Hình thành một quỹ đầu tư mạo hiểm ở Việt Nam

Khối doanh nghiệp tử nhân của Việt Nam hiện đang rơi vào tình trạ ng thiếu vốn trầm trọng do bị hạn chế tiếp cận với các nguồn vốn đầu tử , kể cả vốn cổ phần cũng nhử vốn vay dài hạn từ các ngân hàng.

pdf54 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 18/09/2014 | Lượt xem: 639 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Hình thành một quỹ đầu tư mạo hiểm ở Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
 Hỡnh thành một quỹ đầu tư mạo hiểm ở Việt Nam ..........., thỏng ... năm ........ Chuyên đ ề nghiên cứu kinh tế tử nhâ n Số 4 Hình thành một quỹ đ ầu tử mạo hiểm* ở Việt Nam (Nghiên cứu sơ bộ) Adam Sack Và John McKenzie Tháng 9 nă m 1998 ________________ * Nguyên bản trong tiếng Anh là "Venture Capital Firm" XI Mục lục Lời giới thiệu ......................................................................................................... VII tóm tắ t .........................................................................................................IX A. Cá c mục đích nghiên cứu ......................................................1 B. Vốn mạ o hiểm là gì?.....................................................................4 Đ ịnh nghĩa rộng.....................................................................................................4 Đ ịnh nghĩa hẹp.......................................................................................................4 Thị trử ờng Việt Nam..............................................................................................5 C. Vốn mạ o hiểm ở Đông Nam á ...............................................5 Tóm tắt ..................................................................................................................5 Inđônê sia ...............................................................................................................6 Malaysia ................................................................................................................7 Th iá Lan ................................................................................................................8 D. Cung vốn mạ o hiểm ở Việ t Nam ............................. 11 Tóm tắt ................................................................................................................11 Lịch sử các quỹ đầu tử .........................................................................................13 E. Nhu cầ u về vốn mạ o hiểm ở Việ t Nam .....................15 Tóm tắt ................................................................................................................15 Thực trạng các công ty tử nhân Việt Nam hiện nay...............................................15 Qu átrình cổ phần hóa các doanh nghiùồp nhaõ nỷỳỏc ...........................................17 Các đối tử ợng doanh nghiệp tiềm năng.................................................................17 Các hạn chế trong việc đầu tử vào doanh nghiệp mục tiê u ....................................18 F. Hệ thống phá p lý và chế định ........................................21 Hệ thống chế định................................................................................................21 Hệ thống ph pá lý..................................................................................................21 G. Cơ cấu cho cá c công ty