Tối ưu hóa lưu trữ bằng nén sâu trong DB2 10

Tin hay không là tùy bạn, khi khối dữ liệu tăng lên, bản số (cardinality) của dữ liệu đó có xu hướng giảm đi. (ND: Thuật ngữ cardinality đề cập đến sự duy nhất của dữ liệu được chứa trong một cột (thuộc tính) cụ thể của bảng dữ liệu). Do đó, đúng là không có nhiều thứ thật sự duy nhất trên thế giới này. Nhiều thứ có thể là duy nhất khi được dùng trong một tổ hợp, nhưng bản thân các yếu tố cơ bản không phải là tất cả những thứ hay thay đổi. Hãy xem xét bảng các nguyên tố tuần hoàn — mọi thứ trên thế giới của chúng ta được tạo thành từ các cách kết hợp của một tập khá nhỏ các nguyên tố. Áp dụng khái niệm này cho dữ liệu và bạn thấy điều này cũng hoàn toàn đúng.

pdf40 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 14/03/2015 | Lượt xem: 1125 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tối ưu hóa lưu trữ bằng nén sâu trong DB2 10, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tối ưu hóa lưu trữ bằng nén sâu trong DB2 10 Bản chất của dữ liệu Tin hay không là tùy bạn, khi khối dữ liệu tăng lên, bản số (cardinality) của dữ liệu đó có xu hướng giảm đi. (ND: Thuật ngữ cardinality đề cập đến sự duy nhất của dữ liệu được chứa trong một cột (thuộc tính) cụ thể của bảng dữ liệu). Do đó, đúng là không có nhiều thứ thật sự duy nhất trên thế giới này. Nhiều thứ có thể là duy nhất khi được dùng trong một tổ hợp, nhưng bản thân các yếu tố cơ bản không phải là tất cả những thứ hay thay đổi. Hãy xem xét bảng các nguyên tố tuần hoàn — mọi thứ trên thế giới của chúng ta được tạo thành từ các cách kết hợp của một tập khá nhỏ các nguyên tố. Áp dụng khái niệm này cho dữ liệu và bạn thấy điều này cũng hoàn toàn đúng. Ví dụ, theo điều tra dân số mới nhất của Hoa Kỳ, có khoảng 300 triệu người sống tại Hoa Kỳ. Tuy nhiên, chỉ có khoảng 78.800 họ duy nhất, dẫn đến bản số rất thấp với "các nhóm họ" khổng lồ trong các tập tên cụ thể. Với các tên thậm chí còn tệ hơn, có khoảng 6.600 tên (4.400 tên duy nhất với nữ giới và 2.200 tên duy nhất với nam giới). Tên của các thành phố, các đường phố và các địa chỉ, chưa kể đến các tên, các mô tả và các thuộc tính sản phẩm, cũng có xu hướng dư thừa rất cao với bản số thấp (có nhiều tên trùng lặp). Nén sâu hoạt động ra sao Nén sâu được dựa trên nguyên lý là một lượng lớn dữ liệu có xu hướng có sự dư thừa rất cao. Nén sâu hoạt động bằng cách tìm kiếm các mẫu lặp lại trong dữ liệu và thay thế các mẫu đó bằng các ký hiệu 12-bit, được lưu trữ cùng với các mẫu mà chúng đại diện trong một từ điển tĩnh. Sau khi từ điển này được tạo ra, nó được lưu trữ trong bảng (hoặc trang), cùng với dữ liệu nén và được nạp vào bộ nhớ bất cứ khi nào dữ liệu trong bảng được truy cập (để hỗ trợ giải nén). Khi nén sâu được kích hoạt, DB2 quét toàn bộ bảng để tìm kiếm các giá trị cột lặp lại và các mẫu lặp lại trong nhiều cột trong một hàng hoặc trên một trang. Nó cũng tìm kiếm các mẫu lặp lại là các chuỗi con