Bài giảng Yếu tố chính trị và luật pháp trong môi trường kinh doanh quốc tế

Xét dưới góc độ nội dung, phương thức tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị, thì chế độ chính trị là cơ chế vận hành của hệ thống chính trị. Xét dưới góc độ cấu trúc, thì chế độ chính trị bao gồm: bộ máy nhà nước, luật pháp, đảng cầm quyền, các tổ chức chính trị - xã hội khác và các thể chế kinh tế, chính trị, xã hội nhằm bảo vệ quyền lực của giai cấp cầm quyền. Xét dưới góc độ hình thức của nhà nước, thì chế độ chính trị là phương thức cai trị, quản lý xã hội của giai cấp cầm quyền - phương thức dân chủ hay chuyên chế, Xem xét dưới góc độ pháp luật thì chế độ chính trị là những định chế pháp luật bao gồm: hiến pháp, luật và những quy định dưới luật nhằm duy trì và bảo vệ chế độ đương thời và quyền lợi của giai cấp cầm quyền.

ppt52 trang | Chia sẻ: haohao89 | Ngày: 15/06/2013 | Lượt xem: 839 | Lượt tải: 1download
Tóm tắt tài liệu Bài giảng Yếu tố chính trị và luật pháp trong môi trường kinh doanh quốc tế, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Chính trị và kinh doanh – những vấn đề gợi mở Chính trị và luật pháp - yếu tố không thể tách rời hoạt động kinh doanh Kiến trúc thượng tầng và những bảo đảm Nhóm lợi ích và những cơ hội cho các doanh nhân Đề cương Khái niệm, nguồn gốc, hình thức và tác động của rủi ro chính trị Các biện pháp ngăn ngừa rủi ro chính trị Các hệ thống luật pháp phổ biến trên thế giới Một số vấn đề luật pháp quốc tế cơ bản Mục tiêu nghiên cứu Phân biệt các hệ thống chính trị Xác định được các nguyên nhân gây rủi ro chính trị và hạn chế được các rủi ro đó. Các hệ thống pháp luật và giải thích sự khác nhau giữa chúng. Mô tả các vấn đề pháp luật cơ bản mà các công ty quốc tế đang phải đối mặt. Giải thích các mối quan hệ quốc tế ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh quốc tế. Một số khái niệm cơ bản về hệ thống chính trị Chính trị Những quan điểm, tư tưởng, học thuyết, cương lĩnh, đường lối của chính đảng, là chính sách, luật pháp của nhà nước của giai cấp cầm quyền Những hoạt động và cùng với nó là mối quan hệ giữa các giai cấp, tầng lớp và giữa các dân tộc liên quan tới quá trình giành, giữ, tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước. Chế độ chính trị Nội dung, phương thức tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị của một quốc gia, mà trọng tâm là của nhà nước Biểu hiện rõ nét nhất trong: mô hình tổ chức của nhà nước hiến pháp Quy định về nguồn gốc và tính chất của quyền lực và mối quan hệ giữa các cơ quan quyền lực nhà nước, về mối quan hệ giữa nhà nước với công dân và các đảng phái chính trị, cũng như với các tổ chức xã hội, giữa các giai cấp, các tầng lớp xã hội, giữa các dân tộc trong nước Chế độ chính trị Mỗi hình thái kinh tế xã hội có thể có một số chế độ chính trị tương ứng, nhưng hình thái kinh tế - xã hội và chế độ chính trị không hoàn toàn đồng nhất với nhau. Chế độ chính trị có thể được xem xét dưới một số góc độ sau Xét dưới góc độ nội dung, phương thức tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị, thì