vốn mạ o hiểm ở Việ t Nam.....................................................................................................................21 Quỹ hải ngoại ......................................................................................................21 Quỹ nội địa..........................................................................................................22 Đ iểm mạnh và điểm yếu của hai mô hình.............................................................24 H. Kết luận và kiến nghị.............................................................25 I. Cá c bệ ớc tiếp theo ......................................................................29 XII Bảng Bảng 1: Tổ ng hợp cổ phần tử nhân và vốn mạo hiểm (triệu USD)..............................5 Bảng 2: Các quỹ đang hoạt động ở Việt Nam .........................................................11 Bảng 3: Số lử ợng các công ty theo từng loại hình....................................................16 Bảng 4: Các công ty tử nhân Việt Nam phân bổ theo ngành....................................16 XIII Lời giới thiệ u Khối doanh nghiệp tử nhân của Việ t Nam hiện đang rơi vào tình trạng thiếu vốn trầm trọng do bị hạn chế tiếp cận với các nguồn vốn đầu tử , kể cả vốn cổ phần cũng nhử vốn vay dài hạn từ các ngân hàng. Một hử ớng để giải quyết tình trạng thiếu vốn cho các công ty tử nhân là thiết lập một quỹ đầu tử mạo hiểm ngay ở trong nử ớc. Mục tiê u của báo cáo này là nhằm đánh gi ásơ bộ về khả năng thành lập một quỹ đầu tử mạo hiểm độc lập và mang tính kinh doanh nhử vậy tại Việ t Nam. Với sự trợ giúp của Chử ơng trình ph tá triển dự án Mê Kông, nơi quy tụ nhiều nhà tài trợ và do Công ty tài chính quốc tế quản lý, bản báo cáo này đã đ ử ợc chuẩn bị nhằm thúc đẩy sự ph tá triển của khối tử nhân ở ba nử ớc Việ t Nam, Lào và Campuchia. Những kinh nghiệm mà Chử ơng trình thu đ ử ợc thông qua các dự án đầu tử tử nhân ở Việ t Nam đã cho thấy rằng rất đông đảo các doanh nghiệp tử nhân hiện đang sẵn sàng và có khả năng tiếp nhận những công nghệ và những mô hình kinh doanh đã đ ử ợc pá dụng rộng rã i để rồi sau đó có thể tham gia vào thị trử ờng chứ ng khoán. Nhìn chung những doanh nghiệp này hiện đều là những doanh nghiệp hoạt động có lợi nhuận và khai th cá đ ử ợc lợi thế về nguồn nhân lực dồi dào với gi árẻ của Việ t Nam cũng nhử một số nguồn tài nguyê n thiê n nhiê n kh cá. Việc tiếp cận đ ử ợc với các nguồn vốn đầu tử và các kinh nghiệm quản lý nhờ sự thành lập và hoạt động của một quỹ đầu tử mạo hiểm sẽ cho phép các doanh nghiệp tử nhân đẩy nhanh nhịp độ ph tá triển. Mặc dù cho tới nay các quỹ đầu tử mạo hiểm đang hoạt động rất thành công ở các nử ớc kh cá trong khu vực song kết quả hoạt động của chúng ở Việ t Nam lại thật đáng thất vọng. Các quỹ tại các nử ớc xung quanh hoạt động chủ yếu dựa vào thị trử ờng chứ ng khoán trong nử ớc và một thị trử ờng nhử vậy lại hoàn toàn chử a có mặt ở Việ t Nam. Ngử ợc lại, các quỹ ở Việ t Nam phải tự mở rộng bộ máy và phạm vi hoạt động của mình ra nử ớc ngoài để thu hút thê m các nguồn vốn bằng ngoại tệ mạnh và vì vậy luôn phải đối phó với nguy cơ ph ági ácủa đồng Việ t Nam. Hơn nữa bởi trong bộ máy hoạt động của quỹ, nhân viê n ngử ời Việ t chỉ đảm nhiệm những vị trí không quan trọng nê n chính các quỹ đã tự hạn chế mình tiếp cận với mạng lử ới hoạt động và các kh cáh hàng trong nử ớc . Và cuối cùng, các tác giả đã đi