của một cột cụ thể. Tuy nhiên, tìm thấy mẫu lặp lại không có nghĩa là dữ liệu được tự động nén. Dữ liệu chỉ được nén khi thực hiện tiết kiệm vùng lưu trữ. Trong bất kỳ trường hợp nào, toàn bộ hàng được lưu trữ như là một tập các ký hiệu 12-bit; các hàng không bao giờ được nén một phần. Nén sâu có thể được áp dụng cho dữ liệu nguyên thủy của người dùng (dữ liệu hàng, dữ liệu XML và các chỉ mục), dữ liệu do hệ thống tạo ra (các bảng tạm thời) và dữ liệu quản trị (các hình ảnh sao lưu và các bản ghi nhật ký giao dịch đã lưu). Các phương tiện nén với dữ liệu quản trị có sẵn trong tất cả các ấn bản phần mềm DB2; Các tính năng nén cao cấp cho dữ liệu nguyên thủy của người dùng và dữ liệu do hệ thống tạo ra có sẵn thông qua Tính năng tối ưu hóa lưu trữ của DB2 (DB2 Storage Optimization Feature). Về đầu trang Định dạng hàng thay thế Khi nói đến việc tạo ra các bảng do người dùng định nghĩa, có hai định dạng hàng mà bạn có thể sử dụng — là tiêu chuẩn và thay thế — và định dạng được chọn xác định cách đóng gói các hàng như thế nào khi chúng được lưu trữ trên đĩa. Định dạng hàng thay thế cho phép lưu trữ cô đọng hơn giá trị NULL và giá trị mặc định hệ thống, cũng như các giá trị có độ dài bằng không trong các cột có các kiểu dữ liệu có độ dài biến đổi. (Các kiểu dữ liệu có độ dài biến đổi được DB2 công nhận là VARCHAR, VARGRAPHIC, LONG VARCHAR, LONG VARGRAPHIC, BLOB, CLOB, DBCLOB và XML). Do đó, định dạng này thường được gọi là nén giá trị NULL và giá trị mặc định hoặc đơn giản chỉ là nén giá trị. Với định dạng hàng tiêu chuẩn, vùng lưu trữ cho các giá trị cột có độ dài cố định được phân bổ ngay cả khi giá trị thực tế được lưu trữ là NULL. Tương tự như vậy, các giá trị có độ dài bằng không, được lưu trữ trong các cột có kiểu dữ liệu độ dài biến đổi sẽ tiêu tốn một lượng nhỏ vùng lưu trữ. Tuy nhiên, với định dạng hàng thay thế, các giá trị NULL trong tất cả các cột và các giá trị độ dài bằng không trong các cột có kiểu dữ liệu độ dài biến đổi không tiêu tốn vùng lưu trữ nào cả. Khi so sánh với định dạng hàng tiêu chuẩn, định dạng hàng thay thế cũng làm giảm chi phí lưu trữ cho tất cả các giá trị khác trong các cột có kiểu dữ liệu độ dài biến đổi. Tuy nhiên, sự tiêu thụ vùng lưu trữ cho tất cả các giá trị khác NULL được lưu trữ trong các cột với kiểu dữ liệu độ dài cố định lại tăng lên. Có thể tìm thấy các công thức để xác định tổng số byte dùng cho các giá trị của tất cả các kiểu dữ liệu và các định dạng hàng được hỗ trợ trong các tài liệu tham khảo dành cho câu lệnh CREATE TABLE. Điều khiển định dạng hàng Bạn có thể điều khiển định dạng hàng được sử dụng cho từng bảng một. Theo mặc định, các bảng sử dụng định dạng hàng tiêu chuẩn. Để tạo một bảng sử dụng định dạng hàng thay thế, chỉ cần nối thêm cụm từ VALUE COMPRESSION vào câu lệnh tảo bảng CREATE TABLE được sử dụng để tạo ra bảng đó. Ví dụ: CREATE TABLE ... VALUE COMPRESSION. Để thay đổi định dạng hàng đã sử dụng cho