Đề tài Quyền được chết: Một số vấn đề về mặt pháp lý

Cuộc sống đối với mỗi người có lẽ là “tài sản” quí nhất mà không một ai muốn rời bỏ. Trong Bản tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 2-9-1945, chủ tịch Hồ Chí Minh đã dẫn lại một câu nói trong tuyên ngôn về nhân quyền của nước Mỹ : “ Người ta sinh ra ai cũng có quyền được sống, được mưu cầu hạnh phúc

doc24 trang | Chia sẻ: haohao89 | Ngày: 09/08/2013 | Lượt xem: 1452 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Quyền được chết: Một số vấn đề về mặt pháp lý, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
LỜI NÓI ĐẦU Cuộc sống đối với mỗi người có lẽ là “tài sản” quí nhất mà không một ai muốn rời bỏ. Trong Bản tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 2-9-1945, chủ tịch Hồ Chí Minh đã dẫn lại một câu nói trong tuyên ngôn về nhân quyền của nước Mỹ : “ Người ta sinh ra ai cũng có quyền được sống, được mưu cầu hạnh phúc” Tuy nhiên, đối diện với sự sống là cái chết. Ai cũng biết rằng rồi sẽ đến ngày mình sẽ chết. Đối với một con người, sống là một quyền vậy được chết có phải là quyền hay không? Đây là vấn đề mang lại rất nhiều trang cãi, không riêng gì Việt Nam, trên thế giới nhiều cuộc tranh cãi đã nổ ra xung quanh việc có nên giúp đỡ một người chấm dứt cuộc sống một cách không đau đớn hoặc ít đau đớn nhất nhằm giúp họ khỏi kéo dài cuộc sống trong những hoàn cảnh không mong muốn hay không. Đem đến cho những người bệnh đang phải gánh chịu những cơn đau đớn hành hạ, những nỗi đau mà còn đáng sợ hơn cả cái chết đó là “nhân đạo” hay là “giết người”, đây là một câu hỏi lớn cho nền pháp luật của thế giới, có nên công nhận Quyền được chết và cho ra đời Luật An tử, giúp những người bệnh thoát khỏi nỗi đau bệnh tật hay không??? Chính vì nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này nên em chọn đề tài: “Quyền được chết – Một số vấn đề về mặt pháp lý” nhằm góp tiếng nói chung cho một vấn đề lớn của nhân loại. Vì còn hạn chế về kiến thức, thời gian cũng như kinh nghiệm nên bài làm của em sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Em mong nhận được sự thông cảm và góp ý chân thành từ các thầy cô và các bạn. Em xin chân thành cảm ơn! Sự sống theo quan niệm thông thường là kết quả hoạt động của nhiều cơ quan, nội tạng trong cơ thể nhằm duy trì và phát triển mỗi cá thể. Hay nói cách khác sống tức là chống lại cái chết. Trên phương diện luật pháp thì phần lớn các quốc gia trên thế giới đều thừa nhận tư cách con người của công dân nước mình bắt đầu từ khi người đó sinh ra và kết thúc khi người đó chết đi. Người Công giáo tin rằng sự sống, cái chết là do Thiên Chúa, Đấng tối cao, nắm trong tay quyền vô hạn. Nhưng trong thực tế, đã có những người đòi làm chủ sinh mệnh của mình. Đó là những cái chết không tự nhiên như “phá thai và chết êm”. Chính vì thế mà ngày nay không ít người lên tiếng đòi Quyền được chết, nói một cách khác chính là đòi hỏi có được sự “trợ tử” nhằm tìm