đến kết luận rằng các nhu cầu vốn ở Việ t Nam đã đạt tới mứ c đáng kể để có thể thành lập một quỹ đầu tử mạo hiểm của Việ t Nam. Theo quy định của Luật Đ ầu tử trong nử ớc, quỹ có thể huy động tới 30% vốn từ một định chế tài chính quốc tế và phần còn lại phải do đóng góp của các tổ chứ c Việ t Nam. Nghiê n cứ u sơ bộ đã chứ ng tỏ cho khả năng có thể biến ý tử ởng này thành hiện thực. Các tổ chứ c quốc tế nhử MPDF và IFC có thể đóng góp một phần quan trọng thông qua việc tiếp tục nghiê n cứ u khả thi cùng với cung cấp những trợ giúp về kỹ thuật. XIV XV Tóm tắ t Báo cáo này do Adam Sack và John McKenzie viết trong thời gian từ tháng 5 đến tháng 6 năm 1998, theo yê u cầu của MPDF, với mục tiê u xem xét sơ bộ tính khả thi của việc thành lập một Quỹ đầu tử mạo hiểm mới, độc lập, có khả năng ph tá triển về mặt thử ơng mại ở Việ t Nam. Một quỹ đ ầu tử mạo hiểm sẽ là một đ ối tác phù hợp, hỗ trợ sự phát triển của khu vực tử nhâ n Việt Nam. Việc thành lập một Quỹ đầu tử mạo hiểm là một cách để giải quyết vấn đề thiếu vốn đầu tử ph tá triển dài hạn của các công ty thuộc khu vực tử nhân Việ t Nam. Đ iều này còn tạo ra một cơ chế bắc cầu giữa các công ty tử nhân với thị trử ờng chứ ng khoán sắp ra đời của Việ t Nam. Một Quỹ đầu tử mạo hiểm đ ử ợc xem là một đối tác có tổ chứ c phù hợp với các công ty vừa và nhỏ của Việ t Nam, bởi vì bê n cạnh việc cung cấp vốn, quỹ này thử ờng có quan hệ chặt chẽ với các công ty nhận vốn đầu tử của họ để tăng cử ờng quản lý và ph tá triển các tài sản. Các quỹ đ ầu tử mạo hiểm đ ã hoạt đ ộng nhiều nă m trên thị trử ờng các nử ớc láng giềng. Các Quỹ đầu tử mạo hiểm đã hoạt động trê n thị trử ờng các nử ớc láng giềng khu vực Đ ông Nam á nhử Inđônê sia, Malaysia và Th iá lan. ở các nử ớc này, trử ớc khi Quỹ đầu tử mạo hiểm đ ử ợc thành lập đã tồn tại môi trử ờng thuận lợi có tổ chứ c cho các doanh nghiệp tử nhân, có thị trử ờng chứ ng khoán đang hoạt động và hệ thống ph pá lý, chế định cho các tổ chứ c tài chính phi ngân hàng. Các thị trử ờng chứng khoán đ ang tă ng trử ởng đ ã đ em lại lợi nhuận cao. Không có các số liệu công bố về số lợi nhuận này. Bằng chứ ng thu đ ử ợc, cụ thể là từ Th iá Lan, đã cho thấy rằng ngay trử ớc cuộc khủng hoảng tài chính gần đây một số quỹ đã dành đ ử ợc những khoản lợi nhuận đầy ấn tử ợng. Việ t Nam có ít nguồn vốn chế định cho cổ phần tử nhân và chỉ có một lử ợng nhỏ trong số này đ ử ợc dùng làm vốn mạo hiểm trong nử ớc. Cho đến nay, việc cung cấp vốn cho c cá doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn là lã nh địa của một số ít ỏi c cá quỹ đầu tử nử ớc ngoài (hiện tại là bốn) đ ử ợc thành lập dử ới hình thứ c c cá tổ chứ c đầu tử của Mỹ và Châu  u trong những năm bùng nổ đầu thập niê n 90. Một năm trử ớc đây, có 6 quỹ hoạt động ở Việ t Nam, nhử ng một quỹ (Lazard) đã rút và một quỹ (Templeton) đã chuyển thành quỹ khu vực. Hai trong số các quỹ còn lại (Vietnam Fund và Vietnam Enterprise Investments Fund-Vietnam Dragon Capital) mới chỉ đầu tử vào 12 công ty trong nử ớc. Số các quỹ còn lại chỉ đầu tử XVI vào c cá doanh nghiệp có vốn đầu tử nử ớc ngoài, đặc biệ t là c cá công ty liê n doanh. Hoạt đ ộng của các quỹ ở Việt Nam đ ang gâ y thất vọng. Không quỹ nào thu hồi vốn đầu tử thành công cho dù có quỹ đã tồn tại 4 năm hoặc lâu hơn, và khi tập hợp lại thì trong mỗi danh mục đầu tử đã có một vài dự án đầu tử đang bị thiệ t hại. Có một số lý do dẫn tới