bảng hiện tại, hãy ban hành một trong các câu lệnh sau để thay thế: ALTER TABLE ... ACTIVATE VALUE COMPRESSION ALTER TABLE ... DEACTIVATE VALUE COMPRESSION Nếu bạn kích hoạt (activate) hoặc tắt kích hoạt (deactivate) nén giá trị cho một bảng, dữ liệu hiện có được lưu trữ trong bảng đó không bị thay đổi. Thay vào đó, các hàng vẫn giữ nguyên theo định dạng hàng hiện có của chúng, trừ khi bạn áp dụng một hoặc nhiều biện pháp được trình bày trong phần Các chiến lược lựa chọn trong bài này. Đối với các bảng sử dụng định dạng hàng thay thế, bạn có thể tiết kiệm thêm vùng lưu trữ bằng cách cho phép nén giá trị mặc định cho các cột ký tự và số có độ dài cố định. Điều này dẫn đến các giá trị mặc định của hệ thống (là 0 với các cột số và rỗng với các cột ký tự có độ dài cố định) không được cụ thể hoá trong biểu diễn trên đĩa của một hàng. Bạn có thể cho phép nén các giá trị mặc định của hệ thống cho từng cột riêng lẻ bằng cách chỉ rõ tùy chọn cột COMPRESS SYSTEM DEFAULT cho cột đó trong câu lệnh SQL tạo bảng CREATE TABLE hoặc sửa đổi bảng ALTER TABLE ... ALTER COLUMN. Quyết định sử dụng định dạng nào Mặc dù định dạng hàng tiêu chuẩn là một lựa chọn tốt trong hầu hết trường hợp, nhưng có một số bảng mà định dạng hàng thay thế đem lại cho chúng một cách bố trí lưu trữ cô đọng hơn nhiều:  Các bảng ít giá trị điền vào (tức là, các bảng có chứa nhiều hàng có giá trị NULL hoặc giá trị mặc định hệ thống) nên sử dụng định dạng hàng thay thế. Tuy nhiên, các yêu cầu về vùng lưu trữ cho một hàng sẽ tăng thêm bất cứ khi nào bạn cập nhật một giá trị NULL hoặc giá trị mặc định hệ thống thành một giá trị khác NULL hoặc khác giá trị mặc định hệ thống. Sự thay đổi này thường gây ra tràn bản ghi, ngay cả khi trong bảng không có cột nào có kiểu dữ liệu độ dài biến đổi (tức là, các bảng trong đó tất cả các hàng có cùng yêu cầu vùng lưu trữ như nhau khi sử dụng định dạng hàng tiêu chuẩn).  Các bảng có kiểu dữ liệu độ dài biến đổi trong phần lớn các cột của chúng nên sử dụng định dạng hàng thay thế. Đối với một số bảng không có các đặc điểm nói trên, việc sử dụng định dạng hàng thay thế có thể làm tăng các yêu cầu vùng lưu trữ. Có thể cũng đáng làm một phép kiểm tra trong môi trường của bạn. Bạn có thể sử dụng định dạng hàng thay thế bất kể bạn có giấy phép dùng DB2 Storage Optimization Feature hay không. Tính linh hoạt này cho phép bạn chọn cách bố trí lưu trữ cô đọng nhất cho mỗi bảng, ngay cả khi bạn chưa có kế hoạch sử dụng nén hàng. Tuy nhiên, nếu bạn đang có kế hoạch sử dụng nén hàng, việc chọn để bắt đầu với nhiều định dạng hàng cô đọng hơn sẽ làm cho vùng lưu trữ trên đĩa của bảng đó nhỏ hơn trong hầu hết trường hợp, mặc dù hiệu quả là không lớn hoặc thậm chí không đáng kể. Điều này là do thực tế là nén hàng có thể nén rất tốt các giá trị NULL và các giá trị mặc định hệ thống đã cụ thể hóa trong các bảng có định dạng hàng tiêu chuẩn. Về đầu trang Nén hàng Nén hàng đã được giới thiệu