Đặc trưng về tinh thần đoàn kết của phong trào Tây Sơn

Thế kỷ 16, Đại Việt chìm trong chia cắt: hết cuộc chiến giữa tập đoàn phong kiến Trịnh-Mạc cho đến cuộc đối đầu triền miên giữa dòng họ Trịnh-Nguyễn. Cuối thế kỷ, cục diện đàng trong đàng ngoài chính thức hình thành và kéo dài mãi từ đó đến gần hai thế kỷ sau. Đất nước lâm nguy, vua chúa cả hai miền chỉ lo vơ vét của cải, ăn chơi hưởng lạc, khiến nhân dân lầm than. Trong bối cảnh ấy, không ít cuộc khởi nghĩa đã nổ ra. Tuy nhiên, chưa cuộc khởi nghĩa nào thắng lợi. Năm 1771, trên vùng Tây Sơn Thượng Đạo (An Khê, Gia Lai ngày nay), 3 anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ phất cờ khởi nghĩa. Được nhân dân ủng hộ, trong vòng 12 năm, từ 1777-1789, nghĩa quân Tây Sơn liên tiếp lập nên những chiến công hiển hách: lật đổ 2 tập đoàn phong kiến Trịnh - Nguyễn; đánh tan 5 vạn quân Xiêm và đè bẹp 29 vạn quân Thanh Xâm lược. Trong suốt chặng đường chiến đấu, Ba anh em Tây Sơn, đặc biệt là Nguyễn Huệ đã không chỉ chứng tỏ mình là nhà lãnh đạo chính trị xuất sắc mà còn là một nhà cầm quân tài ba. Những gì ông làm, không phải vị tướng nào cũng thực hiện được. Xuất phát điểm của phong trào Tây sơn là Ấp Tây Sơn, là cuộc đấu tranh giữa nhân dân với giai cấp thống trị phong kiến Đàng trong sau đó lan ra cả Đàng ngoài. Quá trình chuyển biến (vào Nam ra Bắc, thống nhất đất nước) đó, yếu tố nào đã tạo nên mộ sức mạnh tổng lực đưa cách mạng Tây Sơn đến thắng lợi, mà từ trước đến thời điểm này chưa hề có?

docx6 trang | Chia sẻ: oanh_nt | Ngày: 13/09/2013 | Lượt xem: 523 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Đặc trưng về tinh thần đoàn kết của phong trào Tây Sơn, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ĐẶC TRƯNG VỀ TINH THẦN ĐOÀN KẾT CỦA PHONG TRÀO TÂY SƠN 1. LỰC LƯỢNG NÀO BIỂU HIỆN SỰ “ ĐOÀN KẾT” TRONG PHONG TRÀO?. 2. HIỂU NHƯ THẾ NÀO VỀ VẤN ĐỀ “ ĐOÀN KẾT” THỂ HIỆN TRONG PHONG TRÀO? 3. NHẬN ĐỊNH VỀ NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA VẤN ĐỀ “ĐOÀN KẾT” TRONG PHONG TRÀO?(CÓ RÚT RA BÀI HỌC…) Thế kỷ 16, Đại Việt chìm trong chia cắt: hết cuộc chiến giữa tập đoàn phong kiến Trịnh-Mạc cho đến cuộc đối đầu triền miên giữa dòng họ Trịnh-Nguyễn. Cuối thế kỷ, cục diện đàng trong đàng ngoài chính thức hình thành và kéo dài mãi từ đó đến gần hai thế kỷ sau.  Đất nước lâm nguy, vua chúa cả hai miền chỉ lo vơ vét của cải, ăn chơi hưởng lạc, khiến nhân dân lầm than. Trong bối cảnh ấy, không ít cuộc khởi nghĩa đã nổ ra. Tuy nhiên, chưa cuộc khởi nghĩa nào thắng lợi. Năm 1771, trên vùng Tây Sơn Thượng Đạo (An Khê, Gia Lai ngày nay), 3 anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ phất cờ khởi nghĩa. Được nhân dân ủng hộ, trong vòng 12 năm, từ 1777-1789, nghĩa quân Tây Sơn liên tiếp lập nên những chiến công hiển hách: lật đổ 2 tập đoàn phong kiến Trịnh - Nguyễn; đánh tan 5 vạn quân Xiêm và đè bẹp 29 vạn quân Thanh Xâm lược.  