tình hình này, đó là do cơ cấu và c cá chiến lử ợc cụ thể của c cá quỹ này. Không có một thị trử ờng chứ ng khoán, các quỹ này bị hạn chế kê nh thu hồi vốn đầu tử . Môi trử ờng của khu vực t ử nhân không thuận lợi, cho dù môi trử ờng này dử ờng nhử đang đ ử ợc cải thiện từng b ử ớc. Cho đến gần đây, ngử ời nử ớc ngoài chính thứ c vẫn ch ử a đ ử ợc phép đầu tử [mua cổ phần của] c cá công ty trong nử ớc. C cá quỹ này đ ử ợc xây dựng thành c cá bộ máy đầu tử hải ngoại nhằm thu hút vốn đôla Mỹ. Do vậy, họ đã chịu rủi ro là đồng tiền của Việ t Nam bị ph ági .á Các hạn chế kh cá đối với hoạt động của c cá quỹ này chính là kinh nghiệm bị hạn chế của c cá nhà quản lý trong hoạt động đầu tử vốn mạo hiểm, và khi c cá nhà quản lý là ngử ời nử ớc ngoài thì đó chính là những hạn chế về các mối quan hệ và hệ thống giao dịch. Đ ề nghị mà báo cáo này đử a ra nhằm rút ra kinh nghiệm bằng việc xây dựng cơ cấu cho một quỹ thật cẩn thận nhằm tránh một số trở ngại mà c cá quỹ đầu tử hiện đang gặp phải. Trong giai đ oạn phát triển hiện nay của khu vực tử nhâ n Việt Nam, nhu cầu lớn về vốn mạo hiểm đ ã xuất hiện. Hiện tại có khoảng 24.000 công ty tử nhân đã đăng ký, trong đó có 7.000 công ty tr cáh nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần mà theo giả thiết sẽ có quy mô thu hút sự quan tâm của một Quỹ đầu tử mạo hiểm. Nếu những mục tiê u hiện tại về cổ phần ho ácủa Chính phủ đ ử ợc thực hiện, sẽ có thê m khoảng 1.500-1.700 công ty đử ợc cổ phần hoá gia nhập đội quân này vào cuối năm 2000. C cá công ty của Việ t Nam có những lợi thế so sánh trong một số ngành do tính sẵn có của c cá tài nguyê n thiê n nhiê n và nguồn lao động lành nghề với chi phí thấp. Có c cá công ty tăng trử ởng cao, sẵn sàng tiếp nhận công nghệ, c cá mô hình kinh doanh đã đ ử ợc kiểm chứ ng và có tiềm năng đử ợc niê m yết trê n sở giao dịch chứ ng khoán. Cụ thể, điều này đã đ ử ợc chứ ng minh bằng kinh nghiệm ph tá triển dự án của MPDF. Gần nhử công ty tử nhân nào trong nử ớc cũng đều thiếu vốn đầu tử và không có cơ hội tiếp cận vốn đầu tử dử ới hình thứ c vốn cổ phần hay vay ngân hàng dài hạn. Theo quan đ iểm của một nhà đ ầu tử , nhu cầu này đ ã bị hạn chế bởi một số trở ngại. Trở ngại quan trọng nhất là tính minh bạch; cho đến nay vẫn chử a có c cá chuẩn mực kế toán quốc tế và c cá quy định bắt buộc về kiểm toán. Do môi trử ờng thuế và môi trử ờng điều tiết khắt khe đối với khu vực tử nhân, c cá công ty có xu hử ớng bảo vệ quyền lợi của họ bằng c cáh giữ bí mật. Trong những XVII điều kiện nh ử vậy, c cá Quỹ đầu tử mạo hiểm sẽ gặp nhiều khó khăn hơn trong việc đánh giá các công ty trử ớc khi đầu tử , và sau đó là trong việc giám sát và củng cố các các công ty này. Thiếu một môi trử ờng ph pá lý chín muồi cũng là một trở ngại quan trọng. Đ ã có một quy định ph pá lý liê n quan tới c cá công ty, nhử ng nó vẫn đang trong qu átrình ph tá triển, và phần lớn quy định này vẫn ch ử a đ ử ợc kiểm chứ ng. Đ iều này hoàn toàn tr iá ngử ợc với c cá thị trử ờng trong khu vực, nơi đã có hệ thống ph pá lý và c cá chuẩn mực kế toán. Cho dù ở các thị trử ờng này các quy định đó vẫn th ử ờng xuyê n bị bỏ qua một c cáh ngang nhiê n. Quỹ hải ngoại có một số bất lợi về cơ cấu. Cơ cấu c cá quỹ đang tồn tại đã sử dụng chử a hiệu quả lắm để phục vụ các công ty tử nhân trong nử ớc. C cá quỹ phải chịu rủi ro tỷ gi áhối đo iá. Họ chỉ đ ử ợc phép nắm giữ phần thiểu số các cổ phần