trong DB2 9 cho Linux, UNIX và Windows và kể từ đó đã thực hiện nhiều cải tiến đáng kể cho chức năng này trong mọi bản phát hành, kết quả là chức năng nén thích ứng thế hệ tiếp theo có sẵn trong DB2 10.1. Nén hàng đòi hỏi phải mua giấy phép DB2 Storage Optimization Feature. Bắt đầu từ DB2 10.1, hai kiểu phương pháp nén hàng có sẵn là:  Nén hàng cổ điển — Nói đến công nghệ nén đã được sử dụng: o Với dữ liệu bảng người dùng, kể từ DB2 9 cho Linux, UNIX và Windows. o Với dữ liệu XML và dữ liệu tạm thời, kể từ DB2 9.7 cho Linux, UNIX và Windows.  Nén hàng thích ứng — Một chế độ nén mới được giới thiệu trong DB2 10.1 mà bạn có thể áp dụng cho dữ liệu bảng người dùng. Nén hàng thích ứng tốt hơn nén hàng cổ điển ở chỗ nó thường đạt được nén tốt hơn và yêu cầu bảo trì cơ sở dữ liệu ít hơn để duy trì tỉ lệ nén gần tới mức tối ưu. Nén hàng cổ điển Nén hàng cổ điển nhờ vào một thuật toán nén dựa theo từ điển. Có một từ điển nén cho từng đối tượng bảng. Từ điển này gồm một có một ánh xạ các mẫu thường xuất hiện trong các hàng của toàn bộ bảng. Từ điển nén này được gọi là từ điển nén mức bảng. Có thể thấy một ví dụ về cách hoạt động của nén hàng cổ điển trong Hình 1. Hình 1. Cách hoạt động của nén hàng cổ điển Bạn có thể cho phép nén hàng theo từng bảng một. Để có nén hàng cổ điển, bạn phải cho phép nén bảng đó và phải tồn tại một từ điển cho đối tượng dữ liệu hoặc đối tượng XML. Để cho phép nén hàng cổ điển cho một bảng trong DB2 10.1 vào lúc tạo bảng, hãy ban hành câu lệnh sau CREATE TABLE ... COMPRESS YES STATIC. Mặt khác, để cho phép nén hàng cổ điển cho một bảng hiện hiện có, hãy thực hiện một câu lệnh: ALTER TABLE ... COMPRESS YES STATIC. Trong DB2 10.1, tùy chọn STATIC trong cụm từ COMPRESS YES là bắt buộc trong cả hai trường hợp. Trong các phiên bản DB2 trước, bạn sử dụng cụm từ COMPRESS YES mà không thêm bất kỳ điều kiện nào, như sau: CREATE TABLE ... COMPRESS YES ALTER TABLE ... COMPRESS YES Việc cho phép nén hàng dẫn đến tiết kiệm vùng lưu trữ cho phần lớn các bảng thực tế; tỷ lệ nén thường là 50-80% hoặc cao hơn. Hơn nữa, vùng lưu trữ cho một bảng có sử dụng nén hàng không bao giờ vượt quá vùng lưu trữ của phiên bản không nén của cùng bảng đó. Việc tiết kiệm vùng lưu trữ của nén hàng thường dẫn đến các hoạt động vào/ra (I/O) vật lý ít hơn để đọc dữ liệu trong một bảng nén, do cùng một số lượng hàng được lưu trữ trên ít trang vật lý hơn. (Nén cho phép nhiều hàng dữ liệu hơn được đóng gói vào cùng một số lượng trang và tỷ lệ truy cập vùng bộ đệm tăng lên). Trong nhiều trường hợp, sự tiết kiệm vào/ra và việc sử dụng vùng bộ đệm được cải thiện dẫn đến thông lượng cao hơn và thời gian thực hiện truy vấn nhanh hơn. Nén hàng thích ứng Giống như nén hàng cổ điển, nén hàng thích ứng nhờ vào một thuật toán nén dựa theo từ điển. Sự khác biệt là ở chỗ có thể có nhiều từ điển nén cho từng đối tượng bảng. Mỗi từ điển có chứa một ánh xạ các mẫu thường xảy ra trong các hàng