Về đánh giá sửdụng công quỹ “Chuyên gia” và những phán xét giá trị

Tại Hungary được bàn luận nhiều về liệu người ta có sử dụng đúng tiền của những người đóng thuế, “tiền công cộng”, hay không. Thường không chỉ là về tiền của những người đóng thuế Hungary, mà cả tiền từ nguồn nước ngoài nào đó, thí dụ từ các quỹ khác nhau của Liên minh Châu Âu (EU). Trong tất cả các nước, nhiều người, trước hết là các chính trị gia và các quan chức nhà nước có thẩm quyền, tham gia vào việc quyết định phải sử dụng tiền công cộng như thế nào. Bên cạnh đó có nhóm chuyên gia ở mức độ nào đó tách biệt khỏi các nhà ra quyết định, nhóm đó tuy không được trao thẩm quyền quyết định, nhưng có nhiệm vụ một mặt là chuẩn bị quyết định và mặt khác là đánh giá các hoạt động xảy ra sau quyết định. Thực ra, việc chuẩn bị quyết định cũng là một loại đánh giá đặc biệt: phải đối sánh các khả năng lựa chọn khả dĩ có thể được tính đến và thông báo cho các nhà ra quyết định về các hệ quả dự kiến của từng quyết định cụ thể, về các thuận lợi và bất lợi của các lựa chọn khả dĩ khác nhau. Các chuyên gia đảm nhiệm lĩnh vực rất quan trọngvà đầy trách nhiệm này, được gọi chung là các chuyên gia đánh giá (tiếng Anh là appraisal). Đấy là đội ngũ chuyên gia đông đảo ở tất cả các nước; một phần họ làm việc trong lĩnh vực công, một phần khác trong lĩnh vực kinh doanh-doanh nghiệp, một phần thứ ba trong số họ làm việc ở các tổ chức khác nhau không thuộc chính phủ cũng chẳng thuộc lĩnh vực kinh doanh. Với đa số những người này việc đánh giá trở thành nghề chính của họ. Đa số họ là các nhà kinh tế, có thể có trình độ luật gia, nhưng việc đánh giá trước hay sau từng hoạt động được tài trợ bằng tiền công cộng không chỉ cần đến những cân nhắc kinh tế học hay luật học. Phải cân nhắc các tác động chính trị, xã hội và văn hóa, phải sử dụng các kết luận không chỉ của khoa học kinh tế và khoa học luật mà cả của chính trị học, xã hội học và tâm lý học xã hội nữa. Khi đánh giá trước hay sau từng quyết định phải cân nhắc sâu sắc các khía cạnh đạo đức của hành động nữa – ở mức độ ấy c

pdf18 trang | Chia sẻ: tranhoai21 | Ngày: 19/03/2016 | Lượt xem: 174 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Về đánh giá sửdụng công quỹ “Chuyên gia” và những phán xét giá trị, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tác phẩm dịch DC-12 Về đánh giá sử dụng công quỹ “Chuyên gia” và những phán xét giá trị Kornai János Nguyễn Quang A dịch © 2011 Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội Tác phẩm dịch DC-12 Về đánh giá sử dụng công quỹ “Chuyên gia” và những phán xét giá trị Kornai János Nguyễn Quang A1 dịch Quan điểm được trình bày trong bài nghiên cứu này là của (các) tác giả và không nhất thiết phản ánh quan điểm của người dịch và VEPR. 1 Email: anguyenquang@gmail.com Mục lục Dẫn nhập.1 Tiền riêng và tiền công, điều phối thị trường và điều phối quan liêu.3 Các quyết định kỹ trị không mang giá trị7 Phục vụ các lợi ích.10 Về đánh giá sử dụng công quỹ “Chuyên gia” và những phán xét giá trị* Kornai János Dẫn nhập Tại Hungary được bàn luận nhiều về liệu người ta có sử dụng đúng tiền của những người đóng thuế, “tiền