của c cá công ty trong nử ớc (tối đa 30%), và không có quyền kiểm soát cao. Vì các quỹ này do ngử ời nử ớc ngoài quản lý, nê n c cá nguồn lực quan trọng là mối quan hệ và hệ thống giao dịch bị hạn chế. Dử ờng nhử một quỹ đ ầu tử nội đ ịa lại có khả nă ng tồn tại và phát triển cao hơn. Sự lựa chọn với nhiều khả năng ph tá triển cao hơn và một đề nghị mà nghiê n cứ u gần đây đ ử a ra là thành lập một quỹ đầu tử nội địa. Quỹ này sẽ huy động vốn từ c cá tổ chứ c của Việ t Nam, nhử ng quỹ này cũng có thể huy động tối đa 30% vốn ban đầu từ một tổ chứ c tài chính quốc tế (theo quy định của Luật Đ ầu tử trong nử ớc). Quỹ này sẽ không bị hạn chế về quy mô đầu tử cổ phần hoặc c cá chứ c vụ có liê n quan tới việc kiểm soát công ty nhận đầu tử . Nó có thể huy động vốn và đầu tử bằng đồng tiền Việ t Nam để tránh các rủi ro về tỷ gi áhối đo iá. Quỹ này có thể do đội ngũ chuyê n gia quản lý ngử ời Việ t Nam điều hành có c cá lợi thế lớn hơn trong việc giao dịch, c cá mối quan hệ và khả năng giám sát một cách hiệu quả hơn. Đ ội ngũ quản lý này có thể sẽ đ ử ợc hỗ trợ về mặt kỹ thuật (ít nhất là trong giai đoạn đầu) của c cá chuyê n gia quản lý vốn mạo hiểm quốc tế có kinh nghiệm (có thể do một công ty trong khu vực cử đến). Quỹ nội địa này cũng có thể phục vụ c cá mục tiê u của Chính phủ trong việc huy động vốn và ph tá triển năng lực trong nử ớc. Tuy vậy, vẫn có một số vấn đ ề quan trọng đ ối với quỹ nội đ ịa. Thị trử ờng chứ ng khoán là kê nh thu hồi vốn đầu tử chủ yếu của vốn mạo hiểm. Cần phải xem xét khả năng ra đời của thị trử ờng chứ ng khoán Việ t Nam, chẳng hạn là trong thời gian 3-4 năm nữa (thời gian cần thiết để thành lập một quỹ, thực hiện một số đầu tử , và có đ ử ợc một quỹ sẵn sàng hoạt động), trử ớc khi có thể thành lập một quỹ đầu tử loại này. Cũng có c cá kê nh kh cá thay thế cho thị trử ờng chứ ng khoán. Ví dụ nhử cơ cấu một khoản đầu tử nhử một khoản vốn mà sau đó công ty XVIII nhận đầu tử phải hoàn lại trử ớc khi giải ngân toàn bộ. Hình thứ c này chỉ pá dụng đối với một số công ty có khả năng tạo nhiều tiền mặt trong những năm đầu hoạt động. Không nê n chỉ dựa hoàn toàn vào hình thứ c này. Vấn đề thứ hai là ở Việ t Nam trử ớc kia chử a hề có ý tử ởng về việc thành lập một quỹ nội địa. Vì hệ thống ph pá lý và chế định chử a đ ử ợc kiểm chứ ng, nê n sự phê chuẩn chính thứ c để thành lập một quỹ nội địa là cần thiết. Việc phê chuẩn sẽ đề cập tới một số vấn đề nhạy cảm nhử thuế, do vậy khó mà tự động thành lập một quỹ nhử vậy. Vấn đề thứ ba là chúng tôi chử a kiểm chứ ng một c cáh đầy đủ rằng liệu c cá tổ chứ c của Việ t Nam có dử tiền để đầu tử hay không, liệu họ có chấp nhận việc đầu tử vào quỹ với các điều kiện về thời hạn đầu tử và mứ c rủi ro hay không. Tuy vậy, những cuộc điều tra sơ bộ cho thấy rằng có thể đã hội đủ sự quan tâm về vấn đề này. Một quỹ nội địa vẫn cần đến sự hỗ trợ của một tổ chứ c tài chính quốc tế, cung cấp một lử ợng vốn hạt giống, cung cấp hỗ trợ kỹ thuật và giúp kê u gọi hỗ trợ chính thứ c. Các bử ớc tiếp theo. Nếu MPDF và IFC quyết định xây dựng đề nghị thành lập một Quỹ đầu tử mạo hiểm nội địa, thì cần phải thực hiện một nghiê n cứ u khả thi chuyê n sâu. Nghiê n cứ u này có thể bao gồm những nội dung sau: ã Khảo s tá về các tổ chứ c đầu tử tiềm năng của Việ t Nam; ã Hồi âm từ c cá tổ chứ c tài chính quốc tế về sự quan tâm của họ trong việc tham gia; ã Tìm kiếm c cá chuyê n gia quản