kiếm một cái “ chết êm”. Liên qua đến vấn đề Quyền được chết, chúng ta sẽ đi tìm hiểu những nội dung cụ thể sau đây: Một số vấn đề lý luận cơ bản về Quyền được chết: I. Khái quát về Quyền được chết: 1. Nguồn gốc hình thành ý tưởng Quyền được chết: Quyền được chết ban đầu xuất hiện với những hành vi chưa hoàn toàn mang đúng bản chất của nó mà gắn với khái niệm: “Cái chết êm ả”. Danh từ Chết êm (Euthanasia hay mercy killing) xuất phát từ tiếng Hy Lạp: “Eu” là khỏe, tốt, êm ái, ngay; “thanatos” là chết, chết ngay, chết dễ dàng, chết không đau đớn. Thuật ngữ này xuất hiện vào thế kỷ XVII, nhằm khuyến khích các bác sỹ quan tâm đến sự đau đớn của người bệnh và giúp họ ra đi một cách ít đau đớn hơn, nhẹ nhàng và dễ dàng hơn. Về cơ bản, chúng ta có thể hiểu: Chết êm là khi bệnh tình của bệnh nhân không còn hy vọng chữa trị, nếu để sống thì đau đớn cho người bệnh, tốn kém cho người nhà, cho xã hội, nên với sự đồng ý của bệnh nhân hoặc người thay mặt hợp pháp  của  bệnh nhân, hoặc cả khi không có sự đồng ý của họ, bác sĩ, y tá, hoặc ai đó làm cho họ chết sớm hơn cái chết tự nhiên của họ. Chết êm cũng được phân biệt thành trực tiếp hay gián tiếp, chủ động hay thụ động. Chết êm có thể là trực tiếp, nếu được tiêm thuốc (lethal injection) vào làm cho chết mau lẹ. Chết êm là gián tiếp nếu bị rút ống tiếp tế khí thở, đồ ăn, thuốc chữa... Chết êm có thể là chủ động do đương sự hay người thay mặt hợp pháp xin, hoặc thụ động khi cưỡng ép khi bắt buộc phải chết. Như vậy, lúc đó chưa xuất hiện khái niệm Quyền được chết như khoa học hiện đại nhưng cũng đã có những hành vi trong phạm vi Quyền được chết. Tới cuối thế kỷ XIX, khi khoa học phát triển và vấn đề y tế cũng có những bước tiến bộ đáng kể, con người tìm ra nhiều hơn các cách khống chế sự đau đớn, thuật ngữ này không còn bó hẹp với ý nghĩa giúp bệnh nhân thoát khỏi sự đau đớn nữa mà mang ý nghĩa là một hành động đặc biệt tạo ra cái chết cho những bệnh nhân rơi vào tình trạng bế tắc về y tế hay nói một cách khác là “vô phương cứu chữa”. Từ khi ra đời đến nay, cùng với sự phát triển của khoa học xã hội, sự phát triển của con người “cái chết êm ả” đã có những thay đổi phù hợp với xu thế phát triển. Và hiện nay, thuật ngữ Quyền được chết đã được thay thế cho “Cái chết êm ả” và càng ngày càng thu hút được sự quan tâm và chú ý của mọi người nói chung và khoa học pháp luật nói riêng. 2. Khái niệm Quyền được chết: Hiện nay trên thế giới vấn đề về Quyền được chết vẫn còn gây rất nhiều tranh cãi, chính vì vậy chưa có một khái niệm cụ thể, chi tiết nào về quyền được chết. Theo quan điểm của người viết, quyền được chết có thể được hiểu như sau: Quyền được chết là một quyền nhân thân của con người, cụ thể là quyền của cá nhân được áp dụng các biện pháp y tế hỗ trợ nhằm đi đến cái chết khi họ trong tình trạng bệnh nặng và bế tắc về y tế, hoặc trong những tình trạng không mong muốn về thể xác do các tai nạn gây ra mà việc kéo dài sự sống chỉ mang