công cộng”, hay không. Thường không chỉ là về tiền của những người đóng thuế Hungary, mà cả tiền từ nguồn nước ngoài nào đó, thí dụ từ các quỹ khác nhau của Liên minh Châu Âu (EU). Trong tất cả các nước, nhiều người, trước hết là các chính trị gia và các quan chức nhà nước có thẩm quyền, tham gia vào việc quyết định phải sử dụng tiền công cộng như thế nào. Bên cạnh đó có nhóm chuyên gia ở mức độ nào đó tách biệt khỏi các nhà ra quyết định, nhóm đó tuy không được trao thẩm quyền quyết định, nhưng có nhiệm vụ một mặt là chuẩn bị quyết định và mặt khác là đánh giá các hoạt động xảy ra sau quyết định. Thực ra, việc chuẩn bị quyết định cũng là một loại đánh giá đặc biệt: phải đối sánh các khả năng lựa chọn khả dĩ có thể được tính đến và thông báo cho các nhà ra quyết định về các hệ quả dự kiến của từng quyết định cụ thể, về các thuận lợi và bất lợi của các lựa chọn khả dĩ khác nhau. Các chuyên gia đảm nhiệm lĩnh vực rất quan trọng và đầy trách nhiệm này, được gọi chung là các chuyên gia đánh giá (tiếng Anh là appraisal). Đấy là đội ngũ chuyên gia đông đảo ở tất cả các nước; một phần họ làm việc trong lĩnh vực công, một phần khác trong lĩnh vực kinh doanh-doanh nghiệp, một phần thứ ba trong số họ làm việc ở các tổ chức khác nhau không thuộc chính phủ cũng chẳng thuộc lĩnh vực kinh doanh. Với đa số những người này việc đánh giá trở thành nghề chính của họ. Đa số họ là các nhà kinh tế, có thể có trình độ luật gia, nhưng việc đánh giá trước hay sau từng hoạt động được tài trợ bằng tiền công cộng không chỉ cần đến những cân nhắc kinh tế học hay luật học. Phải cân nhắc các tác động chính trị, xã hội và văn hóa, phải sử dụng các kết luận không chỉ của khoa học kinh tế và khoa học luật mà cả của chính trị học, xã hội học và tâm lý học xã hội nữa. Khi đánh giá trước hay sau từng quyết định phải cân nhắc sâu sắc các khía cạnh đạo đức của hành động nữa – ở mức độ ấy chuyên gia tham gia đánh giá cũng phải thành thạo về các vấn đề triết học chính trị và đạo đức học. Các chuyên gia đánh giá nhiều lần tổ chức các cuộc gặp mặt, để nâng cao trình độ công việc khó * A közpénzek felhasználásának értékeléséről – A “szakember” és az értékitéletek, Mozgó Világ 2010/11 tr. 30-38 (Nguyễn Quang A dịch) Kornai János: Về đánh giá sử dụng công quỹ khăn của họ bằng việc trao đổi suy nghĩ và kinh nghiệm. Cục Phát triển Quốc tế đã tổ chức một cuộc gặp mặt đáng chú ý ở Hungary vào ngày 6 và 7 Tháng Năm 2010, Hội nghị quốc tế về Đánh giá và Phương pháp luận. Những người tổ chức đã mời tôi trình bày báo cáo khai mạc. Đáng tiếc vì mắc bệnh đích thân tôi đã không đến được hội nghị, nhưng tôi đã chuẩn bị bài trình bày. Theo dự kiến ban đầu, bài trình bày và cùng với các tư liệu khác của hội nghị sẽ được xuất bản trong một tập kỷ yếu. Số phận của tập kỷ yếu chưa chắc chắn – vì thế tôi tận dụng cơ hội để công bố nội dung muốn nói của mình trên các cột báo của Mozgó Világ (Thế giới Chuyển động). Văn bản được công bố ở đây không được trang bị bằng bộ máy quen thuộc của tiểu luận khoa học (với việc giới thiệu các tiền đề tài liệu tham khảo, với các chú thích và dẫn chiếu). Tôi giữ nguyên đặc trưng của bản