Đặc điểm sinh học của cá rô phi

Dựa vào đặc điểm sinh sản, người ta chia cá rô phi thành 3 giống: ƒ Tilapia (cá đẻcần giá thể) ƒ Sarotherodon (Cá bốhay cá mẹ ấp trứng trong miệng) ƒ Cá rô và Oreochromis (Cá mẹ ấp trứng trong miệng)

pdf20 trang | Chia sẻ: haohao89 | Lượt xem: 3054 | Lượt tải: 5download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đặc điểm sinh học của cá rô phi, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA CÁ RÔ PHI 1. Phân loại: Dựa vào đặc điểm sinh sản, người ta chia cá rô phi thành 3 giống: ƒ Tilapia (cá đẻ cần giá thể) ƒ Sarotherodon (Cá bố hay cá mẹ ấp trứng trong miệng) ƒ Cá rô và Oreochromis (Cá mẹ ấp trứng trong miệng) Cá rô phi hiện đang nuôi phổ biến ở Việt Nam thuộc : Bộ cá vược - PerciForms Họ - Cichlidae Giống - Oreochromis Loài - Cá rô phi vằn O.niloticus. Hiện nay có 3 loài chính được phổ biến tại Việt Nam là : ƒ Cá rô phi cỏ Oreochromis Mossambicus, được nhập vào Việt Nam năm 1953 qua ngã Thái Lan. ƒ Cá rô phi văn ( Rô phi Đài Loan O.niloticus ) được nhập vào Việt Nam năm 1974 từ Đài Loan. ƒ Cá rô phi đỏ ( red Tilapia ), có màu hồng được nhập vào Việt Nam năm 1985 từ Maliaxia. 2. Đặc điểm hình thái: Cá rô có thân hình màu hơi tím, vảy sáng bóng, có 9-12 sọc đậm song song nhau từ lưng xuống bụng. Vi đuôi có màu sọc đen sậm song song từ phía trên xuống phía dưới và phân bổ khắp vi đuôi. Vi lưng có những sóc trắng chạy song song trên nền xám đen. Viền vi lưng và vi đuôi có màu hồng nhạt. Phân biệt cá đực, cá cái: ĐẶC ĐIỂM PHÂN BIỆT CÁ ĐỰC CÁ CÁI Đầu To và nhô cao Nhỏ, hàm dưới trề do ngậm trứng và con Màu sắc Vi lưng và vi đuôi sặc sỡ Màu nhạt hơn Lỗ niệu sinh dục 2 lỗ : lỗ niệu sinh dục và lỗ hậu môn 3 lỗ : lỗ niệu. lỗ sinh dục và lỗ hậu môn. 4. Môi trường sống: Các loài cá rô phi hiện đang nuôi có đặc điểm sinh thái gần giống nhau. Nhiệt độ: Nhiệt độ cần thiết cho sự phát triển của cá rô phi từ 20-320C, thích hợp nhất là 25-320C. khả năng chịu đựng với biến đổi nhiệt độ cũng rất cao từ 8-420C, cá chết rét ở 5,50C và bắt đầu chết nóng ở 420C. Nhiệt độ càng thấp thì cá càng giảm ăn, ức chế sự tăng trưởng và tăng rủi ro nhiễm bệnh. Độ mặn: Cá rô phi là loài rộng muối, có khả năng sống được trong môi trường nước sông, suối, đập tràn, hồ ao nước ngọt, nước lợ và nước mặn có độ muối từ 0-40%. Trong môi trường nước lợ (độ mặn 10-25‰) cá tăng trưởng nhanh, mình dày, thịt thơm ngon. pH: Môi trường có độ HP từ 6,5-8,5 thích hợp cho cá rô phi, nhưng cá có thể chịu đựng trong môi trường nước có độ PH thấp bằng 4. Oxy hoà tan: Cá rô phi có thể sống được trong ao, đìa có màu nước đậm, mật độ tảo dày, có hàm lượng chất hữu cơ cao, thiếu Oxy. Yêu cầu hàm lượng oxy hoà tan trong nước của cá rô phi ở mức thấp hơn 5-10 lần so với tôm sú. 5. Đặc điểm về dinh dưỡng và sinh trưởng. Tập tính ăn: Khi còn nhỏ, cá rô phi ăn dinh vật phù du ( tảo và