Bài giảng môn phê bình tác phẩm văn học

Nguyễn Huy Thiệp sinh ngày 29 tháng 4 năm 1950, quê quán : Thanh Trì, Hà Nội Thủa nhỏ ông lưu lạc khắp nông thôn đồng bằng Bắc Bộ qua Phú Thọ, Vĩnh Yên. Nông thôn và những người lao động vì thế để lại nhiều dấu ấn khá đậm nét trong nhiều tác phẩm của ông.

doc41 trang | Chia sẻ: haohao89 | Lượt xem: 2508 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Bài giảng môn phê bình tác phẩm văn học, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Môn: Phê bình tác phẩm văn học NGUYỄN HUY THIỆP TRUYỆN NGẮN Nguyễn Huy Thiệp sinh ngày 29 tháng 4 năm 1950, quê quán : Thanh Trì, Hà Nội Thủa nhỏ ông lưu lạc khắp nông thôn đồng bằng Bắc Bộ qua Phú Thọ, Vĩnh Yên... Nông thôn và những người lao động vì thế để lại nhiều dấu ấn khá đậm nét trong nhiều tác phẩm của ông. Nguyễn Huy Thiệp là nhà văn có tài. Điều này không có gì phải bàn cãi. Sự nghiệp của nhà văn này “chói sáng” bằng những truyện ngắn đặc sắc từng có thời làm xôn xao văn đàn. Nhiều năm về trước, nhà văn Nguyễn Huy Thiệp vốn đã nổi đình nổi đám trên văn đàn với những truyện ngắn nổi tiếng như Tướng về hưu, Như những ngọn gió, Con gái thủy thần ...Trong đó có nhiều truyện ngắn được chuyển thể thành tác phẩm điện ảnh như Tướng về hưu, Thương nhớ đồng quê (đạo diễn: Ðặng Nhật Minh) Truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp xuất hiện lần đầu tiên trên báo Văn Nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1986. Chỉ một vài năm sau đó, cả làng văn học xôn xao những cuộc tranh luận về các tác phẩm của ông. Những phát ngôn phức hợp nhiều lời, nhiều giọng của nhiều chủ thể khác nhau là điều không có gì mới trong ngôn ngữ đời sống. Sự sống luôn là cuộc đối thoại vô tận với sự tác động, hoặc ảnh hưởng hoặc phủ định lẫn nhau giữa các quan niệm, tư tưởng. Cuộc đối thoại này chỉ hoàn tất tạm thời trong những thời điểm các quan niệm, tư tưởng cá nhân bị chi phối hoặc bị sai khiến bởi sức mạnh của một quan điểm, tư tưởng chung nào đó. Còn bên trong lòng cuộc sống, không có cuộc đối thoại nào hoàn tất khi các quan niệm, tư tưởng cá nhân luôn có ý thức nổi loạn chống lại quan niệm, tư tưởng chung. Thực tiễn phức tạp đa dạng của cuộc sống bao giờ cũng có sức mạnh chi phối quan niệm, tư tưởng cá nhân hơn là những quan niệm, tư tưởng chung. Nguyễn Huy Thiệp tạo ra nhiều tiếng nói của nhiều quan điểm, tư tưởng khác nhau bên ngoài môi trường xã hội để tạo ra cuộc đối thoại không khoan nhượng giữa các nhân vật. Những sự thật bao nhiêu lâu nay bị giấu giếm hoặc được bọc lót trong lớp vỏ đạo đức, văn hoá đến đây đều được lột trần một cách công khai, minh bạch từ phát ngôn của các nhân vật. Lời kể trong văn ông bao giờ cũng nghiêm túc, nghiêm túc đến dửng dưng. Lời kể lược bỏ mọi thứ trang hoàng của giọng điệu, giảm thiểu đến mức tối đa những trạng