gốc: nghĩa là, đây là một bài trình bày khởi động tranh luận của một hội nghị chuyên môn. Những nhận xét của tôi được chuẩn bị cho một hội nghị ở Budapest – nhưng tôi không bày tỏ ý kiến về các vấn đề của nước Hungary. Tôi diễn đạt điều mình muốn nói sao cho chúng thảo luận các vấn đề đánh giá của tất cả các chương trình được tài trợ toàn bộ hay một phần bằng tiền công cộng (từ tiền công cộng được hình thành ở trong nước hay do các tổ chức quốc tế cung cấp) với đòi hỏi khái quát hóa.1 Tôi coi là nghĩa vụ của mình để cảnh báo bạn đọc ngay lúc mở đầu: có nhiều ngàn chuyên gia chuyên ngành hoạt động trong lĩnh vực đánh giá việc sử dụng tiền công cộng – và tôi không thuộc đội ngũ này. Chuyên ngành của tôi – lý thuyết kinh tế học nói chung, so sánh các hệ thống, các vấn đề kế hoạch, cải cách nhà nước phúc lợi, vân vân – tuy có quan hệ với lĩnh vực này và đôi nơi có những sự chồng lấn, nhưng vẫn có thể coi là lĩnh vực khác. Khi tôi nhận lời mời và chuẩn bị bài trình bày của mình tôi đã cố gắng đọc vài công trình trong vô vàn tài liệu tham khảo và đã nói chuyện với các đồng nghiệp Hungary về kinh nghiệm của họ.2 Thế nhưng cuối cùng tôi vẫn phải khẳng định: ở đây, bây giờ là một người ngoài thử nêu ý kiến về các vấn đề mà những người tham dự hội nghị và các chuyên gia hành nghề chuyên nghiệp về đánh giá hiểu kỹ hơn tôi từ bên trong. Nhưng có lẽ chính điều này cũng có thể có lợi nào đó: đôi khi người ngoài với con mắt mới tinh có thể nhận thấy cái gì đó mà con mắt của 1 Tôi không muốn giới hạn những giãi bày của mình chỉ ở việc phân tích sự phân bổ các nguồn lực do EU tài trợ. Nhiều tổ chức quốc tế (khu vực hay toàn cầu) tài trợ các khoản hỗ trợ tài chính cho nhiều loại mục đích, theo các quá trình khác nhau. Tôi cố gắng sao cho các nhận xét và các kiến nghị của mình có giá trị cho nhóm càng rộng càng tốt của các tổ chức quốc tế. 2 Tôi cảm ơn các bình luận có giá trị của Ember László, Gyene Gyöngyvér, Kenyeres Kinga, Soproni-Harsztyánszki Dorottya và Szűrszabó Péter cho một phiên bản sớm hơn của bản thảo. Tất nhiên tác giả chịu trách nhiệm hoàn toàn về văn bản được công bố ở đây. 2 Kornai János: Về đánh giá sử dụng công quỹ người bên trong đã quá quen, và vì thế cũng chẳng nhìn ra. Tôi đã có thể phải coi là hiển nhiên rằng người ta sử dụng phương pháp luận giống nhau nghiêm ngặt liên quan đến từng chương trình khi [đánh giá] sơ bộ (ex ant) lúc chuẩn bị quyết định và khi đánh giá sau, bổ khuyết (ex post) [đối với quyết định đã được thực hiện]. Trong con mắt của tôi sự thật tầm thường là: cái về sau cần cân nhắc, đã phải được cân nhắc khi chuẩn bị quyết định. Nếu xảy ra diễn biến nào đó ảnh hưởng đến kết quả, mà người ta đã không chú ý đến khi chuẩn bị quyết định, thì điều này chứng tỏ: ban đầu người ta đã để sót không cân nhắc quan điểm quan trọng nào đó, đã xác định tồi sự không chắc chắn, các rủi ro và các diễn biến bất ngờ. Trong phần lớn trình bày của mình tôi không đặt ra sự khác biệt giữa các quan điểm của sự đánh giá ex ant và đánh giá ex post. Các nhận xét của tôi liên quan cả đến đánh giá trước lẫn đánh giá sau. Ở nơi tôi phân biệt giữa hai pha đánh giá, ở đó tôi