động vật nhỏ ) là chủ yếu ( cá 20 ngày tuổi , kích thước khoảng 18mm). Khi cá trưởng thành ăn mùn bả hữu cơ lẫn các tảo lắng ở đáy ao, ăn ấu trùng, côn trùng, thực vật thuỷ sinh. Tuy nhiên trong nuôi công nghiệp cá cũng ăn các loại thức ăn chế biến từ cá tạp, cua, ghẹ, ốc, bột cá khô, bột bắp, bột khoai mì, khoai lang, bột lúa, cám mịn, bã đậu nành, bã đậu phộng.Trong thiên nhiên cá thường ăn từ tầng đáy có mức sâu từ 1-2m. Sinh trưởng: - Khi nuôi trong ao, cá sử dụng thức ăn tự nhiên sẵn có kết hợp với thức ăn chế biến, cá rô phi vằn đơn tính lớn nhanh từ tháng đầu đến tháng thứ 5-6. Sản xuất giống cá rô phi Cho đẻ trong ao - Ao có diện tích từ 500-1.000m2, nền đáy ao là cát pha sét để cá dễ làm tổ. Nếu là ao cũ phải dọn sạch ao, dùng vôi tẩy ao để đảm bảo cá không bị bệnh. - Đối với các tỉnh ở phía Nam, cá rô phi hầu như đẻ quanh năm. Ở các tỉnh phía Bắc, vào mùa xuân từ tháng 4 là mùa cá rô phi bắt đầu đẻ. Sau khi nuôi cá qua đông, tuyển chọn cá khỏe, không bị xây sát vây, vẩy, cỡ từ 300-500g/con trở lên làm cá bố mẹ, tỷ lệ cá đực và cá cái là 1 đực/1 cái hoặc 1 đực/2 cái, thả với mật độ 1,5-2con/m2. Thời gian nuôi vỗ 15-20 ngày. Trong thời gian nuôi vỗ, dùng thức ăn gồm: - Cám+ tấm ( nấu chín)+ bột cá theo tỷ lệ 20% bột cá+ 75% cám+ 5% tấm. Ngày cho cá ăn 1-2 lần. Lượng thức ăn trong ngày bằng 1-2% khối lượng cá nuôi. - Nếu ở nhiệt độ thích hợp 24-320C, sau 10-15 ngày kể từ khi thả cá bố mẹ vào ao, cá sẽ đẻ. Sau khi cá đẻ 15-17 ngày tiến hành thu cá bột. Cá bột được thu theo cách như sau: - Dùng lưới mắt thưa 2a= 10-12 cm kéo dồn cá bố mẹ vào một góc, bắt cá bố mẹ ra khỏi ao cá đẻ, chuyển sang ao khác nuôi vỗ để cho đẻ lứa tiếp theo và dùng chính ao cho đẻ để ương cá bột. Dùng vợt vớt cá bột, để lại cá bố mẹ ở ao cho đẻ tiếp lứa sau. Tuy nhiên cho cá rô phi đẻ tiếp lứa sau có những hạn chế: - Việc bắt cá rô phi mẹ ra khỏi ao cho đẻ gây ảnh hưởng đến cá bột trong ao. Bắt cá bột ra khỏi ao để lựa cá bố mẹ trong ao sẽ không thể thu được triệt để cá bột. - Vì thế hiện nay đang áp dụng phổ biến phương pháp cho cá rô phi đẻ tự nhiên trong giai chứa và ấp trứng cá trong bình vây hay trong khay. Đây là kỹ thuật sản xuất giống tiên tiến để thu được lượng cá bột đồng cỡ, cùng lứa tuổi, lại có thể phục vụ cho việc chuyển giới tính cá. Cho cá rô phi đẻ trong giai - Giai dùng cho cá rô phi đẻ được cấu tạo bằng sợi lưới cước mắt mau, hình khối chữ nhật có 4 mặt và một đáy dưới kích thước 8x5x1,5m, mắt lưới 1mm. Đặt giai trong ao hồ nơi nước trong sạch và đặt ngập nước 1m cách đáy ao, hồ từ 0,3-0,5m - Vào đầu tháng 4 khi nhiệt độ tăng lên 24-260C là thời điểm thích hợp cho cá rô phi đẻ và ấp trứng. - Chọn cá khỏe không bị xây sát vây, vẩy. Khối lượng từ 300-500g/con. Cá cái bụng to đều, cá đực có vây đuôi, vây lưng, vây bụng, màu sặc sỡ; tỷ lệ đực cái là 1/1 hoặc 1/2 thả vào giai. Mật