Trong suốt chặng đường chiến đấu, Ba anh em Tây Sơn, đặc biệt là Nguyễn Huệ đã không chỉ chứng tỏ mình là nhà lãnh đạo chính trị xuất sắc mà còn là một nhà cầm quân tài ba. Những gì ông làm, không phải vị tướng nào cũng thực hiện được. Xuất phát điểm của phong trào Tây sơn là Ấp Tây Sơn, là cuộc đấu tranh giữa nhân dân với giai cấp thống trị phong kiến Đàng trong sau đó lan ra cả Đàng ngoài. Quá trình chuyển biến (vào Nam ra Bắc, thống nhất đất nước) đó, yếu tố nào đã tạo nên mộ sức mạnh tổng lực đưa cách mạng Tây Sơn đến thắng lợi, mà từ trước đến thời điểm này chưa hề có? Thông qua diễn biến của cuộc khởi nghĩa, chúng ta thấy nhân tố rất quan trọng làm nên thắng lợi của phong trào Tây sơn-đó là tinh thần “đoàn kết”, đặt dưới sự chỉ đạo chung của một lực lượng thống nhất: Ø Ở Đàng trong, Ngay từ khi mới khởi nghĩa, địa bàn hoạt động chỉ mới trong phạm vi nhỏ hẹp của miền núi rừng Qui Nhơn-Ấp Tây Sơn, phong trào Tây Sơn cũng cũng đã có một khả năng đoàn kết, thu hút được đông đảo từng tầng lớp nhân dân và thành phần dân tộc tham gia. Trong hàng ngũ nghĩa quân, đã có cả người đa số và người thiểu số. Những đội quân người Thượng “cởi trần trùng trục, đầu quấn khăn, cổ đeo tầu vàng lá bạc….là những đội quân rất hăng và gan dạ. Nhứng thổ hào như Nguyễn Thung, chàng Lía…tích cực hưởng ứng than gia phong trào. Thương gia cũng tích cực tham gia phong trào như Huyền Khê, một người giàu lớn ở Qui Nhơn đã giúp đỡ nghĩa quân về mặt tài chính, lương thực… “Hào mục bản thổ đua nhau nổi dậy hưởng ứng với Nhạc, thế giặc ngày càng bùng lên” (theo Cương mục). Phong trào Tây Sơn đã lôi cuốn cả người Hoa ở miền Nam lúc này, tập hợp thành những đơn vị chiến đấu, dưới sự chỉ huy của Lí Tài và Tập đình. Những lãnh tụ Tây Sơn liên lạc với cả người Chiêm Thành: nữ chúa Chiêm đã từng đem quân tới đóng ở Thạch Thành ủng hộ Tây sơn đánh Nguyễn ở Đàng Trong. Lính Tây Sơn còn có bộ phận gồm những người thiểu số khác ở Cao Miên, Cam Biên, Xiêm…(theo Giáo sĩ Le Roy). Ø Ở Đàng ngoài, quân Tây sơn luôn luôn tranh thủ sự ủng hộ đồng tình của quân chúng nhân dân. Trong cuộc đấnh quân Trịnh, quân Tây Sơn đã phối hợp chặt chẽ với nhân dân, nhân dân đã tự bố trí khắp ngả để chặn đường đón giết quân Trịnh; Trong trận đánh quân Thanh, khi hành quân và dừng chân mười ngày để nghĩ, nhân dân đã tham gia nghĩa quân đông đảo. Trong thư Nguyễn Huệ gửi cho vua Thanh có Đoạn: “Quân Sĩ Nghị xông vào đánh, vừa mới giao phong đã tan vỡ, chạy trốn khắp ngả, xô đè lên nhau mà chết…những quân chạy trốn ra được các thôn xã ngoài thành bị dân đánh giết hầu hết…” và Thành công của Nguyễn Huệ về chính trị còn