sẽ lưu ý riêng một cách nhấn mạnh. Tiền riêng và tiền công, điều phối thị trường và điều phối quan liêu Chủ đề của hội nghị liên kết chặt chẽ đến lĩnh vực vấn đề, mà được cả kinh tế học lẫn các môn thân cận là khoa học chính trị và xã hội học xem xét rất nhiều: mối quan hệ thị trường và nhà nước thế nào, các đặc trưng thực sự và đáng mong muốn của mối quan hệ này là gì. Trong lĩnh vực vấn đề này tôi cảm thấy mình thông thạo, vì từ hàng thập kỷ nay nó đã làm tôi bận tâm mạnh mẽ. Chỉ có Robinson đã có thể hoạt động (trong một thời gian) trong sự tách biệt hoàn toàn – những người khác hợp tác với nhau, hay đấu tranh chống lại nhau. Cần điều phối các hoạt động của họ. Nhiều loại cơ chế điều phối hoạt động cạnh nhau, và một phần kết hợp với nhau. Trong số đó tôi nhấn mạnh hai cơ chế: điều phối thị trường và điều phối quan liêu. Trong bài viết này tôi không thể trình bày chi tiết các nét đặc trưng của hai loại cơ chế này, những khác biệt căn bản giữa chúng.3 Hoạt động của những người tham dự hội nghị thuộc về lĩnh vực của “điều phối quan liêu”. Các công chức nhà nước, hay các viên chức của các tổ chức nhà nước, là các cộng sự của bộ máy dọc có tính nhà nước. Họ nhận các chỉ thị từ các cấp trên của mình, và phải báo cáo về việc thực hiện chúng cho các thượng cấp. Lương của họ được trả từ tiền công cộng. Họ tham gia vào việc phân bổ các khoản tiền công cộng, dù khi chuẩn bị các quyết định hay khi đánh giá bổ khuyết sau khi thực hiện các quyết 3 Những người muốn tìm hiểu chi tiết hơn các suy nghĩ của tôi liên quan đến vấn đề này, hãy đọc các chương thảo luận chủ đề này của cuốn “Hệ thống xã hội chủ nghĩa” (NXB, Văn hóa thông tin, 2002) của tôi. 3 Kornai János: Về đánh giá sử dụng công quỹ định.4 Ngôn ngữ thông thường nhiều khi dùng từ “quan liêu” với nghĩa xấu. Trong từ vựng của tôi không có chút nghĩa xấu nào được gắn cho từ này, mà tôi dùng theo nghĩa của nhà khoa học xã hội Đức vĩ đại, Max Weber. Có người tin: thị trường là cơ chế điều phối hoạt động tuyệt vời – hãy để nó yên. Nơi nào cơ chế điều phối quan liêu nhúng mũi vào ở đó nó chỉ gây rắc rối. Tôi không chấp nhận quan điểm này. Có người tin: thị trường là nhà điều phối bất công, mù quáng, đỏng đảnh – xấu một cách vô vọng. Chỉ có nhà nước anh minh và nhân từ mới có thể giúp con người. Tôi cũng chẳng chấp nhận quan điểm này. Tôi xem xét cả hai cơ chế điều phối mà không có các ảo tưởng. Cả hai đều có các tính chất thuận lợi và bất lợi – nhưng trong mọi hoàn cảnh, đấy là các tính chất bẩm sinh, vốn có của chúng. Có nhiều loại thất bại thị trường và có nhiều loại thất bại chính quyền. Sau những điều này có lẽ có một kết luận đơn giản. Phải kết hợp cả hai loại cơ chế và khi đó chúng cùng nhau sửa chữa các lỗi của nhau. Hãy để thị trường hoạt động rộng rãi – nhưng nhà nước phải điều tiết thị trường. Và nhà nước không chỉ điều chỉnh thị trường mà bản thân nó cũng thực hiện việc điều phối: chia các khoản tiền công cộng, thực hiện các khoản đầu tư và vân vân. Hai loại cơ chế điều phối bổ sung cho nhau một cách may mắn. Hoặc đúng, hoặc không. Trong trường hợp đúng, điều phối quan liêu sửa các lỗi do cơ chế thị trường gây ra