độ 3-7 con/m2 - Trong quá trình nuôi cá bố mẹ trong giai, cho cá ăn thức ăn gồm cám+tấm nấu chín trộn đều với bột cá theo tỷ lệ 20% bột cá+75% cám+5% tấm hoặc thức ăn viên có hàm lượng Prôtêin 25-30%. Cho ăn 1-2 lần/ngày. Khẩu phần ăn 1-2 % khối lượng cá nuôi. - Sau khi thả được 5-7 ngày, kiểm tra trứng từ miệng cá cái để phát hiện cá đẻ và thu trứng ấp đi. Chu kỳ giữa 2 lần thu trứng khoảng 5 ngày nếu nhiệt độ 26- 300C. Trứng được cho vào khay hoặc bình vây để ấp. Sau khi cá bột tiêu hết noãn hoàng thì đem đi ương. Công nghệ chọn giống cá rô phi dòng Gift Tuyển chọn và nuôi vỗ cá bố mẹ - Chọn cá bố mẹ khoẻ mạnh, không dị hình, không sây sát, cá đực và cá cái có kích thước tương đương nhau để hạn chế cá đực tấn công cá cái trong quá trình ghép gia đình. - Cá đực và cá cái được nuôi riêng ở các giai thưa có kích thước 20m2, với thức ăn có hàm lượng đạm 18-20%, mức ăn 2% trọng lượng cơ thể/ngày. Mật độ thả 3-5 con/m2. Ghép cho sinh sản - Chọn cá bố mẹ đã thành thục, có nguồn gốc từ các gia đình khác nhau để ghép thành các gia đình mới. - Cá đực và cá cái có kích thước tương đương được đưa vào các giai có diện tích 3m2 để cá đẻ tự nhiên theo tỉ lệ ghép đực:cái là 1:2. Thu và ương cá bột - Khi quan sát thấy cá bột xuất hiện trên mặt nước thì tiến hành thu và chuyển sang giai 1m2 để ương cá bột. Mật độ thả 250 con/gia đình/giai. - Cho cá ăn cám bột có hàm lượng đạm 25-30%. Khẩu phần ăn bằng 7-10% trọng lượng cơ thể/ngày. Uơng cá giống Khi cá bột đạt 1-2g sẽ chuyển sang ương trong giai 3m2. Mật độ thả 150 con/gia đình/giai. - Cho cá ăn bằng thức ăn bột có hàm lượng đạm 25-30%. Khẩu phần ăn bằng 5- 7% trọng lương cơ thể/ngày. Đánh dấu các gia đình - Khi cá giống đạt kích thước 10-15g/con, tiến hành đánh dấu các gia đình để nuôi chung trong ao. - Chọn ngẫu nhiên 40 con/gia đình để đánh dấu, thả nuôi chung trong ao cho đến khi thu hoạch. - Chọn ngẫu nhiên 20 con/gia đình, đánh dấu điện tử, giữ trong các giai mau để làm thí nghiệm chịu lạnh. Chăm sóc cá nuôi trong ao - Hàng ngày cho cá ăn thức ăn có hàm lượng đạm 18-20%, khẩu phần ăn 3-5% trọng lượng cơ thể/ngày. - Thay nước và cân trọng lượng hàng tháng để điều chỉnh thức ăn cho phù hợp. Thu hoạch cá thí nghiệm - Hạ từ từ mức nước ao, dùng lưới thu cá chuyển sang các giai thưa. - Đọc toàn bộ dấu điện tử và cân trọng lượng của từng con tương ứng. - Chọn lọc những cá thể và gia đình có giá trị di truyền tốt làm cá bố mẹ cho quá trình chọn giống năm sau. Kỹ thuật sản xuất giống cá rô phi đơn tính đực Các loài cá rô phi (Oreochromis sp.) đều thành thục và sinh sản rất sớm (5-7 tháng tuổi). Chúng lại có khả năng sinh sản nhiều đợt trong năm với điều kiện bình thường của ao nuôi. Đặc tính đó đã dẫn đến kích cỡ cá thịt khi thu hoạch không đồng đều do ta không khống chế được mật độ quần đàn, vì vậy hiệu quả kinh tế thấp. Một trong những biện