suốt toàn bộ một trang đơn lẻ. Do đó, các từ điển nén này được gọi là các từ điển nén mức trang. Hình 2 cho thấy một ví dụ về cách nén hàng thích ứng hoạt động. Nén hàng thích ứng không chỉ đem lại các tỷ lệ nén tốt hơn đáng kể trong nhiều trường hợp, mà còn có thể thích ứng với các đặc điểm dữ liệu thay đổi. Hình 2. Nén hàng thích ứng hoạt động như thế nào Như với nén hàng cổ điển, bạn cho phép nén hàng thích ứng theo từng bảng một. Trong DB2 10.1, để tạo ra một bảng đã cho phép nén hàng thích ứng, bạn chỉ cần ban hành một trong những câu lệnh sau: CREATE TABLE ... COMPRESS YES ADAPTIVE CREATE TABLE ... COMPRESS YES Mặt khác, để cho phép nén hàng thích ứng một bảng hiện có, hãy thực hiện một câu lệnh ALTER TABLE giống như sau: ALTER TABLE ... COMPRESS YES ADAPTIVE ALTER TABLE ... COMPRESS YES Trong DB2 10.1, nén hàng thích ứng là kiểu nén hàng mặc định được dùng. Vì vậy, tùy chọn ADAPTIVE là giá trị mặc định cho cụm từ COMPRESS YES. Khi bạn nâng cấp một cơ sở dữ liệu từ một phiên bản cũ của DB2 cho Linux, UNIX và Windows, các bảng hiện có đã cho phép nén hàng cổ điển, sẽ duy trì các thiết lập nén của mình và nén hàng cổ điển vẫn được sử dụng. Do đó, nếu bạn muốn cho phép nén hàng thích ứng cho các bảng này, bạn phải sử dụng một trong các câu lệnh ALTER TABLE được hiển thị ở trên. Như đã đề cập, nén hàng thích ứng xây dựng trên nén hàng cổ điển; các từ điển nén mức bảng vẫn được sử dụng. Một từ điển mức bảng được bổ sung bằng các từ điển nén mức trang, có chứa các mục ứng với các mẫu xuất hiện thường xuyên trong một trang đơn lẻ. Từ điển mức bảng giúp loại bỏ các mẫu lặp lại trong phạm vi chung, trong khi các từ điển mức trang chịu trách nhiệm tìm ra các mẫu lặp lại cục bộ trên các trang riêng lẻ đó. Cách sử dụng sự kết hợp này của cả hai từ điển mức bảng và mức trang được minh họa trong Hình 3. Hình 3. Cách các từ điển nén mức bảng và mức trang làm việc cùng nhau khi sử dụng nén thích ứng Các từ điển mức trang được duy trì tự động. Khi một trang đã đầy dữ liệu, trình quản lý cơ sở dữ liệu DB2 xây dựng một từ điển nén mức trang cho dữ liệu trong trang đó. Theo thời gian, trình quản lý cơ sở dữ liệu DB2 tự động xác định khi nào cần xây dựng lại từ điển cho các trang, ở đây các mẫu dữ liệu đã thay đổi đáng kể. Kết quả là, việc sử dụng nén thích ứng không chỉ mang lại tiết kiệm nén tổng thể cao hơn, mà nó còn bảo đảm rằng các tỷ lệ nén không giảm đi theo thời gian như với nén hàng cổ điển. Trong nhiều trường hợp thực tế, tỉ lệ nén vẫn duy trì gần như tối ưu theo thời gian. Như vậy, bằng cách sử dụng nén hàng thích ứng, bạn có thể làm giảm chi phí liên quan đến việc giám sát các tỷ lệ nén của các bảng và thực hiện bảo trì cần thiết (sắp xếp lại bảng không nối mạng, cổ điển) để cải thiện việc sử dụng lưu trữ. Về đầu trang Khám phá các thiết lập nén Bằng cách kiểm tra cột COMPRESSION trong khung nhìn danh mục hệ thống SYSCAT.TABLES, bạn có thể xác định xem một bảng đã cho phép nén hàng chưa và nó sử dụng định dạng hàng nào. Các giá trị có thể có với cột này như sau:  V. — Sử dụng định dạng nén hàng thay thế và không nén hàng.  