và lấp chỗ trống nơi hoạt động của thị trường bỏ lại. Nhưng trong trường hợp xấu, hai loại cơ chế kết hợp với nhau theo cách, làm yếu các tính chất tốt của nhau, trong khi có lẽ cũng không làm giảm bớt các nét xấu của nhau. Có thể hình thức kết hợp hoạt động tồi hơn so với giả như bất cứ hình thức nào chiếm ưu thế một cách “thuần khiết”. Dường như tôi đã khởi hành từ quá xa, thế mà tôi tin chắc rằng tôi đã đụng đến một trong những vấn đề quan trọng nhất của chủ đề của hội nghị ở đây. Nếu giả như tôi phải đưa ra quyết định về việc sử dụng tiền công cộng, hay sau đó phải đưa ra lập trường: họ đã sử dụng tiền công cộng tốt hay không, thì họ phải thuyết phục tôi về: thực sự có cần đến tiền công cộng cho nhiệm vụ này hay không? Có thật 4 Có thể các cộng sự của các hãng tư nhân, như các công ty tư vấn, cũng có thể tham gia vào các cuộc thảo luận, mà công việc của chúng do bộ máy quan liêu đặt hàng, bộ máy nhà nước chi trả và quyết định về việc chấp nhận chúng, như thế trong chừng mực ấy công việc của họ ngấm vào sự điều phối quan liêu. 4 Kornai János: Về đánh giá sử dụng công quỹ là sáng kiến tư nhân, các lợi ích kinh doanh (hay [các] cơ chế điều phối thứ ba vẫn chưa được nhắc tới đến nay, sự hăng say dân sự, sự liên kết tự nguyện, chủ nghĩa vị tha) đã không thể giải quyết nhiệm vụ này? Vì sao phải cấp hỗ trợ nhà nước cho các doanh nghiệp định hướng lợi nhuận? Vì sao phải dùng tiền công cộng để lập các tổ chức nhằm thực hiện các chức năng mà các tổ chức đó có thể hình thành một cách tự phát, theo sáng kiến tư nhân, với hy vọng lợi nhuận? Vì sao phải ủng hộ bằng tiền công cộng các chương trình văn hóa hay thể thao, hay vì sao phải bằng tiền công cộng để cung cấp hoàn toàn miễn phí các dịch vụ mà phần lớn người dân sẵn sàng và có khả năng chi trả? Có lẽ có thể thuyết phục rằng trong các trường hợp như vậy vì những cân nhắc nhất định thực sự cần đến việc chi tiền công cộng. Đồng ý – khi đó hãy thuyết phục tôi về điều này, nhưng với lập luận nghiêm túc! Câu trả lời không hiển nhiên – và đừng có ai thử tạo ấn tượng cứ như có câu trả lời tầm thường, có thể chấp nhận được mà không cần suy nghĩ, và hầu như đúng một cách tự động cho các tình thế lưỡng nan rất khó xử này. Kinh tế học đã khám phá ra một cách ngay thẳng các biến thể khác nhau của những thất bại thị trường: Tác động của từng hành động không được nội bộ hóa hoàn toàn trong tính toán riêng của những người tham gia. Sự cưỡng bức hành chính và/hoặc khuyến khích bằng tiền công cộng có thể thúc đẩy sự lưu ý đến các ảnh hưởng ngoại lai. Cũng bõ công nhấn mạnh vài trường hợp đặc biệt của các tác động ngoại lai. Một số tác động của các hành động ngày hôm nay – về phía cả các khoản lời và lợi thế, cả các khoản lỗ và những hy sinh – chỉ xuất hiện với một thời gian trễ, trong khi những người tham gia cơ chế thị trường chỉ cảm nhận các hành động nhanh ngay lập tức hay có độ trễ ngắn. Vì thế, có thể có lý do chính đáng để hỗ trợ bằng tiền công cộng các chương trình mà tác động có lợi của chúng trước hết các thế hệ sau sẽ được hưởng. (Tại điểm này tôi không thể nhịn được để rẽ khỏi dòng tư duy này một chút. Nếu một mục đích của