pháp khắc phục tình trạng trên là tạo cho được đàn giống cá rô phi nuôi gần như toàn con đực (trên 95%), bằng hormone tính đực Methyltestosteron (viết tắt: MT). Vấn đề này trên thế giới đã thực hiện thành công từ năm 1990. Năm 1995, Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I (Đình Bảng, Hà Bắc) đã nhập công nghệ và sản xuất thành công nửa triệu cá rô phi giống đơn tính đực ở giai đoạn cá hương, đạt chỉ tiêu quy trình kỹ thuật. Từ đó, đã mở ra một thời kỳ mới cho công nghệ nuôi cá rô phi thương phẩm phát triển ở nước ta. Chúng tôi xin giới thiệu quy trình kỹ thuật sản xuất cá rô phi đơn tính đực, để bà con tham khảo, áp dụng. Nuôi vỗ cá bố mẹ ƒ Tuổi cá 1-2 năm, khối lượng 100-150g trở lên. ƒ Tỷ lệ đực cái: 1/2-1/3. Cá cái có 3 lỗ ở bụng, cá đực 2 lỗ. ƒ Dụng cụ: Giai có mặt lưới cỡ 1mm, đặt trong ao. Một giai nhốt cá đực, 2-3 giai nhốt cá cái. ƒ Cũng có thể nuôi vỗ cá bố mẹ trong các ao, bể xây cỡ nhỏ và nhớ nuôi riêng đực, cái. ƒ Mật độ nuôi: 5-6 con/m2 mặt nước. ƒ Thức ăn: loại tổng hợp có hàm lượng đạm 30-32%. Khẩu phần 2-2,5% khối lượng cá mỗi ngày. ƒ Có thể bón thêm phân vô cơ để gây nguồn thức ăn tự nhiên là sinh vật phù du, với liều lượng 40g đạm + 20g lân cho 100m2 ao trong mỗi tuần lễ. Cho cá đẻ ƒ Dụng cụ: Giai sinh sản cắm trong ao theo từng cụm 3 cái một, mực nước sâu 0,8m. Nên làm 12 giai (4 cụm) cho một đợt sinh sản để thu được trứng thụ tinh tập trung. Giai sinh sản có kích cỡ 2,7m x 4,2m x 1m (sâu), cỡ mặt lưới 1mm. Các giai cũng có thể để trong bể xi măng, có nguồn nước lưu thông nhẹ. ƒ Chọn cá: Theo nhóm 6 cái + 3 đực. Mỗi nhóm cho vào 1 giải. Thu trứng Cứ 5-7 ngày thu trứng một lần từ miệng cá. Vì cá rô phi ngậm trứng đã thụ tinh trong miệng và ấp ở đó. ƒ Dụng cụ: Vợt 2 lớp lưới, lớp lưới có mặt dưới dày như vợt vớt cá bột, lớp trên thưa có mặt lưới 2cm. Đáy lưới lớp dưới thấp hơn đáy trên 8-10cm, để khi vợt bắt cá, cá quẫy không làm hỏng trứng (được đựng ở đáy dưới lưới). ƒ Cách thu: Một người dùng 1 tay cầm vợt vớt cá, tay kia đi găng bằng vải, giữ và bóp nhẹ miệng cá để cá nhả trứng ra. Người khác dùng bát nhựa sạch, đựng một ít nước để hứng trứng. Trứng được phân ra 4 nhóm: Nhóm chưa rõ mắt phôi; Nhóm đã rõ mắt đen; Nhóm sắp nở; Nhóm đã nở. Sau đó cho ấp theo các nhóm trong cùng giai đoạn. Cá bố mẹ đã lấy trứng, thả về nuôi vỗ đực, cái riêng, sau 3 tuần, lại cho sinh sản tiếp. Ấp trứng ƒ Dụng cụ: Khay men hoặc nhựa, tôn. Mật độ ấp 3-5 trứng/cm2. Bình thủy tinh hoặc nhựa trong, hình trụ, thể tích 6 lít, ấp 2,2 kg trứng là vừa. ƒ Điều kiện môi trường: Có dòng nước chảy nhẹ qua ống dẫn từ trên xuống đáy bình, không cho nước phun từ đáy bình lên. Nhiệt độ nước 27-30oC; 4-5 ngày cá sẽ nở. Chuyển giới tính cá bột ƒ Điều kiện: Khi cá bột đã bơi ngang được và bắt đầu biết ăn thì chuyển vào giai đoạn nuôi, cho ăn bằng thức ăn có trộn hormone tính đực