lý cao cấp của Việ t Nam; ã Khảo s tá nhằm đánh giá nhu cầu của c cá công ty trong nử ớc; ã Một thời gian biểu cho việc thành lập thị trử ờng chứ ng khoán; ã Đ ầu vào ph pá lý cho việc x cá định cơ cấu của quỹ và qui trình phê chuẩn cần thiết; ã Đ iều tra về các vấn đề thuế với c cá nhân viê n kế toán; ã Thông tin phản hồi từ c cá cơ quan hữu quan về mứ c độ ủng hộ (Ngân hàng nhà nử ớc, Bộ Tài chính, Thủ t ử ớng). ã Một kế hạch kinh doanh sơ bộ. 1 A. Cá c mục đích nghiên cứu Báo cáo này đánh giá sơ bộ về tiềm năng của một Quỹ đầu tử mạo hiểm mới, có khả năng ph tá triển về mặt thử ơng mại ở Việ t Nam. Trong những năm đầu hoạt động, MPDF đã tìm ra và hỗ trợ một số công ty tử nhân quản lý tốt có tiềm năng tăng trử ởng cao của Việ t Nam. Tuy vậy, trong hầu hết c cá trử ờng hợp, c cá trở ngại chính đối với sự ph tá triển của c cá công ty này là họ không có cơ hội tiếp cận c cá nguồn vốn và tín dụng dài hạn. C cá nguồn vốn dài hạn của c cá ngân hàng Việ t Nam bị hạn chế; chử a có c cá tổ chứ c tài chính phi ngân hàng; và c cá quỹ đầu tử hải ngoại bị hạn chế trong việc mua cổ phiếu của c cá công ty trong nử ớc và họ cũng đã hoàn toàn tránh hình thứ c đầu tử này. Hiện nay, thị trử ờng chứ ng khoán của Việ t Nam đang sắp bắt đầu qu átrình hoạt động (mọi ngử ời hy vọng rằng thị trử ờng sẽ đ ử ợc mở ra trong 1 năm nữa), thời gian này dử ờng nhử là phù hợp để xem xét việc thành lập một Quỹ đầu tử mạo hiểm nhằm vào c cá công ty tử nhân trong nử ớc. Vốn mạo hiểm là một c cáh giải quyết có tiềm năng đáp ứ ng c cá yê u cầu của khu vực t ử nhân thiếu vốn và đói đầu tử của Việ t Nam. Bê n cạnh việc cung cấp vốn đầu tử cổ phần c cá quỹ đầu tử mạo hiểm có liê n quan một c cáh cụ thể tới giai đoạn ph tá triển ban đầu của một doanh nghiệp. Các phử ơng ph pá và mục tiê u đánh giá đầu tử đối với c cá doanh nghiệp vừa và nhỏ của c cá chuyê n gia quản lý vốn mạo hiểm phù hợp hơn c cá phử ơng ph pá và mục tiê u của c cá ngân hàng. Các Quỹ đầu tử mạo hiểm thử ờng là các nhà đầu tử tích cực, phối hợp chặt chẽ với hội đồng quản trị của c cá công ty nhằm ph tá triển năng lực và ph tá triển tài sản. Họ cũng hỗ trợ các công ty nhận vốn đầu tử chuẩn bị niê m yết trê n thị trử ờng chứ ng khoán đề huy động vốn nhiều hơn nữa. Việc thành lập một Quỹ đầu tử mạo hiểm không chỉ phù hợp với mục tiê u huy động vốn đầu tử mở rộng các công ty tử nhân, mà còn tạo ra mối liê n hệ cần thiết giữa c cá công ty này với thị trử ờng chứ ng khoán. Báo cáo này đề cập tới c cá điều kiện tiê n quyết của việc thành lập một Quỹ đầu tử mạo hiểm ở Việ t Nam. Báo cáo xem xét kinh nghiệm c cá nử ớc trong khu vực, đánh giá tình hình cung vốn mạo hiểm ở Việ t Nam và nhu cầu tiềm năng về vốn mạo hiểm của các công ty tử nhân trong nử ớc, nghiê n cứ u hệ thống ph pá lý và chế định đối với c cá Quỹ đầu tử mạo hiểm. Báo cáo này kết thúc bằng một số kết quả và c cá kiến nghị, đ ử a ra c cá bử ớc tiếp theo trong trử ờng hợp MPDF và IFC, hoặc c cá tổ chứ c kh cá thấy đ ử ợc gi á trị của việc tiếp tục thực hiện ý tử ởng này. 2 4B. Vốn mạ o hiểm là gì? Có hai định nghĩa về vốn mạo hiểm đ ử ợc sử dụng rộng rã i, định nghĩa rộng và định nghĩa hẹp. Đ ịnh nghĩa rộng Vốn mạo hiểm là nguồn tài chính cung cấp cho c cá công ty tử nhân dử ới hình thứ c vốn cổ phần hoặc c cá khoản đầu tử gần giống nhử vốn cổ phần có thời hạn trê n trung bình (3-5 năm). Số cổ phần dành đ ử ợc tron
Tài liệu liên quan