốn. EU còn 251 dự án với tổng số vốn đăng ký là 4380 triệu USD, chiếm 10% vốn dự án và 12.2% vốn đăng ký của các dự án đang hoạt động tại Việt Nam. Đặc biệt năm 2000, vốn FDI vào Việt Nam chủ yếu là từ châu Âu, chiếm 36,6% tổng vốn FDI vào Việt Nam. Các nước EU đầu tư lớn vào Việt Nam gồm Pháp ( 104 dự án, vốn đăng ký 1789 triệu USD ), Anh ( 29 dự án, vốn đăng ký là 1047 triệu USD ) và Hà Lan ( 36 dự án, vốn đăng ký 578 triệu USD ), Đức (29 dự án), Thụy Điển ( 8 dự án )... Đầu tư của EU chủ yếu tập trung vào các ngành công nghiệp như dầu khí, điện, nước, xây dựng cơ sở hạ tầng, chế biến nông sản thực phẩm, viễn thông, dịch vụ tài chính, ngân hàng... Các dự án đầu tư của EU nhìn chung hoạt động đều có hiệu quả và đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, đạt mức doanh thu 2.3 tỷ USD, thu hút hơn 23000 lao động Việt Nam. Tuy vậy, so với tiềm năng và vốn đầu tư ra nước ngoài của EU, thì số vốn họ đầu tư vào Việt Nam còn quá nhỏ bé. Nếu tính EU là một thể thống nhất thì EU đứng đầu danh sách những nước và lãnh thổ có đầu tư trực tiếp tại Việt Nam, song nếu tính từng thành viên thì những thành viên thuộc EU vẫn chưa phải là nước đi đầu trong lĩnh vực này. Vì thế trong giai đoạn đó các nhà hoạch định chính sách và giới doanh nghiệp của Việt Nam phải suy nghĩ sao cho thu hút thêm được nhiều đầu tư của các nước EU. 2. Quan hệ Việt Nam – ASEAN: Quan hệ Việt Nam – ASEAN từ sau năm 1989 được cải thiện mạnh mẽ, quy mô thị trường hấp dẫn cộng với lợi thế về nguồn lao động rẻ và nguồn tài nguyên phong phú đã là những yếu tố thuận lợi khơi mạnh dòng chảy vốn quốc tế vào Việt Nam, trong đó nguồn vốn từ khu vực ASEAN chiếm tỷ trọng tương đối lớn. Các nước ASEAN tuy xuất hiện muộn hơn trên thị trường đầu tư Việt Nam nhưng đã có bước tiến triển khá dài. Từ một số ít dự án mang tính thăm dò thị trường của các quốc gia đi tiên phong là Singapore, Thái Lan, Indonexia vào những năm 1990, dòng vốn này thực sự khởi sắc vào năm 1995 với tổng số 230 dự án và trên 3 tỷ USD đăng ký đầu tư tại Việt Nam. Đặc biệt, ngay sau khi Việt Nam tham gia Hiệp định Thương mại tự do ASEAN (AFFTA), tháng 1/1996, tốc độ thu hút FDI từ khu vực đã tăng nhanh chóng, đạt tới trên 7,8 tỷ USD vào thời điểm giữa năm 1997 Đầu tư của toàn ASEAN giai đoạn này đã chiếm khoảng 30% tổng mức đầu tư của tất cả các quốc gia và vùng lãnh thổ vào Việt Nam. Ba quốc gia Singapore, Malaysia và Thái Lan lần lượt chiếm các vị trí thứ 1, thứ 7, thứ 8 trong số các quốc gia đầu tư lớn nhất tại Việt Nam. Tuy nhiên, tác động tư cuộc khủng hoảng kinh tế Châu Á năm 1997 đã khiến dòng vốn này chững lại và sụt giảm mạnh. Số dự án cấp phép mới hầu như không tăng, các dự án đang thực hiện cũng bị giãn tiến độ, chỉ còn Singapore vẫn giữ được “phong độ”, hầu hết các quốc gia cò