chế độ chính trị là cơ chế vận hành của hệ thống chính trị. Xét dưới góc độ cấu trúc, thì chế độ chính trị bao gồm: bộ máy nhà nước, luật pháp, đảng cầm quyền, các tổ chức chính trị - xã hội khác và các thể chế kinh tế, chính trị, xã hội nhằm bảo vệ quyền lực của giai cấp cầm quyền. Xét dưới góc độ hình thức của nhà nước, thì chế độ chính trị là phương thức cai trị, quản lý xã hội của giai cấp cầm quyền - phương thức dân chủ hay chuyên chế,… Xem xét dưới góc độ pháp luật thì chế độ chính trị là những định chế pháp luật bao gồm: hiến pháp, luật và những quy định dưới luật nhằm duy trì và bảo vệ chế độ đương thời và quyền lợi của giai cấp cầm quyền. Hệ thống chính trị Quan niệm thứ nhất: hệ thống quyền lực của giai cấp cầm quyền, nghĩa là hệ thống chính trị chỉ bao gồm các tổ chức chính trị - xã hội do giai cấp cầm quyền đặt ra để bảo vệ quyền lực và lợi ích của chính giai cấp cầm quyền. Các tổ chức chính trị - xã hội khác không được coi là thành tố của hệ thống chính trị. Quan điểm thứ hai: không chỉ là hệ thống chuyên chính của giai cấp cầm quyền mà là tất cả các tổ chức chính trị - xã hội hợp pháp hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến quyền lực thống trị của giai cấp thống trị. Thể chế và thiết chế Thể chế và thiết chế đều là phạm trù xã hội, Thuật ngữ "xã hội" thường được hiểu theo hai nghĩa, nghĩa rộng là toàn bộ đời sống xã hội và nghĩa hẹp là lĩnh vực xã hội của đời sống. Thể chế Thể chế theo nghĩa rộng là khái niệm dùng để chỉ một hệ thống những quy định, luật lệ, giá trị, chuẩn mực hợp thành những nguyên tắc tổ chức và phương thức vận hành của một xã hội ở một giai đoạn phát triển nhất định của lịch sử. Theo nghĩa này, thể chế bao gồm: thể chế kinh tế, chính trị, xã hội và văn hoá tinh thần. Thể chế theo nghĩa hẹp là khái niệm dùng để chỉ một hệ thống những quy định, luật lệ, giá trị, chuẩn mực hợp thành những nguyên tắc tổ chức, phương thức vận hành của một lĩnh vực hoặc một cấu trúc xã hội nào đó của xã hội ở một giai đoạn phát triển lịch sử nhất định. Thiết chế Nghĩa rộng là khái niệm dùng để chỉ một hệ thống các yếu tố phù hợp với thể chế tương ứng, hợp thành một xã hội. Với ý nghĩa này, thiết chế cũng bao gồm: thiết chế kinh tế, chính trị, xã hội và văn hoá - tinh thần. Nghĩa hẹp là khái niệm dùng để chỉ một hệ thống các yếu tố phù hợp với thể chế tương ứng, hợp thành một lĩnh vực hoặc một cấu trúc xã hội nào đó của xã hội. Thể chế là những chuẩn mực quy định sự hình thành và phương thức vận hành của một lĩnh vực, một cấu trúc và của toàn xã hội; còn thiết chế là cốt vật chất của một lĩnh vực, một cấu trúc, hay của xã hội đó. Thể chế chính trị Hệ thống các định chế, các giá trị tạo thành những nguyên tắc tổ chức và phương thức vận hành của một chế độ ctrị, của hệ thống ctrị. Thể chế ctrị bao gồm: thể chế nhà nước, thể chế các đảng ctrị, thể chế các tổ chức ctrị - xh. Thể chế nhà nước là những chế định pháp luật có tính cưỡng chế buộc mọi người, mọi tổ chức phải tôn trọng và chấp hành. Thể chế các đảng ctrị, các tổ chức ctrị - xh là