R. — Sử dụng nén hàng và định dạng hàng tiêu chuẩn.  B. — Sử dụng định dạng hàng thay thế và nén hàng  N. — Không sử dụng nén hàng nhưng sử dụng định dạng hàng tiêu chuẩn. Với DB2 10.1, bạn có thể xác định kiểu nén hàng nào được sử dụng trên các bảng của mình bằng cách kiểm tra cột ROWCOMPMODE trong khung nhìn danh mục hệ thống SYSCAT.TABLES. Các giá trị có thể có với cột này như sau:  S.— Sử dụng nén hàng cổ điển.  A. — Sử dụng nén hàng thích ứng.  Blank. (Để trống) — Không cho phép nén hàng. Cột ROWCOMPMODE trong khung nhìn danh mục hệ thống SYSCAT.TABLES không tồn tại trong các phiên bản trước của DB2. Trong trường hợp này, tất cả các bảng đã cho phép nén hàng mặc nhiên sử dụng nén hàng cổ điển. Nếu bạn có DB2 10.1 cho Linux, UNIX và Windows đã cài đặt, có thể sử dụng truy vấn sau để nhận được các thiết lập nén cho tất cả các bảng người dùng đã được định nghĩa. Liệt kê 1. Nhận các thiết lập nén với một truy vấn SELECT SUBSTR(TABSCHEMA, 1, 10) AS TABSCHEMA, SUBSTR(TABNAME, 1, 10) AS TABNAME, COMPRESSION, ROWCOMPMODE FROM SYSCAT.TABLES WHERE TABSCHEMA NOT LIKE 'SYS%' Khi thực hiện truy vấn này, bạn sẽ thấy các kết quả trông giống như Liệt kê 2. Liệt kê 2. Các kết quả truy vấn hiển thị các thiết lập nén Sample results are as follows: TABSCHEMA TABNAME COMPRESSION ROWCOMPMODE ---------- ---------- ----------- ----------- DB2INST1 ACCTCR R S DB2INST1 BKPF R A DB2INST1 BSIS B A DB2INST1 CDCLS N DB2INST1 CDHDR V DB2INST1 COSP B S 6 record(s) selected. Trong ví dụ này, cho phép nén hàng tất cả các bảng ACCTCR, BKPF, BSIS và COSP. Các bảng ACCTCR và COSP sử dụng nén hàng cổ điển và các bảng BKPF và BSIS sử dụng nén hàng thích ứng. Các bảng BSIS và COSP cũng sử dụng định dạng hàng thay thế, trong khi các bảng ACCTCR và BKPF sử dụng định dạng hàng tiêu chuẩn. Bảng CDHDR sử dụng định dạng hàng thay thế mà không nén hàng còn bảng CDCLS sử dụng định dạng hàng tiêu chuẩn mà không nén hàng. Về đầu trang Xây dựng một từ điển nén Trước khi nén hàng cổ điển có thể có hiệu lực trong một bảng đã được cho phép nén, phải có một từ điển đã tồn tại cho bảng đó. Với DB2 9, bạn đã phải biết rõ liệu một từ điển nén đã tồn tại hay chưa và bạn đã phải khởi tạo một từ điển mức bảng nếu cần. Có thể xây dựng một từ điển nén mức bảng (và có thể nén dữ liệu hiện có trong một bảng) bằng cách thực hiện một hoạt động sắp xếp lại bảng (cổ điển) không nối mạng (offline). Một hoạt động như vậy được bắt đầu bằng cách thực hiện lệnh sắp xếp lại REORG có chỉ rõ tùy chọn KEEPDICTIONARY hoặc tùy chọn RESETDICTIONARY. Nếu lệnh REORG được thực hiện với một trong hai tùy chọn đã quy định và không tồn tại một từ điển nén, thì một từ điển mới sẽ được tạo ra. Mặt khác, nếu lệnh REORG được thực hiện với một trong hai tùy chọn đã quy định và một