để chuyển giới tính. ƒ Dụng cụ: Giai ương cá bột có kích cỡ 3m x 2m x 1m (cao), mặt lưới cỡ 1mm. ƒ Mật độ ương: 10-12 con/lít. ƒ Bón lót phân vô cơ: 0,6kg đạm + 0,7 kg lân cho 100m2 mặt giai trong một tuần. ƒ Dùng 50 microgam hormone tính đực trong 1 kg thức ăn cho 100m2 giai. ƒ Cách pha chế: - Lấy 1g MT cho hòa tan trong 1 lít ethnol 95o. - Dùng bột cá nhạt (không bỏ muối khi chế biến) hoặc thức ăn tổng hợp có 35% đạm, nghiền mịn, sàng qua mặt lưới cỡ 0,85mm (2). - Lấy 925g thức ăn (2) đó, cho thêm 14g Prelmix, 1g Vitamin C (hoặc axit ascobic) trộn đều (3). - Lấy từ dung dịch (1), cho tiếp vào 940ml ethanol, rồi dùng dung dịch mới này hòa lẫn với thức ăn (3) đã sàng kỹ. Quấy đều trong 20 phút cho bay hết hơi ethanol, để khô hẳn rồi sàng lại (4). - Cho thêm 1,4g Tetramicin, 30ml dầu thực vật và 30g dầu gan cá vào thức ăn (4). Trộn đều trong 10 phút. Cho vào túi ni lông, bảo quản lạnh cho cá ăn dần. ƒ Cho cá ăn: - Khẩu phần: 5 ngày đầu, mỗi ngày cho lượng thức ăn bằng 25% khối lượng cá; 5 ngày tiếp, bằng 20%; 5 ngày sau nữa, bằng 15%. Và 4 ngày cuối cùng, cho ăn bằng 10% khối lượng cá. - Cách cho ăn: 4-5 lần mỗi ngày. Vãi đều trong giai nhốt cá. Ương cá bột đã xử lý MT ƒ Ao ương: Tẩy vôi và diệt khuẩn, trừ chua, diệt tạp và bón lót phân cho ao ương như khi ương các loại cá khác. ƒ Mật độ: 150-160 con/m2 ao. Nếu ương bằng giai, mật độ 1000 con/m2. Giai cũng đặt trong ao. ƒ Thức ăn: Giống như các loài cá bình thường khác. ƒ Chăm sóc: Thường xuyên vệ sinh giai để khỏi bí nước lưu thông trong và ngoài giai (nếu ương trong giai). Nếu ương trực tiếp vào ao phải bảo vệ, diệt các loại địch hại ăn cá bột (rắn, ếch, nhái...). Kiểm tra kết quả chuyển giới tính Khi cá đã đạt cỡ 2-3 g/con, lấy 100-200 con ngẫu nhiên để xác định giới tính cá cái dưới bụng có 3 lỗ, cá đực có 2 lỗ. Nếu cá đực chiếm 95% trở lên là được. Đến lúc cá đạt cỡ chiều dài 4-7cm, dùng làm cá giống để thả vào các ao, đầm nuôi thành cá thịt. Làm sao chuyển giới tính cá rô phi? Trong ao nuôi cá rô phi thì cá đực luôn nhanh lớn hơn cá cái do cá cái trong thời gian ấp trứng thường nhịn ăn. Nếu trong ao nuôi toàn cá đực thì toàn bộ năng lượng thức ăn cá đều dùng cho mục đích tăng trưởng, không dùng vào sinh sản nên cá lớn nhanh và đồng cỡ. Chính vì vậy mà khi nuôi cá rô phi thương phẩm, người nuôi thường thích nuôi cá đực hơn. Để có nhiều cá đực đáp ứng cho nhu cầu phát triển chăn nuôi, nhiều nước trên thế giới đã nghiên cứu dùng một loại hormon trộn vài thức của cá, cho cá rô phi bột ăn (cá mới nở 3-4) ngàyhoặc dùng phương pháp tắm cho cá rô phi trong hormon để chuyển giới tính của cá rô phi. Ở châu Á, Thái Lan là nước có nhiều kinh nghiệm về công nghệ chuyển giới tính cá rô phi từ những năm 1990-1994. Ở nước ta ngay từ năm 1994, các Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản đã tiếp nhận công nghệ chuyển đổi