ở việc ông được nhân tài trong nước ủng hộ. Về võ tướng có Trần Quang Diệu, Vũ Văn Dũng, Đặng Tiến Đông, Ngô Văn Sở... Ra Thăng Long, Nguyễn Huệ thu phục được Ngô Thì Nhậm, Phan Huy ích, Nguyễn Thế Lịch, Đoàn Nguyễn Tuấn, La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp... là những kẻ sĩ đất bắc có thực tài, biết thời thế. ở Phú Xuân, Nguyễn Huệ được sự cộng tác hết lòng của Trần Văn Kỳ, một bậc danh sĩ nổi tiếng ở đất Đàng Trong, người có công lớn giúp Nguyễn Huệ tổ chức bộ máy cai trị và giới thiệu cho Nguyễn Huệ những nhân tài trong nước.  Như vậy, phong trào Tây Sơn được tập hợp-đoàn kết bởi nhiều thành phần, tầng lớp vừa biểu hiện tính phức tạp và vừa thể hiện tính phong phú và đa dạng làm cho phong trào lớn mạnh hơn tất cả những phong trào đấu tranh của nông dân Việt Nam từ trước.. Từ 1771 - 1792, từ 18 tuổi đến tuổi 38, trong 21 năm liền, Quang Trung Nguyễn Huệ đã cống hiến tất cả tài năng và nghị lực cho cuộc đất tranh vì lợi ích của nhân dân, "Tưới mưa dầm kẻo cùng dân sa chốn lầm than" (Hịch đánh Trịnh), "Quét trừ loạn lạc, cứu dân trong vòng nước lửa" (Chiếu lên ngôi), vì độc lập dân chủ và chủ quyền quốc gia, "Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ" (Hiệu dụ quân sĩ). Phát huy sức mạnh quật khởi của nhân dân kết hợp với sức mạnh yêu nước, đoàn kết của dân tộc, Quang Trung đã tạo nên sức mạnh thắng lợi của phong trào Tây Sơn và quân đội Tây Sơn. Dấu chân và chiến công của người anh hùng bách chiến bách thắng đó, từ đất Tây Sơn lịch sử đã lan tỏa ra khắp nước, từ đồng bằng sông Cửu Long phía nam, qua đô thành Phú Xuân của miền Trung, đến đất Thăng Long nghìn năm văn vật và đồng bằng sông Nhị phía Bắc. Nét nổi bật trong nghệ thuật quân sự của Quang Trung Nguyễn Huệ là tinh thần tiến công mãnh liệt và lối đánh thần tốc, bất ngờ. Kẻ thù cũng phải thừa nhận, dưới sự chỉ huy của Quang Trung, quân Tây Sơn "hành binh như bay, tiến quân rất gấp, đi lại mau chóng vùn vụt như thần" (lời một viên quan nhà Lê, Hoàng Lê nhất thống chí), "tướng như trên trời rơi xuống, quân như dưới đất chui lên" (lời quân Thanh, Hoàng Lê nhất thống chí), tiến công "như nước triều dâng" (lời Trần Nguyên Nhiếp, bí thư của Tôn Sĩ Nghị, An Nam Quân doanh kỷ yếu). Tài năng của Nguyễn Huệ biểu thị tập trung nhất trong việc cổ vũ và tập hợp lực lượng các tầng lớp xã hội, các dân tộc miền núi, kể cả một số quan lại, sĩ phu, tướng lĩnh trong chính quyền Trịnh - Nguyễn. Đặc biệt khi tiến lên làm nhiệm vụ dân tộc, chống giặc ngoại xâm bảo vệ dân tộc, Quang Trung đã giương cao ngọn cờ yêu nước, ra sức thu nạp những người yêu nước trong xã hội. Quang Trung rất coi trọng việc chiêu hiền đãi sĩ và đã nhận được sự phò tá của khá nhiều trí thức yêu nước tài năng. Những trí thức tiêu biểu là Trần Văn Kỷ, Lê Công Miễn… ở Đàng Trong, Ngô Thì Nhậm, Phan Huy ích, Nguyễn Thiếp, Vũ Huy Tuấn, Nguyễn Thế Lịch… ở Đàng Ngoài. Tài năng của Quang Trung Nguyễn Huệ khá toàn diện mà cơ sở quyết định là xuất phát từ lòng yêu nước thương dân, từ quyết tâm "giúp dân dựng nước" (Ngọc Hân, Ai tư vãn) của một anh hùng cứu dân, cứu nước.  