từ điển nén đã tồn tại, thì từ điển hiện có hoặc sẽ được tạo lại (RESETDICTIONARY) hoặc giữ nguyên như hiện có (KEEPDICTIONARY) và dữ liệu trong bảng đó sẽ được sắp xếp lại và được nén. Để tạo ra một từ điển nén mới cho một bảng có tên là EMPLOYEE đã được cho phép nén sâu, (cũng như sắp xếp lại và nén dữ liệu của bảng), bạn cần thực hiện lệnh sau: REORG TABLE employee RESETDICTIONARY Khi thực hiện lệnh này, dữ liệu được lưu trữ trong bảng EMPLOYEE sẽ được phân tích, một từ điển nén sẽ được xây dựng và được lưu trữ tại phần đầu của bảng đó và tất cả các dữ liệu hiện có sẽ được nén và được viết vào bảng đó ngay sau từ điển nén. Hình 4 cho thấy bảng EMPLOYEE sẽ trông như thế nào trước và sau khi áp dụng nén sâu. Hình 4. Cách thay đổi dữ liệu trong một bảng khi xây dựng một từ điển nén và áp dụng nén hàng cổ điển Điều quan trọng cần lưu ý là vì các bản ghi trong một bảng nén được di chuyển giữa thiết bị lưu trữ và bộ nhớ dưới dạng nén, nên các bản ghi dùng cho các bảng nén được viết vào các tệp bản ghi nhật ký giao dịch cũng được nén. (Từ điển nén được nạp vào bộ nhớ khi bảng này được truy cập sao cho việc nén và giải nén có thể xảy ra). Về đầu trang Tạo từ điển tự động (ADC) Như bạn có thể tưởng tượng, các tỷ lệ nén tối ưu đạt được khi một từ điển nén được xây dựng từ một tập hợp bao gồm tất cả dữ liệu. Do đó, khi xây dựng một từ điển nén bằng cách sắp xếp lại một bảng, một tỷ lệ nén cao đạt được là do mỗi hàng trong bảng đều được sử dụng. Tuy nhiên, việc thử nghiệm đã cho thấy rằng một tỷ lệ nén tốt cũng có thể đạt được khi chỉ phân tích một lượng nhỏ dữ liệu đại diện. (Trong một số trường hợp, việc đánh giá chưa đầy 1% tổng số các hàng sẵn có đã mang lại một tỷ lệ nén là 45%). Ý niệm này là cơ sở cho một tính năng nén đã được bổ sung trong DB2 9.5 được gọi là Tạo từ điển tự động (ADC - Automatic Dictionary Creation). Trong phiên bản 9.5 và mới hơn của DB2, nếu cho phép nén một bảng tại thời điểm nó được tạo ra, ADC sẽ làm cho một từ điển nén được xây dựng tự động sau khi một lượng dữ liệu vừa đủ đã được lưu trữ trong bảng. Ngưỡng ở đó ADC có tác dụng và bắt đầu xây dựng từ điển nén phụ thuộc vào kích cỡ hàng của bảng đó. Việc xây dựng từ điển thường bắt đầu khi 1-2 MB của các trang đã được cấp cho bảng đó. Tại thời điểm đó, ADC sẽ kiểm tra để xem có bao nhiêu dữ liệu người dùng được chứa trong bảng; nếu có mặt ít nhất 700 KB dữ liệu, một từ điển nén sẽ được xây dựng. (Lưu ý rằng các giá trị được thiết lập nội bộ và không thể thay đổi được). Các hoạt động có thể khởi động ADC gồm có chèn, nhập khẩu, tải và phân phối lại dữ liệu trên các phân vùng. Không giống như từ điển nén được xây dựng bằng một hoạt động REORG, từ điển được tạo ra theo cách của ADC được lưu trữ trong bảng ở phần cuối của dữ liệu hiện có. Các bản ghi đã có trước của bảng đó vẫn còn chưa được nén cho đến khi một hoạt động sắp xếp lại bảng không nối mạng được thực hiện hoặc cho đến khi các bả