từ, tính từ tô điểm cho đối tượng. Câu văn dồn nén sự kiện để phơi bày sự thật: “Sạ đi rồi, cuộc sống ở bản Hua Tát như buồn tẻ hơn. Các vụ đánh lộn không còn ác liệt như trước. Phụ nữ cũng ít ngoại tình. Không còn có những tiệc xoè thâu đêm suốt sáng. Nụ cười ít hơn. Thậm chí đến cả chim chóc bay qua bầu trời Hua Tát vỗ cánh cũng như uể oải. Người ta trở nên cau có, công việc đè lên vai họ nặng nề hơn trước. Cho đến lúc ấy, người ta mới thấy nhớ Sạ, mới thấy Sạ đi là điều đáng tiếc.” Câu chuyện đúng là như những ngọn gió xoáy qua trên bản Hua Tát. Một chàng trai được cả làng gọi là điên rồ ấy vừa ra đi đã để lại bao nhiêu biến đổi với bao nhiêu cái nghịch lý trong cộng đồng. Lối văn này làm cho tốc độ của câu chuyện cứ trôi qua vùn vụt. Thỉnh thoảng vẫn có lời bình, nhưng là lời bình được nhìn từ nhiều phía của nhiều nhân vật, chứ không phải chính Nguyễn Huy Thiệp. Cái đáng ghét nhất của truyện cổ tích là sự trịnh trọng của người kể chuyện về một bài học luân lý nào đấy. Thiệp kể chuyện cổ tích cho bản thân câu chuyện, chứ không phải nhờ câu chuyện mà phô trương nhân cách của mình. Lù và Hếnh trong "Những ngọn gió Hua Tát" chết thuỷ chung trong nạn dịch tả, Thiệp viết: “Ngôi mộ chôn Lù và Hếnh, bây giờ là một đụn đất khá cao, trên mọc đầy những cây song, cây mây gai góc, những người già ở bản Hua Tát đặt tên là mộ tình chung thuỷ, còn bọn trẻ con gọi là mộ hai người chết dịch.” Đấy là sự thật, một thứ sự thật trần trụi cất lên từ tiếng nói đời sống, chứ không phải từ tiếng nói phán quyết của một cá nhân nhân danh thứ đạo lý nào. Trong trường hợp này, bất cứ một anh nhà văn nào, dù hiện thực đến mấy cũng sẽ tán tụng vẻ đẹp của một mối tình lãng mạn, chung thuỷ. Ngôi mộ sẽ không có gai góc mà nở hoa để cho người đời làm thơ truy tặng. Nhà văn đạo đức chân chính của chúng ta sẽ khoá cái mồm hồn nhiên của lũ trẻ con để chúng không được phép nói ra cái sự thật trần trụi kia. Gã nhà thơ kiêm diễn viên đóng vai Chiêu Hổ trong "Chút thoáng Xuân Hương" nhận xét hồ đồ, miệt thị văn chương, nhưng cả hai mặt mâu thuẫn trong lời bình của hắn đều là sự thật. Một mặt hắn nói: “Người ta đắp điếm cho nhiều nhân vật những thứ tư tưởng cao siêu đáng ngờ. Đối thoại đầy rẫy ngôn từ hoa mỹ… Một thứ hiện thực huyền ảo mung lung.” Đấy chính là kiểu văn chương mà lão Tân Dân trong "Giọt máu" đề xướng: “Văn chương phải bất chấp hết. Ngập trong bùn, sục tung lên, thoát thành bướm và hoa, đấy là chí thánh.” Mặt khác, cũng gã nhà thơ kiêm diễn viên trên nói: “Văn chương là thứ bỉ ổi bậc nhất… Nó gây ra sự nổi loạn trong cuộc đời thường. Cuộc đời trôi đi đơn giản. Day đi dứt lại làm gì?” Cao sang hay thấp hèn nếu chỉ ở cái hình thức bên ngoài thôi thì bản chất cũng chẳng có gì thay đổi. Giống như anh nhà thơ Khổng trong "Tướng về hưu" làm ra loại “thơ siêu nhất” rốt