lại đau đớn cho bệnh nhân. Như vậy, xét đến cùng Quyền được chết có được xem như con đường giải thoát con người khỏi những đau đớn kéo dài, khi mà sự sống của họ được duy trì chủ yếu bằng các thiết bị y tế vô tri, vô giác hay khi đến cả những thiết bị y tế cũng không thể xoa dịu được nỗi đau bệnh tật của người bệnh. II/ Quyền được chết – Một số vấn đề về mặt pháp lý: Không riêng gì Việt Nam, trên thế giới nhiều cuộc tranh cãi đã nổ ra xung quanh việc có nên giúp đỡ một người chấm dứt cuộc sống một cách không đau đớn hoặc ít đau đớn nhất nhằm giúp họ khỏi kéo dài cuộc sống trong những hoàn cảnh không mong muốn hay không? Về cơ bản, việc chấp nhận cho người bệnh nặng, những người rơi vào hoàn cảnh bế tắc về y học được quyền “ trợ tử”, chấp dứt sự đau đớn kéo dài....cần được thể hiện cụ thể thông qua một đạo luật nhằm tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc áp dụng các biện pháp “trợ tử” khi người bệnh thực sự mong muốn. Tuy nhiên, với một vấn đề hết sức nhạy cảm và gây nhiều tranh cãi như Quyền được chết thì việc ban hành hay công nhận nó còn rất nhiều vướng mắc. Có rất nhiều quốc gia đã thông qua đạo luật này, cũng có những quốc gia chấp nhận nhưng không thông qua nó vì nhiều lý do khác nhau và cũng có những quốc gia không công nhận Quyền được chết như một quyền nhân thân cơ bản của con người và chính vì thế đã không thông qua đạo luật. Chúng ta có thể thấy rõ điều đó qua những nội dung cụ thể dưới đây: 1. Một số nước đã ban hành luật an tử: Hà Lan đã đi vào lịch sử là Quốc gia đầu tiên áp dụng đạo luật “Cái chất êm ả”. Tháng 11/ 2000, Hạ viện Hà Lan đã thông qua dự thảo Luật An tử. Đến ngày 10/04/2001, với tỷ lệ áp đảo 46/28, Thượng viện Hà Lan đã bỏ phiếu thông qua đạo luật. Trước đó hơn hai thập kỷ, các bác sỹ Hà Lan đã áp dụng phương pháp “cái chết êm ả” để giúp những người bệnh nặng ra đi. Việc thông qua đạo luật năm 2001 chỉ nhằm hợp pháp hóa một hiện thực đã được chấp nhận., nhất là khi có Bản hướng dẫn “cái chết hỗ trợ” được phác thảo năm 1993. Điều tra toàn quốc cho thấy gần 90% người dân nước này ủng hộ Luật An tử vì nó đảm bảo quyền cá nhân. Năm 2006, Hà Lan còn cho phép an tử đối với trẻ em, trẻ sơ sinh mắc bệnh nặng không thể cứu chữa. Quốc gia thứ hai hợp thức hóa cái chết êm ả là Bỉ. Với 86 phiếu thuận, 51 phiếu chống và 10 phiếu trắng, tối ngày 16/05/2002, Thượng viện Bỉ đã chấp thuận đạo luật cho phép bệnh nhân bị bệnh rất nặng có quyền được chết dưới những điều kiện nhất định. Đây là chặng cuối của cuộc đua pháp lý kéo dài 3 năm, khởi xướng vào năm 1999 khi mà lần đầu tiên trong vòng hơn 40 năm, Liên minh dân sự lên nắm quyền ở Bỉ. Ở một quốc gia mà đạo Thiên chúa chiếm ưu thế, ý tưởng hợp pháp hóa cái chết êm ả không gây mấy tranh cãi. Hạ viện Bỉ đã bật đèn xanh cho Dự luật này vào 10/2001. Điều tra tiến hành năm 2001 có tới 72% người dân đồng tình với cái chết êm ả. Với 317 phiếu thuận và 233 phiếu chống, Quốc hội Liên bang Đức ngày 