Năm 1786, Nguyễn Huệ đem quân ra bắc với khẩu hiệu "Phù Lê diệt Trịnh", cô lập triệt để quân Trịnh nên lấy được Bắc Hà một cách dễ dàng. Nguyễn Huệ nói với Nguyễn Hữu Chỉnh: "Ta đem mấy vạn quân ra đây, chỉ đánh một trận mà dẹp yên được cả thiên hạ... Ví phỏng ta muốn xưng đế, xưng vương, gì mà chẳng được. Sở dĩ ta nhường nhịn không ở những ngôi ấy, là hậu đãi nhà Lê đó thôi!" (Hoàng Lê nhất thống chí). Nhưng Nguyễn Huệ cũng biết trong nhân dân và nho sĩ Bắc Hà còn nhiều người luyến tiếc nhà Lê nên ông bằng lòng lấy công chúa Ngọc Hân nhà Lê rồi lui về Thuận Hóa. Năm 1787, sau khi sai Vũ Văn Nhậm đem quân ra bắc giết Nguyễn Hữu Chỉnh, Nguyễn Huệ vẫn để cho Lê Duy Cẩn làm giám quốc bù nhìn. Nguyễn Huệ chỉ chính thức lên ngôi hoàng đế thay nhà Lê khi Lê Chiêu Thống lộ rõ bộ mặt phản quốc, rước quân Thanh vào giày xéo đất nước.  Trước khi tốc thắng ra Bắc phù Lê, diệt Trịnh, lịch sử ghi nhận về Nguyễn Huệ là một tài năng về quân sự, còn những cố gắng của ông trên lĩnh vực chính trị rộng lớn, có chăng, cũng mới chỉ biểu hiện mờ nhạt. Bởi vì ngày ấy, những chiến công quân sự lẫy lừng ở miền Gia định không được chuyển hóa thành thắng lợi chính trị bền vững tuy thuộc về Nguyễn Nhạc, nhưng là một trong các lãnh tụ của phong trào Tây Sơn, Nguyễn Huệ cũng dự một phần trách nhiệm. Song, trải qua thực tiễn, qua tháng năm xông pha trận mạc, cùng với sự lớn mạnh của phong trào, Nguyễn Huệ đã có được tầm nhìn phổ quát hơn. Tầm nhìn đó không chỉ biểu hiện ở lĩnh vực quân sự mà còn ở khía cạnh chính trị, việc tìm hiểu mối quan hệ giữa Nguyễn Huệ với các thần triều cũ. Trong quan điểm "trung quân" thời phong kiến, vấn đề này chẳng những thể hiện tầm nhìn của một lãnh tụ, sự nhạy cảm thức thời của một số trí thức, quan lại phong kiến mà nó còn tỏ rõ được sức thu hút, bản chất tiến bộ hay không của một phong trào. Mối quan hệ giữa Nguyễn Huệ với các thần triều cũ không chỉ biểu hiện sau khi ông trở thành người anh hùng "áo vải cờ đào" áo sạm đen màu khói súng giữa kinh thành Thăng Long ngày 5 tháng Giêng năm Kỷ Dậu (1789) mà đã xác nhận qua thái độ ứng xử với viên tham tấn Nguyễn Đăng Trường và danh sĩ Trần Văn Kỷ, những người đã chịu nhiều ơn mưa móc của chúa Nguyễn. Với những người bên kia chiến tuyến đó, trong quan niệm xưa mà Nguyễn Huệ đã "lấy lễ tôn kính bậc thầy và khách" hoặc chủ động tìm mời, cho dự vào nơi "màn trướng" - dù là sách lược đi nữa, cũng đáng để chúng ta trân trọng. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở những việc trên đây, tài năng và đức độ của Nguyễn Huệ trong việc vời đón và trọng dụng nhân tài cũng chưa đủ sức thu phục lòng người. Chỉ từ khi đánh tan 3.000 quân Trịnh, tiến sát sông Gianh - ranh giới của hơn 200 năm cắt chia đất nước, ruổi thẳng ra Bắc, lật nhào nền thống trị ngót 300 năm của họ Trịnh ở Thăng Long, thực hiện một kỷ luật rất chặt chẽ trong quân đội, lập lại trật tự bởi một sự công bằng nhanh gọn, làm những gì cần thiết để tỏ rõ danh nghĩa "phù Lê". Nguyễn Huệ mới thực sự để lại những ấn tượng tốt đẹp không dễ phai mờ trong dân chúng Bắc Hà, gây được ảnh hưởmg nhất định đối với tầng lớp quan lại cấp thấp triều Lê. Nhưng, do hạn hẹp về tầm nhìn và sự đố kỵ về tài năng, Nguyễn Nhạc đã vội ra Thăng Long, ép Nguyễn Huệ trả lại đất cho vua Lê. Việc làm đó đã gây nên sự bất đồng về quan điểm, dẫn tới bất hòa giữa hai anh em và bùng nổ thành xung đột quân sự. Từ đây, mâu thuẫn trong nội bộ phong trào lộ phát, dù cho đã được hòa dịu bằng một thỏa hiệp nhưng vẫn gây nên xáo động trong quân đội Tây Sơn, mà trước tiên là trong đội ngũ tướng soái. Do đó, vấn đề vời gọi và sử dụng nhân tài, tức là tập hợp một bộ tham mū đồng tâm nhất trí đã trở thành một quan tâm rất bức xúc trong suy tư và hoạt động của Nguyễn Huệ. Ông tranh luận cởi mở và nhiều lần kiên trì thuyết phục Trần Công Xán - một danh sĩ Bắc Hà; ông tha thiết mời gọi bằng lời lẽ nhún nhường, bằng thái độ "chiêu hiền đãi sĩ" với ẩn sĩ Nguyễn Thiếp: "15 năm tới bây giờ chưa một phút nào quên tìm người tài giỏi... nay trông lên thành Lục Niên có người tài ở đó, ấy là trời dành Phu tử cho Quả đức vậy", cũng không ngoài mục đích đó. Tuy nhiên, ở giai đoạn này, việc Trần Công Xán khăng khăng thà chết cho lòng trung với vua Lê, Nguyễn Thiếp nhất mực chối từ , không nhận lờ xuống núi cũng cho ta thấy rằng lực hấp đẫn của phong trào, của Nguyễn Huệ chưa đủ mạnh đối với tri thức, quan lại triều cũ, thức tỉnh họ rũ được quan niệm "trung quân" truyền thống.  Thế nhưng, từ cuối năm 1786, sau khi hoàn tất thoát vượt sự kiềm tỏa của Nguyễn Nhạc, trở thành lãnh tụ chính của phong trào thì Nguyễn Huệ đã bắt tay ngay vào việc thực hiện những nhiệm vụ to lớn, phức tạp: củng cố và tăng cường lực lượng, trấn áp những thế lực chống đối đang ngóc dậy, thiết lập quyền kiểm soát trên lãnh thổ phía Bắc, cắt đặt quan chức, thu phục nhân tài, yên ủy muôn dân. Đến giữa năm 1788, ông hành quân ra Bắc giết tướng Vũ Văn Nhậm, trao binh quyền cho tướng Ngô Văn Sở. Theo một số tài liệu thì Ngô Văn Sở xuất thân từ dòng dõi "Thạch Hà tướng phiệt", một dòng họ nhiều đời phục vụ chính quyền Lê Trịnh. Các chức hiệp trấn và vị trí quan trọng ở các bộ do tướng soái Tây Sơn đảm lãnh. Nguyễn Huệ hạ chỉ văn để Lê Duy Cận làm giám quốc, tập trung phủ dụ triều Lê để nêu rõ chính nghĩa của mình và kêu gọi họ "ở lại giúp đỡ giám quốc". Với các danh sĩ ông chủ động phái người tìm mời, tiến cử. Nhớ lại trước đây, hồi ra Thăng Long lần 1 (1786), quan lại triều cũ nói chung "thấy thần sắc của Bắc Bình Vương nghiêm nghị, rực rỡ, ai cũng run sợ, hãi hùng". Ngay cả khi tướng tiết chế Vũ Văn Nhậm được sai ra giết Nguyễn Hữu Chỉnh, tình hình cũng chưa sáng sủa thêm là bao. Vũ Văn Nhậm tưởng rằng "uy vũ của mình đủ khiến người ta phải phục", thế mà, nhân danh Nguyễn Huệ, ông lệnh "đòi các quan văn võ phải đến chầu hầu... rốt cuộc, các viên quan có thế lực cũng chẳng ai đến". Khác hẳn tình hình trên, bây giờ, bao trùm Thăng long cổ kính là bầu không khí cởi mở và tin tưởng. Ngay từ ngày đầu nhiều người đã ra mắt Nguyễn Huệ: các tiến sĩ Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, Nhuyễn Thế Lịch, Ninh Tôn, Nguyễn Bá Lân... Đối với những người này, tất thảy, Nguyễn Huệ đều đối xử chân thành, không kiểu cách. Ông dành cho họ sự thù tiếp thân mật, giản dị, tin cậy, ban cho họ tước phẩm; dùng họ vào những chức vụ quan trọng tương ứng với tài năng của mỗi người. Mặt khác, tôn trọng quyền lựa chọn của các cựu thần, ông đã đồng ý để những người như tiến sĩ Phan Lê Phiên, tiến sĩ nguyễn Hoàn... về lại cố hương dưỡng nhàn như sở ngưyện "cho giữ nguyên chức tước..., sai bộ Lễ cấp phát giấy tờ" cho họ. Với những ai còn náu mình ẩn nhãn, ông bền lòng mời gọi, do bản chất tiến bộ của phong trào, cùng với những ứng xử thoáng đạt của Nguyễn Huệ trên đây, chẳng máy chốc sự nghiệp của Bắc Bình Vương đã trở nên thuận lẽ trời, hợp lòng người". Và đó là lực hấp dẫn chính để Nguyễn Huệ có thể nhanh chóng thu phục được những nhân tài trong "nước cũ" về mình để ổn định và sắp xếp công việc ở Bắc Hà.  Sau khi cắt đặt xong những việc căn bản ở Bắc Hà, trao phó toàn bộ quyền hành cho các tướng soái cao cấp (như Ngô Văn Sở, Phan Văn Lân, Nguyễn Văn Tuyết, Ngô Thì Nhậm ...) với lời dặn: "mọi việc cho tùy tiện mà làm, cùng nhau bàn bạc ổn thỏa, đừng vì mới - cũ mà xa cách nhau, Nguyễn Huệ rời Thăng Long về lại Phú Xuân, khẩn trương tăng cường lực lượng, sẵn sàng đối phó với những đe thách nguy hiểm ở hai đầu đất nước. Ngày 24 tháng 1 năm Mậu Thân (1789), nhận được cấp báo quân Thanh đã tràn xuống xâm lược nước ta, ngày 25 Nguyễn Huệ lập tức lên ngôi hoàng đế để "chính vị hiệu, giữ lòng người", thống lĩnh đại quân theo đường thủy - bộ, tiến ra Bắc đại phá quân Thanh. Bước ngoặt đó trong lịch sử dân tộc đã làm chuyển biến sâu sắc tâm linh của giới trí thức, quan lại triều cũ mà tiêu biểu là thái độ của Nguyễn Thiếp khi ông tâu trình với Quang Trung Nguyễn Huệ trong một lần tiêp kiến ở đất Nghệ An: "Bây giờ trong nước trống không, lòng người tan rã. Quân Thanh từ xa tới, không biết quân ta yếu hay mạnh, không hiểu rõ thế đánh giữ ra sao, chúa công ra đi chuyến này, không quá mười ngày, giặc Thanh sẽ bị dẹp tan". Rõ ràng là, tới đây, khi vươn lên làm nhiệm vụ dân tộc, củng cố hơn nữa nền thống nhất đất nước, tiến hành chiến tranh giải phóng, bảo vệ vẹn toàn lãnh thổ và chủ quyền quốc gia, phong trào Tây Sơn đã trở thành đại biểu duy nhất cho lợi ích tối cao của dân tộc mà Quang Trung Nguyễn Huệ là tâm điểm hợp tụ lòng người cả nước, có sức thu hút mãnh liệt nhân tài. Lịch sử đã cho thấy, tất cả quan lại triều cũ mà Nguyễn Huệ đã tìm mời, tin trao trọng trách, chủ động tạo ra những điều kiện rất thuận lợi với quyền hành rộng rãi cho họ thì, họ đều tỏ rõ tài năng, sức lực và phát huy được những sở trường của mình, góp phần xứng đáng vào thắng lợi của cả dân tộc. Đánh bại hoàn toàn 200.000 quân Thanh cũng là khởi đầu một thời kỳ mới, trong đó nhiều vấn đề đặt ra, đòi hỏi phải đồng thời giải quyết. Tình hình có dịu lắng mà chưa hẳn bình yên: phía Nam "quốc thù" đang mạnh mẽ bành trướng thế lực; phía Bắc, lửa chiến tranh đã tắt nhưng chưa nguôi, trong nước, các thế lực phản động đang lăm le ngóc dậy; đất nước sau bao phen binh lửa và thiên tai, li loạn và đói kém cần được phục hồi và ổn định; những vấn đề xã hội nóng bỏng đòi hỏi phải khẩn trương khắc phục.... Tất thảy những điều đó là thách đố nặng nề đối với vua Quang Trung và vương triều mới của ông. "Chiêu cầu hiền" được ban ra trong hiện tình đất nước lúc đó, là điều dễ hiểu: "Trẫm đang ghé chiếu lắng nghe, thức ngủ mong mỏi mà có người tài cao học rộng chưa từng thấy đến. Hay Trẫm ít đức không đáng để phò tá chăng? hay đang thời đổ nát chưa thể ra phụng sự?..Trẫm nơm nớp lo nghĩ, một ngày hai ngày cũng có hàng vạn sự việc nảy sinh Ngẫm cho kỹ: cái nhà to lớn - sức một cây không dễ gì chống đỡ, sự nghiệp thái bình - sức một người không thể đảm đương". Sự thực, sau cuộc kháng chiến chống quân Thanh thắng lợi, bên cạnh đội ngũ tướng soái văn, võ tiếp tục cống hiến tài sức cho Vương triều, cuộc canh tân của đất nước đang đòi hỏi rất nhiều nhân tài để gánh vác việc chung. Giờ đây, cảm tấm lòng của vua Quang Trung và giác ngộ hơn về bao biến chuyển vừa qua, các "bậc có tài năng đều ra giúp việc, những vị danh thần hưởng ứng chính nghĩa, những kẻ sĩ phu bỏ tối theo sáng" mà tiêu biểu là các tiến sĩ Đoàn Nguyễn Tuấn, Vũ Huy Tấn, Nguyễn Nễ, Nguyễn Huy Lượng, Bùi Dương Lịch…. Đến như Nguyễn Thiếp bây giờ cũng nhận lời xuống núi, giúp vua Quang Trung xây dựng nước non nhà. Đành là, mỗi người mang theo những tâm niệm không hệt nhau nhưng rõ ràng, trong họ, hình ảnh vua Quang Trung tài năng và tấm tình xứng đáng xứng đáng là vị vua hiền của nước: "Mênh