những điều lệ, nghị định, quy định nguyên tắc tổ chức và phương thức hoạt động của các tổ chức đó. Thể chế chính trị là hình thức thể hiện các thành tố của hệ thống chính trị thuộc thượng tầng kiến trúc. Song thể chế chính trị lại đồng thời là cơ sở ctr - xh quy định tính chất, nội dung của chế độ xã hội. Hiệu lực, vai trò của thể chế ctrị tuỳ thuộc vào hiệu lực và vai trò của từng thể chế trong hệ thống ctrị cũng như của cơ chế vận hành của toàn hệ thống, trong đó thể chế nhà nước là quan trọng nhất. Thể chế quân chủ Thể chế quy định và bảo đảm quyền lực tối cao của nhà nước tập trung toàn bộ hay một phần trong tay người đứng đầu nhà nước (vua, hoàng đế) theo nguyên tắc kế thừa. Thể chế quân chủ được phân ra thành các loại: quân chủ tuyệt đối, quân chủ nhị nguyên, quân chủ đại nghị. Quân chủ tuyệt đối Thể chế chính trị mà ở đó quyền chuyên chế, độc tài, không hạn chế thuộc về nhà vua. Trong xã hội hiện đại, thể chế này hầu như không còn tồn tại. Thể chế quân chủ nhị nguyên Thể chế chính trị mà quyền lực được chia đều cho nhà vua và nghị viện. Tuy nhiên nhà vua thường lấn át nghị viện, và trong nhiều trường hợp nhà vua giải tán nghị viện vô thời hạn để độc quyền quyền lực nhà nước. Thể chế quân chủ đại nghị Vua đứng đầu nhà nước nhưng quyền lực lại tập trung trong tay nghị viện. Quyền lực của nhà vua chủ yếu mang tính hình thức - "trị vì nhưng không cai trị". Nghị viện là cơ quan quyền lực tối cao, có quyền thành lập và giải tán chính phủ. Chính phủ chịu trách nhiệm trước nghị viện. Song trên thực tế, quyền lực tập trung vào người đứng đầu của cơ quan hành pháp Vua là người đứng đầu nhà nước, là biểu tượng của sự thống nhất phi chính trị và không thiên vị. Thể chế quân chủ đại nghị thi hành chủ nghĩa lưỡng viện, song trên thực tế hầu như tất cả quyền lập pháp tập trung vào hạ viện. Hạ viện chẳng những có quyền tối cao về lập pháp mà còn có quyền thành lập và bãi miễn chính phủ; kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ quan hành pháp và tư pháp. Thể chế chính trị quân chủ đại nghị thừa nhận chế độ đa đảng. Thể chế chính trị cộng hoà Xét về bản chất, quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, chính quyền do dân bầu ra Ở các nước theo thể chế cộng hòa, nhìn chung quyền lực nhà nước được tổ chức theo nguyên tắc "tam quyền phân lập”  Thể chế cộng hoà có ba loại: Cộng hoà tổng thống; Cộng hoà đại nghị; Cộng hoà lưỡng tính Ngoài ra còn có mô hình cộng hoà xô-viết Thể chế cộng hoà tổng thống Tổng thống vừa là nguyên thủ quốc gia, vừa là người đứng đầu cơ quan hành pháp, nắm trọn quyền hành pháp. Tổng thống tự thành lập chính phủ, các thành viên chính phủ do tổng thống cử ra và chịu trách nhiệm trước tổng thống. Trong thể chế này, quyền hành pháp có phần lấn át quyền lập pháp và quyền tư pháp. Điển hình cho thể chế cộng hoà tổng thống là thể chế chính trị ở Mỹ, Nga. Nhưng như ở Mỹ, do thi hành chế độ lưỡng viện cân bằng và quốc hội không bị giải tán bởi tổng thống, nên quốc hội có thực quyền và trở thành đối trọng, kiềm chế tổng thống. Còn ở thể chế chính trị