19/06/2009 vừa thông qua dự luật cho phép các công dân “được toàn quyền định đoạt mạng sống” của mình. Để thông qua dự luật này, Quốc hội Đức đã làm việc trong sáu năm. Các nghị viên cũng được giải phóng khỏi quan điểm đảng phái: họ không nhất thiết phải bỏ phiếu theo quan điểm của đảng mình mà chỉ cần theo góc nhìn của mỗi người. Tại Mỹ, Luật liên bang cấm thực hiện cái chết êm ả. Bang Oregon là bang đầu tiên từ năm 1994 cho phép bệnh nhân yêu cầu được chết nhưng tòa án bang đã chống lại việc thực thi điều luật này và đến năm 1997 thì tòa án tối cao của bang đã chấp nhận. Năm 1999, bang Texas cũng cho phép an tử và đến hết năm 2006, ở cả 50 bang của Mỹ đã có đạo luật cho phép bệnh nhân ở trong các điều kiện nhất định được xin chết. Trước đó, Mỹ là nước tập trung nhiều vụ án liên quan đến an tử với nhiều ảnh hưởng lớn như: Quinlan, Curzan và Terri Schiavo (kéo dài 8 năm) hay bác sỹ Jek Kevorkian (Năm 1999, tại Mỹ có trường hợp “bác sĩ tử thần” Jack Kevorkian (bang Michigan) bị truy tố về tội giết người do đã “giúp” tới 130 bệnh nhân được “ra đi”. Jack Kevorkian bị kết án tới 25 năm tù. Tuy nhiên, ông được giảm án, trả tự do trước thời hạn sau 8 năm ngồi tù.) Bên cạnh đó, Công ước nhân quyền Châu Âu không yêu cầu các thành viên cấm tự tử hay chết êm ả, mặc dù nó đề cao quyền sống của con người. 2. Các quốc gia chưa hợp pháp hóa Luật An tử hay quy định một phần: - Một số quốc gia ở Châu Âu như Tây Ban Nha vẫn ngầm chấp nhận việc tự tử có sự hỗ trợ nhưng phần lớn không hợp pháp hóa nó. Tại Pháp cái chết êm ả là bất hợp pháp. Tuy nhiên theo kết quả một cuộc thăm dò do Viện IFOP thực hiện từ ngày 10 đến 20/12/2002 thì có đến 88% dân Pháp tán thành việc ban hành một đạo luật cho phép bác sỹ giúp những người mắc bệnh nan y “ra đi” một cách nhẹ nhàng nhằm tránh đau đớn kéo dài nếu như họ yêu cầu. - Đan Mạch cho phép bệnh nhân mắc các bệnh nan y tự quyết định dừng việc điều trị; từ ngày 01/10/1992, trong trường hợp bệnh không thể cứu chữa khỏi hoặc bị tai nạn nặng, bệnh nhân có thể làm một bản chúc thư y tế mà bác sỹ phải tôn trọng. - Tại Thụy Điển, “hỗ trợ tự tử” là một tội không bị xử phạt. Trong một số trường hợp bác sỹ có thể rút máy thở của bệnh nhân. - Tại Anh, cái chết êm ả là bất hợp pháp. Tuy nhiên vào năm 1993 và 1994, Luật pháp đã cho phép bác sỹ rút ngắn cuộc đời của các bệnh nhân sống nhờ các phương pháp nhân tạo. Tại Ecosse, vào tháng 05/1996, lần đầu tiên một bệnh nhân nữ đã được phép chết. - Tại Đức, dùng thuốc hỗ trợ để bệnh nhân chết bị coi là giết người. - Ở Châu Mỹ Latinh, Tòa án Columbia đã chấp nhận cái chết êm ả vào 05/1997 với những bệnh nhân mắc bệnh nan y ở giai đoạn cuối. - Tại Áo, lần đầu tiên trên thế giới, 07/1996, Thượng viện khu vực phía Bắc đã thông qua một đạo luật hợp pháp hóa cái chết êm ả nhưng Thượng viện nước này lại ra quyết định phủ quyết vài tháng sau đó. - Ở các quốc gia như Anh và Áo, dù cấm an tử nhưng thái độ của nhà chức trách