việc ném tiền công quỹ thực sự là để kích thích việc đạt các kết quả sẽ xuất hiện sau 5 hay 25 năm nữa – thì phải chăng việc đạt hiệu quả của ý định này sẽ được giúp đỡ bao nhiêu bởi sự đánh giá mà người ta sẽ thực hiện chưa đầy vài năm sau khi khởi động từng dự án? Tác động tâm lý của việc xem xét lại gấp rút sẽ đúng là ngược lại. Phải nhanh chóng tạo ra các kết quả ngoạn mục để người đánh giá được hài lòng. Việc đánh giá tương đối sớm – dù người ta muốn thế một cách có chủ ý, hay dù ngược với các ý định đã được tuyên bố – sẽ chống lại việc tôn trọng các lợi ích dài hạn thật sự!) Loại quan trọng và được biết khá kỹ khác của tác động ngoại lai là: tác động “nhân đạo” không thể 5 Kornai János: Về đánh giá sử dụng công quỹ trình bày trực tiếp bằng tiền được. Nhiều thứ có thể liệt kê vào loại này: từ việc hỗ trợ những người gặp tai họa đến việc củng cố phẩm giá con người, từ phổ biến các giá trị tinh thần đến bảo tồn các truyền thống cao quý. Ở đây, việc cơ chế quan liêu với sự trợ giúp của tiền công cộng thử bù lại hoạt động phân bổ của cơ chế thị trường là chính đáng. Thế nhưng có thể đi đến đâu và không được phép đi đến đâu trong vai trò bù trừ hay chỉnh sửa này? Đặc biệt đối với các hoạt động mà trong đó nhà khởi nghiệp kinh doanh, vốn tư nhân, cơ chế thị trường có thể xuất hiện một cách tự phát? Nếu nhà phân bổ nhất quyết quyết định: hỗ trợ tiền công cộng cho sản phẩm hay nhóm sản phẩm, dịch vụ hay nhóm dịch vụ nào đó được nhấn mạnh - thì người đó đã tiến hành lựa chọn. Trao thuận lợi cho một hướng hoạt động khả dĩ, đối lại các hướng khác cạnh tranh trực tiếp hay gián tiếp với hướng đó. Có chắc là chọn đúng? Đối với cá nhân tôi, người dễ mến là người mà tôi cảm thấy: không ngạo mạn, không quả quyết, không nghĩ rằng quan chức hay thành viên ban thẩm định hay chủ tịch hội đồng những người ra quyết định là những người ex officio ([do có chức nên]đương nhiên) thông minh hơn thị trường, hơn người chủ chịu rủi ro của đồng tiền riêng của mình, hơn nhà kinh doanh mang vốn vật chất và tinh thần của mình ra thương trường, hơn nhà khởi xướng sáng kiến. Liệu có chắc không – với tư cách thành viên hội đồng – rằng người đó đồng ý cấp tiền công cộng cho hai sinh viên trường Stanford những người đã muốn phát triển một công cụ tìm kiếm hiệu quả trên Internet? Google đã trưởng thành từ ý tưởng không mấy hào nhoáng của họ. Việc chia chác tiền công cộng một mặt có thể chỉnh sửa các lỗi và các thất bại của thị trường mù quáng. Mặt khác nó có thể đưa sự méo mó unfair, không đúng đắn vào cạnh tranh thị trường. Có thể biến những người được bơm tiền công cộng thành người thoải mái, buông thả. Những người được chiếu cố nhận ra rằng chạy chọt lấy tiền nhà nước có lợi hơn việc đứng vững trên thương trường. Hình thành sự “săn tiền tô – rent seeking” được biết đến rất kỹ trong kinh tế học. Tôi không – người khác cũng chẳng – biết đưa ra công thức cho việc phải quyết định thế nào. Không có đường ranh giới có hiệu lực một lần và mãi mãi giữa các lĩnh vực, mà trong đó việc chia chác tiền công cộng có lý do chính đáng và không chính đáng. Mỗi quyết định đi cùng với các thế lưỡng nan khó xử. Tôi