liên bang Nga, tổng thống có quyền giải tán Đuma, mặc dù Đuma do dân bầu ra, có quyền lớn hơn Hội đồng liên bang (thượng viện) Thể chế cộng hoà đại nghị Quyền lực nhà nước tập trung vào nghị viện - cơ quan do dân trực tiếp bầu ra. Nghị viện có quyền thành lập chính phủ, bầu tổng thống, đồng thời có thể bãi miễn chính phủ, tổng thống và cơ quan tư pháp. Tổng thống, chính phủ hoạt động và chịu trách nhiệm trước nghị viện. Thể chế cộng hoà lưỡng tính (hỗn hợp) Tổng thống và nghị viện đều do nhân dân bầu ra. Tổng thống toàn quyền hành pháp, có quyền giải tán nghị viện. Nghị viện có quyền can thiệp vào quá trình thành lập chính phủ, buộc tổng thống phải bổ nhiệm lãnh tụ của đảng đa số trong nghị viện làm thủ tướng, nghĩa là tổng thống phải chia sẻ quyền lực với nghị viện. Quyền lực tập trung vào tổng thống. Tổng thống chi phối mọi hoạt động của cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp. Khi liên minh đảng của tổng thống chiếm đa số trong hạ viện thì quyền lực của tổng thống gần như tuyệt đối. Khi phe đối lập chiếm đa số trong hạ viện thì quyền lực của tổng thống bị hạn chế. Thể chế cộng hoà xã hội chủ nghĩa quyền lực nhà nước là thống nhất nhưng có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan quốc hội, chính phủ, toà án nhân dân và viện kiểm sát nhân dân trong việc thực hiện ba quyền lập, hành và tư pháp quyền lực tối cao thuộc về quốc hội. Quốc hội có quyền thành lập chính phủ, bầu chủ tịch nước, các cơ quan tư pháp, hội đồng quân sự trung ương, có quyền quyết định những vấn đề hệ trọng của đất nước như tuyên bố chiến tranh hay hoà bình; có quyền giám sát tối cao việc thi hành pháp luật. Chính phủ là cơ quan hành pháp chịu trách nhiệm trước quốc hội, thực thi vai trò quản lý hành chính và bảo đảm sự thống nhất từ trung ương tới địa phương. Trong thể chế chính trị xã hội chủ nghĩa có thể có chế độ đa đảng, song trên thực tế vẫn duy trì chế độ một đảng (Cộng sản) lãnh đạo. ảnh hưởng của hệ thống chính trị đối với kinh doanh Một hệ thống chính trị ổn định là môt sự bảo đảm an toàn về xã hội, về tính mạng và tài sản cho các doanh nhân. một hệ thống chính trị lành mạnh và công bằng thì các hoạt động kinh doanh mới thực sự minh bạch và đem lại hiệu quả kinh tế xã hội cao. thuận lợi về thu hút các nguồn lực trong và ngoài nước đổ vào kinh doanh, góp phần tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế và tạo ra tỷ xuất lợi tức cao cho các nhà đầu tư. Một hệ thống chính trị tiến bộ, nhất thiết phải là một hệ thống chính trị tạo ra được một sân chơi bình đẳng, an toàn và minh bạch cho các hoạt động kinh tế ứng xử của doanh nhân với hệ thống chính trị Hệ thống chính trị chuyên chế? Hệ thống chính trị tự do? … Rủi ro chính trị Rủi ro chính trị là những nguy cơ hoặc thiệt hại cho doanh nghiệp có nguyên nhân bắt nguồn từ những biến động chính trị bất thường gây ra. Rủi ro chính trị phát sinh là do nhiều nguyên nhân. bao gồm những nguyên nhân:  Sự lãnh đạo chính trị yếu kém  Chính quyền bị thay đổi thường xuyên  Sự dính líu đến chính trị của các nhà lãnh đạo tôn giáo và quân đội  Hệ thống chính trị không ổn định  Những vụ xung đột về chủng tộc, tôn giáo, và các dân tộc thiểu số Sự liên kết kém chặt chẽ giữa các quốc gia Phân loại rủi ro chính trị Rủi ro vĩ mô đe doạ đến tất cả các doanh nghiệp không trừ một ngành nào. Rủi ro vĩ mô ảnh hưởng đến hầu hết các công ty – cả doanh nghiệp trong và ngoài nước. Rủi ro chính trị vĩ mô xẩy ra trên diện rộng, nó tác động và ảnh hưởng lâu dài, thậm chí làm thay đổi cục diện và phương thức kinh doanh của nhiều doanh nghiệp, nhiều ngành, nhiều lĩnh vực Rủi ro vi mô tác động đến những công ty thuộc một ngành nào đó Hậu quả mà rủi ro chính trị gây ra  Xung đột và chiến tranh  Khủng bố và bắt cóc  Chiếm đoạt tài sản  Chính sách thay đổi  Những đòi hỏi của địa phương Chiếm đoạt tài sản Tịch thu. Tịch thu là việc chuyển tài sản của công ty vào tay chính phủ mà không có sự đền bù nào cả. Thông thường không có cơ sở pháp lý yêu cầu đền bù hoặc hoàn trả lại tài sản. Xung công. Xung công là quá việc chuyển tài sản của tư nhân vào tay chính phủ nhưng được đền bù. Quốc hữu hoá. Quốc hữu hoá phổ biến hơn xung công và tịch thu. Trong khi xung công áp dụng đối với một hoặc một số công ty nhỏ trong một ngành, thì quốc hữu hoá diễn ra đối với toàn bộ ngành. Quốc hữu hoá là việc Chính phủ đứng ra đảm nhiệm cả một ngành. Quốc hữu hóa được các chính phủ áp dụng vì 4 lý do sau Chính phủ phải quốc hữu hoá những ngành mà họ cho rằng các công ty nước ngoài chuyển lợi nhuận tới đầu tư ở những nước khác có tỷ lệ thuế thấp. Quốc hữu hoá trao cho chính phủ quyền kiểm soát luồng tiền tạo ra bởi ngành này. Chính phủ tiến hành quốc hữu hoá một ngành bởi vì tư tưởng lãnh đạo. Ví dụ một đảng lãnh đạo cho rằng có thể bảo vệ được một ngành thông qua trợ giúp của chính phủ. Đó là quan điểm của đảng Lao Động Anh quốc áp dụng trong suốt chiến tranh thế giới thứ II. Quốc hữu hoá đôi khi là công cụ chính trị. Nhà nước hứa là sẽ đảm bảo việc làm nếu được quốc hữu hoá. Quốc hữu hoá có lẽ là giải pháp trợ giúp những ngành mà các công ty tư nhân không muốn hoặc không có khả năng đầu tư, chẳng hạn như đầu tư vào những ngành công cộng. Chính phủ thường kiểm soát ngành công cộng và tài trợ hoạt động cho các ngành này từ thuế. Quản lý (hạn chế) rủi ro chính trị Có năm phương pháp quản lý rủi ro chính trị đó là: né tránh, thích nghi, phụ thuộc, thu thập thông tin, và những chính sách của địa phương. Né tránh Né tránh đơn giản là hạn chế đầu tư vào những khu vực có nguy cơ cao về biến động chính trị. Các công ty thường không đầu tư hoặc rút vốn khỏi những nước có sự bất ổn cao về chính trị. Thích nghi Kết hợp chặt chẽ rủi ro với clkd, thường được giúp đỡ của các quan chức địa phương. Một nguyên tắc thường được các doanh nhân nhìn nhận đó là: ở đâu có rủi ro cao thì ở đó cũng đồng thời có cơ hội thu lợi nhuận cao. Phương cách thích nghi: Vốn nợ và vốn cổ phần ở địa phương: Thực chất đây là cách thức lôi kéo và chia sẻ rủi ro kinh doanh với các thế lực là ngòi nổ của các rủi ro ctrị. Rủi ro được giảm xuống bởi vì các đối tác ở địa phương nhận được lợi ích. Trợ giúp phát triển. Trợ giúp phát triển cho phép các công ty nước ngoài trợ giúp các công ty trong nước hoặc khu vực trong phát triển mạng lưới thông tin và giao thông, cải thiện chất lượng cuộc sống ở địa phương. Bởi vì khi đó các công ty và quốc gia đó trở thành đối tác của nhau và cả hai bên cùng có lợi. Mức trợ giúp có sự thay đổi sâu sắc. Đối với các dự án nhỏ, các công ty xây dựng nhà cho người lao động. Đối với các dự án lớn, các hãng có thể chi ra hàng triệu đô là để xây trường học, bệnh viện và nâng cấp cơ sở hạ tầng. Bảo hiểm các công ty mua bảo hiểm để chống lại rủi ro chính trị tiềm ẩn. Duy trì mức độ phụ thuộc Thông thường, một công ty duy trì sự phụ thuộc nước sở tại vào hoạt động của nó. Công ty phải tiếp cận theo ba hướng để giải quyết vấn đề này: Giải thích cho người dân và các quan chức địa phương tầm quan trọng của họ đối với phát triển kinh tế và nâng cao chất lượng cuộc sống. Hay nói cách khác, họ minh chứng được địa phương nhận được lợi ích qua hoạt động của công ty nước ngoài. Các công ty nước ngoài cố gắng sử dụng nguyên vật liệu, công nghệ và một phần nguồn lực sẵn có của địa phương. Họ cố gắng thuyết phục bất kỳ một sự chiếm đoạt tài sản cũng gây ra khó khăn trong kinh doanh. Nếu công ty đủ mạnh và đủ lớn, nó có thể nhận được toàn bộ quyền kiểm soát kênh phân phối ở địa phương. Nếu nó bị đe doạ, nó có thể từ chối cung cấp cho người tiêu dùng địa phương và người mua là các công ty địa phương. Sinh viên tìm ví dụ cụ thể Thu thập thông tin Các hãng kinh doanh quốc tế phải kiểm soát được thậm trí cố gắng dự đoán trước những sự kiện chính trị đe doạ hoạt động hiện tại và thu nhập trong tương lai. Có hai nguồn dữ liệu cần thiết cho việc dự báo rủi ro chính trị chính xác: Công ty yêu cầu người lao động đánh giá mức độ rủi ro chính trị. Những công nhân có thời gian làm việc ở một nước đủ dài để hiểu được văn hoá và chính trị ở đây, cũng chính vì vậy, đây là nguồn thông tin đáng tin cậy. Một công ty cũng có thể thu thập thông tin từ những hãng chuyên cung cấp những dịch vụ về rủi ro chính trị: Các ngân hàng, Chuyên gia phân tích chính trị, Các ấn phẩm mới xuất bản, và các dịch vụ đánh giá rủi ro. Tất cả những dự đoán rủi ro này đều sử dụng các tiêu thức và phương pháp khác nhau. Nhiều hãng đưa ra các báo cáo rủi ro chính trị chi tiết kể cả mức độ và nguồn gốc rủi ro cho mỗi quốc gia. Bởi vì dịch vụ này khá đắt đỏ, cho nên các doanh nghiệp và công ty nhỏ thường quan tâm những nguồn thông tin miễn phí sẵn có. Ảnh hưởng của chính trị địa phương Các nhà quản lý có thể phải xem xét đến những quy luật và quy định áp dụng trong kinh doanh ở mỗi quốc gia. Hơn nữa, pháp luật ở nhiều quốc gia rất dễ thay đổi, và luật mới ra đời tiếp tục tác động đến doanh nghiệp. Để những ảnh hưởng của địa phương có lợi cho họ, các nhà quản lý đề nghị những định hướng thay đổi có ảnh hưởng tích cực tới họ. Sự tranh thủ - lobby: ảnh hưởng chính trị ở địa phương luôn liên quan đến những nhà làm luật và các chính trị gia, ảnh hưởng này hoặc trực tiếp hoặc thông qua hậu trường. Tác