đối với các bác sĩ “lỡ” trợ giúp an tử thường cũng không quá gay gắt. Như vậy, đa phần các nước đều xem hành vi của cái chết êm ả là một tội, có nước không xử phạt nó nhưng lại không thông qua hay ngấm ngầm chấp nhận mà không hợp pháp hóa hay chỉ cho phép cái chết êm ả chủ động. 3. Tại Việt Nam: Việt Nam – một quốc gia Châu Á với nhiều phong tục, tập quán, tôn giáo Phương Đông tồn tại từ ngàn đời và đối mặt với thực tế: Quyền được chết còn rất xa lạ. Bốn bản Hiến pháp của Việt Nam đều không có quy định về quyền được chết của cá nhân. Bộ luật dân sự Việt Nam các năm 1995 và 2005 cũng không có quy định nào quy định quyền được chết là quyền nhân thân của con người. Tại kỳ họp thứ 6 và 7 Quốc hội khóa XI (2004, 2005), hội nghị đại biểu chuyên trách năm 2005, vấn đề này đã được đưa vào dự thảo sửa đổi Bộ luật Dân sự, được các đại biểu quốc hội bàn luận rất sôi nổi. Mọi người đều hiểu đó là một việc làm rất nhân đạo nhưng đồng thời cũng là một vấn đề hết sức nhạy cảm, không phù hợp với đạo lý của người Việt Nam nói riêng và đạo lý Á Đông nói chung. Thêm nữa số lượng bệnh nhân mắc bệnh vô phương cứu chữa ở nước ta cũng ít hơn nhiều so với thế giới, do vậy, quyền được chết vẫn chưa được thông qua ở Việt Nam. Nhưng qua hoạt động đó chúng ta vẫn đánh giá được: các nhà lập pháp Việt Nam đã quan tâm đến những vấn đề mới, đang tồn tại của xã hội (mà ở đây à một bộ phận không nhỏ giới bác sỹ Việt Nam); đồng thời đã hiểu được bản chất quyền được chết và xác định nó là quyền nhân thân. Tuy nhiên, về mặt khoa học, quyền được chết chỉ được coi là quyền nhân thân khi được quy định trong bộ luật dân sự và tất nhiên sau đó phải được cụ thể hóa thành luật riêng vì bộ luật dân sự chỉ là luật khung. Quan điểm chung hiện nay ở Việt Nam là: việc hợp pháp hóa Quyền được chết là vấn đề quá sớm. B. Một số quan điểm cơ bản hiện nay về quyền được chết: 1. Những quan điểm phản đối: * Việc tạo ra Quyền được chết sẽ xói mòn quyền cơ bản được sống, thông qua việc hình thành danh sách những người coi cuộc sống không đáng giá Theo chủ quan của người viết, Quyền được chết không làm xói mòn quyền cơ bản là được sống. Quyền được chết không chỉ liên quan đến bệnh nhân đó mà còn cả gia đình, xã hội. Người ở giai đoạn cuối của bệnh chịu nhiều đau đớn nếu có sống cũng chỉ thêm khổ, thậm chí nhiều người còn không thể biết mình sướng hay khổ nữa, nỗi đau làm họ tê liệt hết mọi cảm xúc. Cho nên nếu họ không muốn gây thêm tốn kém không cần thiết cho gia đình, xã hội thì hãy tôn trọng họ. Hơn nữa, mục đích của Quyền được chết là làm cho họ không phải chịu đựng đau đớn kéo dài, đó là mục đích nhân đạo. Họ không chối bỏ quyền được sống mà là không còn đủ điều kiện để đảm bảo sự sống. Điều này khác hẳn với những người có điều kiện sống, bị bệnh có thể cứu chữa được nhưng lại muốn chết, đó mới là trường hợp nên lên án. * Nếu chấp nhận Quyền được chết và thông qua Luật An tử thì đây là cơ sở lạm dụng để thực hiện tội