cuộc cũng chỉ là thứ trang sức cho trò chim gái. Hắn không hơn thằng cha làm thơ về cái lông chân của mình trong truyện "Mưa" làm cho hai cô người tình của hắn băn khoăn không biết hắn là thiên thần hay quỷ sứ. Những kiểu bình luận thế này hoàn toàn là bình luận khách quan: “Triều Nguyễn của vua Gia Long lập ra là một triều đại tệ hại. Chỉ xin lưu ý bạn đọc đây là triều đại để lại nhiều lăng.” ("Vàng lửa") Lời đánh giá dành cho bạn đọc suy tưởng: biết đâu trong sự tệ hại ấy, có lúc ta lại phải tự hào. Đời là thế. Chúng ta không hoàn toàn tin vào những lời bình kiểu này ở Nguyễn Huy Thiệp, nhưng ta lại phải tin điều ấy có thực trong mỗi chúng ta. Lối kể chuyện của Nguyễn Huy Thiệp luôn luôn biến hình, ông không trú ở một góc khuất nào đó như Nam Cao. Con người của ông ẩn trốn từ người này đột nhiên chạy sang người khác, xoá hẳn tiếng nói của riêng mình. Cuộc đời có những quy luật khả biến không tuân theo một ai cả. Vì thế, việc đi tìm Nguyễn Huy Thiệp là một ảo tưởng. Nếu có, thì đó là một Nguyễn Huy Thiệp không phải ông thánh, ông tiên để được gọi là thánh văn, tiên văn mà là quỷ văn. Các vị thánh, tiên trong văn chương ngày xưa ở tầng cao lấy nhân cách cao đạo của mình làm thước đo để dạy người, dạy đời cho nên không khéo bị đời che mắt. Thiệp không tự phong thánh cho mình, anh ta có thể là quỷ, quỷ ở với người, chỉ có quỷ mới nhìn thấy mọi ngóc ngách của cuộc sống. Nói như Khảm trong "Không có vua": “Người xưa được phong thần dễ nhỉ?” Nhà văn, người của thời nay mà trang bị cho mình cái nhân cách thánh thần là một viễn tưởng, không khéo trở thành giả tạo. Với điều kiện thứ nhất này, người đọc văn không nên đặt ra vấn đề Thiệp tiến bộ hay phản động, mơ mộng hay hoài nghi, canh tân hay suy đồi... Tất cả đều vô nghĩa đối với Thiệp. Như một ước lệ nhưng cũng rất thực tế, thế giới nghệ thuật của Nguyễn Huy Thiệp nằm ngoài mọi khuôn khổ của đạo đức, văn hoá. Đây là một ước lệ khó được người đọc chấp nhận nhưng lại là một thứ hiện thực suồng sã của thời hiện đại. Không thể dùng thứ mỹ học thực dụng và trừu tượng của ông Kháng nào đó trong "Những người thợ xẻ" mà đo cho sự sống đang nổi loạn trong văn Thiệp. Anh Bường, con người lăn lộn và từng trải, cao thượng có, điếm nhục có, đã mắng cho nhà mỹ học ấy một câu: “Đấy cũng là nghề nghiệp (nghề dạy mỹ học) hay sao? Theo tôi, khoa học về cái Đẹp là thứ hết sức vô hình, không có thực. Về thực chất, chuyên môn của bác là thứ bịp bợm.” Thực ra, cuộc sống nào cũng cần trang bị cái bọc nhung của đạo đức, văn hoá, thẩm mỹ để làm sang cho loài người, nhưng lợi dụng nó để che đậy cho sự đê tiện của mình là bịp bợm, giả dối. Thiệp tạo ra cái ước lệ mới cho nghệ thuật của mình: đây là thế giới người không có vua, biển không có thuỷ thần. Những ai trong thế giới này đem đạo đức, văn hoá ra bàn luận, lập