chỉ muốn bảo vệ chống lại sự gạt bỏ các lập trường cực đoan, các mâu thuẫn khó khăn bằng các khẩu hiệu rẻ tiền (chống thị trường hay chống cơ chế quan liêu), với sự nhẹ dạ và với sự suy nghĩ nông cạn mà thôi. 6 Kornai János: Về đánh giá sử dụng công quỹ Các quyết định kỹ trị không mang giá trị? Cả trong báo giới và trong giới chính trị, cả trong bộ máy của các nhà chức trách có thẩm quyền, nhiều lần vang lên lời đòi hỏi rằng phải giao phó việc phân bổ tiền công cộng cho “các quyết định chuyên nghiệp”. Đây là đòi hỏi dễ nghe, và – khi nghe lần đầu – có thiện cảm trong con mắt của những người đã ngán đến phát nôn vì việc chính trị hóa thái quá mọi vấn đề nhỏ và lớn. Thế mà tôi vẫn chống lại đòi hỏi này, vì tôi cho là ảo tưởng hoàn toàn. Về điều phối các hoạt động con người và phân bổ các nguồn lực vật chất chỉ có thể quyết định theo “các quan điểm chuyên môn” bên trong một hệ thống giá trị cho trước. Nếu hội đồng ra quyết định của một doanh nghiệp tư nhân định hướng lợi nhuận lựa chọn giữa các phương án đầu tư, thì đối với nó về cơ bản đã có một giá trị chính định hướng cho sự lựa chọn rồi, cụ thể là nâng cao lợi nhuận của doanh nghiệp. (Chúng ta phải nói thêm: ngay cả khi đó một phân tích cẩn trọng hơn vẫn lo âu một cách chính đáng: phải chăng trước hết phải phục vụ lợi ích của các cổ đông lớn ít biến đổi, có lẽ của gia đình sáng lập, hay lợi ích của các cổ đông nhỏ thay đổi nhanh hơn? Trước hết là lợi ích của những người chủ sở hữu, hay đúng hơn là lợi ích của các nhà quản lý? Và phải chăng người ta có thể kỳ vọng ở một hãng nghiêm túc, mà chỉ vì “public image – hình ảnh công chúng” đã hình thành của nó, rằng từ nhiều quan điểm nó vượt qua được các lợi ích lợi nhuận hẹp của mình?) Có thể nói còn đúng hơn rất nhiều về phân bổ các khoản tiền công cộng: không có quyết định không mang tính giá trị (value free). Trường hợp tương đối hiếm, nhưng có xảy ra, là khi ra quyết định người ta công khai chỉ ra họ đã quyết định phục vụ các giá trị nào. Thường xuyên hơn nhiều – tuy về sự lựa chọn dựa trên các giá trị ngầm định – các giá trị được che dấu. Chúng bị ẩn dấu, bởi vì những người chuẩn bị quyết định, người ra quyết định và muộn hơn người xem xét lại quyết định bản thân họ chẳng hiểu rõ ràng mối quan hệ giữa một mặt là chương trình, hành động và mặt khác là các giá trị cuối cùng. Không được phép đòi hỏi các chuyên gia phân bổ công quỹ rằng theo tinh thần kỹ trị họ hãy đạt đến đề nghị gợi ý dứt khoát, vô điều kiện của một quyết định nào đó, và bằng cách này họ tiết kiệm cho những người phải ra quyết định khỏi nỗi lo lựa chọn thực sự của họ về giá trị. Nghĩa vụ của các chuyên gia chuẩn bị quyết định (và tương tự của các nhà phân tích đánh giá sau [ex post] các quyết định) là phải chỉ ra các mối quan hệ giữa một mặt là các lựa chọn hành động khả dĩ và mặt khác là các giá trị 7 Kornai János: Về đánh giá sử dụng công quỹ cuối cùng và các mục tiêu chính trị. Trong các khảo sát ex ante phải chỉ ra các mối quan hệ này liên quan đến các lựa chọn khả dĩ có thể chọn thực sự. Trong các khảo sát ex post, phải đối sánh các hoạt động thực sự đã hoàn tất với các hoạt động đối-thực (