ác vô nhân đạo. Tình trạng sẽ lớn hơn ở các nước có hệ thống pháp luật lỏng lẻo, không kiểm soát được tình hình phạm tội Lý do này đúng và đáng quan tâm khi tiến hành xây dựng Luật An tử nhưng không toàn diện. Một khi đã xác nhận nó là quyền nhân thân, tiến hành xây dựng Luật An tử thì tất nhiên phải quan tâm đến vấn đề xây dựng như thế nào để luật bị ít lạm dụng nhất. Bên cạnh đó cần có những văn bản pháp luật hướng dẫn cụ thể và theo dõi sát sao. Nếu đã xác định được tầm quan trọng và hậu quả có thể xảy ra ngay từ đầu thì tất nhiên phải vạch ra biện pháp phòng ngừa, giải quyết vấn đề có khả năng xảy ra. Tất nhiên không có luật nào vừa mới ra đời đã hoàn thiện, hoàn hảo và phù hợp với cuộc sống ngay, Luật là cuộc sống nhưng cuộc sống lại biến đổi không ngừng. Nhưng nếu không có những đạo luật mới ban hành thì làm sao có được những bộ luật phù hợp, không có gốc ban đầu thì không có quả xanh tốt. Và cần phải khẳng định rằng, một quốc gia muốn ban hành Luật an tử nói riêng và bất cứ văn bản pháp lý nào nói chung đều cần có sự chuẩn bị chu đáo về mọi mặt: tình hình kinh tế, xã hội, ý kiến nhân dân, hệ thống pháp lý… * Nếu có luật An tử, nhiều người bệnh sẽ giảm ý chí, mất tự tin và niềm tin vào cuộc sống. Họ cho rằng đã có luật này thì không cần điều trị vô ích nữa Đây là một quan điểm sai lầm. Luật An tử không bắt buộc người bệnh, nhất là những người bệnh ở giai đoạn cuối, chịu nhiều đau đớn phải chọn an tử. Muốn hay không muốn là quyền của người bệnh. Họ có quyền đợc sống, được chữa bệnh nếu họ muốn. Không phải cứ muốn chết là được chết. An tử chỉ là biện pháp cuối cùng khi không còn cách nào khác, khi rơi vào tình huống y tế không lối thoát và chủ yếu phụ thuộc vào bệnh nhân. Hơn nữa Luật An tử cũng phải quy định một cách chặt chẽ những đối tượng nào được đồng ý áp dụng biện pháp An tử, trường hợp nào không cho nên việc lo lắng về sự mất ý chí của người bệnh vào cuộc sống là không hợp lý. * Đa số các bác sỹ cho rằng,thực hiện cái chết êm ả là hành vi giết người. Chức năng của bác sỹ là cứu người, làm như thế là đi ngược lại với nguyên tắc nghề nghiệp và lương tâm của người thầy thuốc. Quan điểm này chỉ đúng khi Quyền được chết chưa được công nhận, cái chết êm ả chưa được hợp pháp hóa. Nếu có luật thì bác sỹ không phải lo sợ mình phạm tội. Nếu họ không muốn thì cũng không có ai bắt buộc họ. họ có quyền từ chối thực hiện. Hành vi của bác sỹ trong quyền được chết là nhân đạo chứ không hề toan tính, vụ lợi. Bởi vì xét đến cùng, cứu người hay giúp đỡ một bệnh nhân thoát khỏi đau đớn thì mục đích cuối cùng vẫn là mang đến điều tốt đẹp cho bệnh nhân xuất pháp từ lương tâm của họ. Do đó, điều mà các bác sỹ và tất cả chúng ta cùng nhìn vào đó chính là chính là mục đích cuối cùng của hành vi chứ không phải hình thức của hành vi đó. 2. Những quan điểm ủng hộ: Nhiều người trong xã hội, nhất là xã hội Mỹ ngày nay, viện cớ “tự do”. Họ nói rằng “sự sống của tôi là của tôi”, và họ cũng nói rằng “sự chết của tôi là của tôi”, tôi có quyền lựa chọn, định đoạt, không ai có quyền ngăn cản sự tự do của tôi. Từ ngày 8 đến 9/04/1988, hơn 300 người thuộc Liên hội Thế giới Dành quyền Được chết đã tham dự cuộc hội thảo bàn về vấn đề Chết Êm hợp pháp do Tiểu bang California và Hòa Lan đề xướng. Hầu hết các tham dự viên thuộc Hoa kỳ, số còn lại thuộc 16 quốc gia khác. Có tới 2 phần 3 tham dự viên đã ủng hộ cái “Chết êm trực tiếp”. Chủ tịch Dereck Humphrey tuyên bố: “Đây là nguyên tắc, là luật của phong trào chúng tôi: Ý kiến ủng hộ cái chết Êm cách chủ động hay thụ động cũng đều là ý kiến của hội viên cả, không nên chỉ trích lẫn nhau”. Hội Hemlock và hội Người Mỹ Chống đau khổ đều ủng hộ vấn đề Chết Êm. Cũng vào tháng Tư, Hội trên đã xin được 256 ngàn chữ ký trong tổng số ít nhất phải có vào hạn chót (09/05/1988) là 372 ngàn chữ ký ủng hộ để được hợp pháp. Họ nói, nếu năm nay không xin đủ chữ ký, họ sẽ tiếp tục xin thêm nữa cho tới đủ mới thôi. Người dân Hoa kỳ nói chung, theo một bản thăm dò, có tới 60 phần trăm ủng hộ chết Êm (Tài liệu Ethics and Medics, April 1990). * Một số lý do nên ủng hộ luật An tử: - Hướng đến mục đích tốt đẹp là giúp những bệnh nhân trong tình trạng đau đớn kéo dài, bệnh nan y vô phương cứu chữa ở giai đoạn cuối mà sự sống của họ chỉ là đau khổ được ra đi trong thanh thản. Đó chính là một cái chết nhân đạo. - Luật An tử ra đời sẽ giải tỏa nỗi bức xúc của giới bác sỹ trong hoàn cảnh: bệnh nhân đang phải chịu đau đớn kéo dài xin được chết mà họ thì không thể “giết người”. Nếu luật cho phép, họ sẽ có định hướng tốt và có thể yên tâm giúp đỡ bệnh nhân toại nguyện nếu muốn. Điều này tốt cho cả bệnh nhân và cho cả bác sỹ. - Nếu không công nhận Quyền được chết, không ban hành luật An tử thì quyền được chết sẽ mãi mãi nằm trong bế tắc và rối rắm vì nó liên quan đến nhiều lĩnh vực: chính trị, tôn giáo...Những đề nghị, yêu cầu xin được chết nhiều, thậm chí dai dẳng sẽ kéo cả Tòa án và chính quyền vào cuộc, trở thành quả bóng cho các đảng phái nâng cao uy tín của mình...Tiêu biểu là vụ Schiavo ở Mỹ đã kéo cả Tòa án tối cao bang Florida, Toàn án liên bang Mỹ và cả quốc hội mỹ vào cuộc. Khi phân tích những lý do ủng hộ luật an tử như trên thì không có nghĩa luật an tử phải ban hành ngay. Vấn đề đó còn phụ thuộc vào điều kiện của mỗi quốc gia đã có những yêu cầu cấp thiết và những điều kiện phù hợp hay chưa. Có nhiều nước không công nhận quyền được chết là quyền nhân thân nên không ban hành Luật An tử. Có nhiều nước công nhận nó là quyền nhân thân nhưng chưa ban hành luật vì chưa phù hợp hay chỉ chấp nhận hành vi tự tử dưới sự trợ giúp của bác sỹ. 3. Quan điểm của Việt Nam hiện nay: Trên thực tế, tuy Việt Nam không ban hành cụ thể văn bản nào công nhận quyền được chết là quyền nhân thân nhưng bản thân Việt Nam đã công nhận điều này khi đưa nó vào dự thảo sửa đổi Bộ Luật Dân sự năm 2005. Tuy nhiên, quyền này đã không được thông qua. Ngoài những lý