mông vương đạo mở ra, một tấc cũng thu, một li cũng nhấc; dùng người không phân mới - cũ, thân - sơ, khiến cho bọn lười biếng cũng thấy thanh minh, thịnh Sự". Cho nên, không phải là vô cớ mà Ngô Trọng Khuê, một đại thần triều Lê dẫu chối từ lời mời của Quang Trung nhưng vẫn nói về ông bằng những lời ca tụng đẹp: "Lòng nhân hiếu cảm đến đất trời … Với các sĩ phu thì cuốn vào máy, thu vào lồng, tìm trong hang núi, hỏi chốn thôn quê, thu hái chẳng sót loài cỏ mọn". các tài liệu trên đây đã chứng tỏ lòng mến mộ vua Quang Trung của các nhân tài. Thực ra, việc dùng những người vốn là con đẻ của một vương triều, một chế độ vừa bị đánh đổ không chỉ diễn ra với Nguyễn Huệ. Lịch sử còn lặp lại ở các phong trào, ở những cuộc cách mạng thời cận, hiện đại. Có điều, để vời gọi được và sử dụng có hiệu quả các tài năng, nhất là những tài năng lớn của đất nước, nếu tấm lòng và "sức dùng" của cá nhân lãnh tụ là yếu tố tác động trực tiếp thì, tính tiến bộ của một phong trào chính là yếu tố căn bản. Tuy vậy, với Quang Trung, việc sử dụng nhân tài cũng còn đôi điều hạn chế. Trong cuộc đời cầm quân của mình, Nguyễn Huệ đã ra lệnh trừng trị hai viên tướng là Nguyễn Hữu Chỉnh và Vũ Văn Nhậm. Ở hai trường hợp này, nhiều quan điểm xem xét và đánh giá khác nhau. Bằng một số tư liệu, chúng tôi cho rằng: bỏ Chỉnh ở lại Thăng Long, sau đó khước từ nài xin của Chỉnh theo về Phú Xuân mà cho ở lại Nghệ An, Nguyễn Huệ chưa thực sự nổ lực nhằm hạn chế tối đa phản bội cũng như chưa triệt để khai thác tài năng vốn có ở viên tướng này, nhằm phục vụ cho lợi ích phong trào. Dựa trên những tin báo chưa được minh định vội lấy đó làm bằng chứng, cộng với định kiến (Nhậm, cũng như Chỉnh, vốn là hàng tướng, Nhậm lại là con rể của Nguyễn Nhạc) đã giết Vũ Văn Nhậm là việc làm mà, theo chúng tôi nghĩ, là chưa đủ sức thuyết phục. Phải chăng, việc phế bỏ Nguyễn Hữu Chỉnh và triệt bỏ Vũ Văn Nhậm là xạ ảnh của một thời kỳ đấu tranh trong nội bộ phong trào, trong đó, Nguyễn Huệ đang nổ lực thâu tóm quyền lực, khẳng định quyền, uy vượt thoát ảnh hưởng của Nguyễn Nhạc để trở thành lãnh tụ chính của phong trào Tây Sơn? Dù vậy, nhìn chung lại, qua 21 năm hoạt động sôi nổi, đặc biệt trong 6 năm là lãnh tụ tối cao của phong trào (1787 - 1792), trước những đòi hỏi của phức tạp và đầy rẫy khó khăn, Nguyễn Huệ đã giải quyết tương đối thành công vấn đề sử dụng con người; sử dụng nhân tài. Chỉ riêng nhiều đại diện ưu tú của giới quan lại văn võ triều cũ đã dứt khỏi một dĩ vãng vàng son chưa mấy xa xăm mà bản thân, gia đình, gia đình và họ mạc hơn một lần hưởng nhiều ân trạch để tập hợp dưới cờ đỏ Tây Sơn cũng chứng tỏ sức thu hút lớn lao của phong trào và cá nhân Nguyễn Huệ. Mẫn cảm, xét đoán tinh và sâu, không mặc cảm nặng
Tài liệu liên quan