giới tính cá rô phi từ Viện Công nghệ châu Á (AIT). Đến năm 1995 đã sản xuất thành công. Các loại hormon để chuyển giới tình cá rô phi là: MT (17 methyl estestosteron) và ET (17 ethynyltestosteron). Hiện nay, được dùng phổ biến là loại MT và các bước của công nghệ chuyển đổi giới tính cá rô phi như sau: Phối trộn hormon vào thức ăn của cá: Lấy 60mg MT hoặc ET hòa vào 0,7 lít rượu ethanol 95% đun dung dịch này trộn với 10g vitamin C vào kg bột cá (trước khi đun dung dịch này nên phơi trước cho bay hết mùi rượu). Cho cá rô phi đẻ, thu trứng, cá bột đem đi ấp. - Chọn cá rô phi bố mẹ có khối lượng từ 150-300g/con thả vào giai (có lưới không lọt) hoặc vào bể với mật độ 5-6 con/m vuông, tỷ lệ cá đực cá cái là 1: 1. Sau khi thả từ 5-7 ngày kiểm tra miệng cá cái để thu trứng và chu kỳ thu trứng là 7 ngày một lần. - Đem trứng ấp ở bình với nhật độ 90.000 trứng/lít, ấp riêng từng pha I, II, III, IV, lưu tốc nước trung bình là 4 lít/phút. Đem trứng sắp nở (từ pha IV) sang ấp ở khay, mật độ 10.000 trứng/lít, lưu tốc nước 2 lít/nuớc ấp cho đến khi trứng nở thành cá bột và cá bột tiêu hết noãn hoàng. Xử lý cá bột trong giai bằng cách cho cá bột ăn thức ăn có chứa hormon. - Mật độ cá bột trong giai là 15 con/m vuông, thời gian xử lý trong giai là 21 ngày. - Lượng thức ăn cho cá bột tính theo phần trăm khối lượng cá và tùy theo cỡ cá, mức độ sử dụng thức ăn của cá, có thể dựa vào tỷ lệ sau: Tuần đầu tiên: 25% Tuần thứ 2:20% Tuần thứ 3: 15% Tuần thứ 4: 10% Sau 21 ngày đem cá bột ra ương ở ao thành cá hương. Cũng có thể ương cá hương ở trong giai chứa. Hiện nay việc chuyển giới tính cho cá phi chủ yếu áp dụng cho loài cá rô phi vằn Oreochroxeis niloticus. Công nghệ sản xuất giống cá phi đơn tính đực trong giai chứa đã được triển khai rộng rãi ở các cơ sở sản xuất giống cá các tỉnh. Tuy nhiên công nghệ nàu chỉ đảm bảo đạt tỷ lệ khoảng 95%, vì thế vẫn còn hiện tượng lẫn cá cái đẻ trứng. Bởi vì để có lượng cá bột đồng đều về kích cỡ và giai đoạn phát triển, trước khi đưa vào xử lý hormon là rất khó, bởi khi thu trứng phải phân chia chính xác chúng thành từng nhóm tương ứng với 4 pha phát triển khác nhau theo màu sắc để có biện pháp xử lý riêng. Mặt khác phần lớn cá bột đã hấp thu hormon chuyển giới tính ăn. Song do tính ăn, tính cạnh tranh, bệnh tật và các yếu tố khác về môi trường cũng như về di truyền cũng có thể ngăn trở việc hấp thụ thức ăn đã xử lý hormon. Chính vì vậy mà khó có thể đạt tỷ lệ cá đực 100%. Ngoài phương pháp chuyển giới tính cá rô phi bằng trộn hormon vào thức ăn, còn phương pháp ngăn tấm co cá rô phi bột trong hormon. Cách làm: Chọn cá rô phi bột ở tuổi 17 ngày sau khi nở ngâm trong dung dịch hormon MT nồng đô 3ppm trong thời gian từ 3-4 ngày. Phương pháp này thường đạt tỷ lệ đực từ 80-85% và tỷ lệ sống sau khi xử lý từ 70-80%, vì vậy phương pháp này ít được sử dụng. Theo