động ở hậu trường là chính sách phản ánh được quan điểm của công ty về chính trị. Những nhà vận động gặp các quan chức địa phương và cố gắng gây tác động đến những vẫn đề liên quan đên công ty của họ. Họ mô tả những lợi ích mà công ty mang lại cho địa phương, môi trường tự nhiên, cơ sở hạ tầng, và nguồn nhân lực. Mục đích cuối cùng của họ là nhận được sử ủng hộ của luật pháp. Tham nhũng - hối lộ: là một phương pháp chiếm được cảm tình từ giới chính trị. Đôi khi nó là phương tiện đê kiếm được những hợp đồng khác nhau và tiếp cận được những thị trường nhất định. Vật hối lộ có thể là “bất kỳ cái gì có giá”, có thể là tiền, những món quà và những hình thức khác. Thảo luận về sự khác nhau giữa lobby và hối lộ Thảo luận những ảnh hưởng của chính trị đối với kinh doanh quốc tế Thảo luận về quan điểm của từng người về vấn đề tiếp cận chính trị trong kinh doanh quốc tế Hệ thống luật pháp Bao gồm các quy tắc và điều luật, nó bao gồm cả quá trình ban hành và thực thi pháp luật, và những cách mà theo đó toà án chịu trách nhiệm về việc thực thi pháp luật của họ Hệ thống pháp luật của một quốc gia chịu sự chi phối, ảnh hưởng tương tác lẫn nhau của các yếu tố về văn hoá, chính trị,… Thường luật (thông luật – common law) Hệ thống pháp luật dựa trên những yếu tố lỉch sử của luật pháp, dựa vào đó mà toà án tiến hành xử lý những tình huống cụ thể  Nhân tố truyền thống: là lịch sử pháp luật của một quốc gia  Các tiền lệ: các quy ước có tính chất bắt buộc xuất hiện trước khi có toà án  Cách sử dụng: là những cách mà theo đó luật pháp được áp dụng cho một tình huống cụ thể. Đối với thường luật, toà án giải quyết một trường hợp nào đó thông qua việc làm sáng tỏ các yếu tố lịch sử, tiền lệ, và cách sử dụng. Tuy nhiên mỗi bộ luật được vận dụng khác nhau đôi chút trong mỗi tình huống cụ thể Các quốc gia ảnh hưởng văn hóa Anh – Mỹ Dân luật (luật dân sự – civil law) Luật dân sự dựa trên các quy định quy tắc bằng văn bản. Luật dân sự có xu hướng bỏ qua những tình huống đơn lẻ Các quốc gia chịu ảnh hưởng văn hóa Châu Âu lục địa Thần luật (divine law) - Luật mang tính chất tôn giáo Luật dựa trên nền tảng tôn giáo (luật đạo hồi, đạo Hin Đu và Luật Do Thái) Các hãng hoạt động ở những nước tồn tại luật thần quyền, phải nhạy cảm với niềm tin tôn giáo và văn hoá địa phương Các vấn đề pháp luật toàn cầu a/ Tiêu chuẩn hoá b/ Quyền sở hữu trí tuệ c/ Sự bảo đảm và trách nhiệm đối với sản phẩm d/ Thuế e/ Đạo luật chống độc quyền Tiêu chuẩn hoá Mặc dù, hệ thống pháp luật quốc tê không được rõ ràng, nhưng bước đầu có những điểm chung. Luật quốc tế ảnh hưởng đến nhiều khu vực, bao gồm quyền sở hữu trí tuệ, luật chống độc quyền, thuế, luật phân xử tranh chấp hợp đồng và những vấn đề thương mại nói chung. Bên cạnh đó, nhiều tổ chức quốc tế khuyến khích việc áp dụng các chuẩn mực. Quyền sở hữu trí tuệ Tài sản là kết quả do hoạt động trí tuệ của con người và những nguồn lực đó gọi là tài sản trí tuệ. Giống như các tài sản khác, trí tuệ cũng được mua bán, cấp giấy phép nhằm thu được phí và các quyền lợi khác.
Tài liệu liên quan