các chuyên gia theo dõi về nuôi cá rô phi còn sót lại không đạt tính đực cho thấy: Một số ít trong số này sẽ bị vô sinh, số còn lại vẫn có khả năng đẻ trứng bình thường ở nhiệt độ 25 độ C, tuy nhiên số lượng cá này không đáng kể so với cá đực. KHPT, 30/1/2004 Bài viết của KS.Phương Thanh (Trại cá giống Trà Nóc) Kinh nghiệm chuyển giới tính cá rô phi Trong ao nuôi cá rô phi thì cá đực luôn nhanh lớn hơn cá cái. Chính vì vậy mà khi nuôi cá rô phi thương phẩm, người nuôi thường thích nuôi cá đực hơn. Để có nhiều cá đực đáp ứng cho nhu cầu phát triển chăn nuôi, nhiều nước trên thế giới đã nghiên cứu dùng một loại hormon trộn vào thức ăn của cá, cho cá rô phi bột ăn (cá mới nở được 3 –4 ngày) hoặc dùng phương pháp tắm cho cá rô phi trong nước có hormon để chuyển giới tính của cá rô phi. Các loại hormon để chuyển giới tính cá rô phi là: MT (17 methyl estestosterone) và ET (17 ethynyltestosterone). Hiện nay được dùng phổ biến là loại MT và các bước của công nghệ chuyển giới tính cá rô phi như sau: * Phối trộn hormon vào thức ăn của cá Lấy 60mg MT hoặc ET hòa vào 0,7 lít rượu ethanol 95%, đun dung dịch này trộn với 10g Vitamin Việt Nam vào 1kg bột cá (trước khi đun dung dịch này nên phơi nắng trước cho bay hết mùi rượu). * Cho cá rô phi đẻ, thu trứng, cá bột đem đi ấp - Chọn cá rô phi bố mẹ có khối lượng từ 150 – 300g/con thả vào giai (có lưới không lọt) hoặc vào bể với mật độ 5 – 6 con/m2, tỷ lệ cá đực cá cái là 1:1. Sau khi thả từ 5 – 7 ngày kiểm tra miệng cá cái để thu trứng và chu kỳ thu trứng là 7 ngày một lần. - Đem trứng ấp ở bình với mật độ 90.000 trứng/lít, ấp riêng từng pha I, II, III, IV, lưu tốc nước trung bình là 4 lít/phút. - Đem trứng sắp nở (từ pha IV) sang ấp ở khay, mật độ 10.000 trứng/lít, lưu tốc nước 2 lít/phút, ấp cho đến khi trứng nở thành cá bột và cá bột tiêu hết noãn hoàng. * Xử lý cá bột trong giai bằng cách cho cá bột ăn thức ăn có chứa hormon - Mật độ cá bột trong giai là 15 con/m2, thời gian xử lý trong giai là 21 ngày. - Lượng thức ăn cho cá bột tính theo phần trăm khối lượng cá và tùy theo cỡ cá, mức độ sử dụng thức ăn của cá, có dựa vào tỷ lệ sau: Tuần đầu tiên: 25% Tuần thứ 2: 20% Tuần thứ 3: 15% Tuần thứ 4: 10% Sau 21 ngày đem cá bột ra ương ở ao thành cá hương. Cũng có thể ương cá hương ở trong giai chứa. Hiện nay, việc chuyển giới tính cho cá rô phi chủ yếu áp dụng cho loài cá rô phi vằn Oreochroxeis niloticus. Công nghệ SX giống cá rô phi đơn tính đực trong giai chứa đã được triển khai rộng rãi ở các cơ sở SX giống cá các tỉnh. Tuy nhiên công nghệ này chỉ đảm bảo đạt tỷ lệ khoảng 95%, vì thế vẫn còn hiện tượng lẫn cá cái đẻ trứng. Để có lượng cá bột đồng đều về kích cỡ và giai đoạn phát triển, trước khi đưa vào xử lý hormon là rất khó, bởi khi thu trứng phải phân chia chính xác chúng thành từng nhóm tương ứng với 4 pha phát triển khác nhau the