tức bị phỉ báng. Ở "Không có vua", lão Kiền bị tước đoạt quyền làm cha, Đoài làm việc ở Bộ Giáo dục bị tước quyền giáo dục, Khảm học triết học bị tước quyền triết luận. Bộ mặt đạo đức, văn hoá bị mủn nát để cho quỷ cất lên tiếng nói con người. Lão Kiền chửi: “Mẹ cha mày, mày ăn nói với bố thế à? Tao không hiểu thế nào người ta cho mày làm việc ở Bộ Giáo dục!” Đoài cười: “Họ xét lý lịch, họ thấy nhà mình truyền thống, ba đời trong sạch như gương.” Lão Kiền lẩm bẩm: “Chứ không à? Chúng mày thì tao không biết, nhưng từ tao ngược lên, nhà này chưa có ai làm gì thất đức.” Đoài bảo: “Phải rồi. Một miếng vá xăm đáng một chục nhưng tương lên ba chục thì có đức đấy.” Lão Kiền bảo: “Mẹ cha mày, thế mày nâng bát cơm lên miệng hàng ngày mày có nghĩ không?” Khảm rên rỉ: “Thôi thôi, anh Đoài ơi, anh thương em với, hôm nay em phải thi vấn đáp môn Triết học đây.” Đoài bảo: “Triết học là thứ xa xỉ của bọn mọt sách. Chú có thấy cái chuỗi hạt nhựa đeo cổ của chị Sinh không. Nó là triết học đấy.” Ước lệ của Nguyễn Huy Thiệp hoàn toàn là sự thật vì nó báo hiệu cho một thế giới đang bị mất niềm tin. Trong truyện của Nguyễn Huy Thiệp có mặt đầy đủ các loại tín ngưỡng và lý tưởng của con người như Nho học và các loại thần học…, triết học hiện sinh và kể cả duy vật biện chứng. Tuy nhiên, có tín ngưỡng, lý tưởng, nhưng không có tín đồ. Có chăng chỉ là những nhân vật ngốc, bệnh tật như Khó trong "Những ngọn gió Hua Tát", như Tốn trong "Không có vua"…, thật thà, ít giao tiếp với cuộc sống bên ngoài như Sinh trong cùng truyện, hiền lành hay cả sợ như chị Thục trong "Những người thợ xẻ"… Họ như những cô Tấm trong truyện cổ tích còn tin có bụt tiên, thánh thần và điều thiện. Đến lúc rồi niềm tin ấy cũng đổ vỡ như Chương trong "Con gái thuỷ thần". Thần linh trở thành chuyện phịa trong thế giới hiện đại, bị loài người lợi dụng để bịp bợm như chuyện hạt ngọc vạn năng trong "Trái tim hổ", chuyện linh thiêng của Mẹ Cả trong "Con gái thuỷ thần". Vì thế, tất cả những gì thuộc về tín ngưỡng, lý tưởng đều bị xuyên tạc một cách trắng trợn. Mọi thần linh đều có thể hoá thành “thần tài”, như tượng đồng đen trong đền Trấn Vũ được mẹ con bà Thiều trong "Huyền thoại phố phường" đặt lên bàn tay chiếc vé số và cả bọc tiền âm phủ, “cầu thánh đổi tiền âm phủ thành tiền dương… Thánh thần bây giờ cũng sòng phẳng lắm.” Khiêm trong "Không có vua", cái anh đồ tể có nhân tính nhất trong gia đình lão Kiền, cũng khẳng định: Tiền “là vua”. Một cái nhìn duy vật đến thô lỗ như thế, cho nên con người vô văn hoá, mất niềm tin trong sáng, thánh thần không hiển linh, chỉ có ma quỷ hiển hiện nơi lòng người, sai khiến con người nói năng bất chấp mọi sự kiêng nể là một tất yếu. Các luận thuyết lâu nay loài người tôn thờ đều bị xuyên tạc bởi sự chi phối của thực tiễn cuộc sống phức tạp đến phi lý của nhân vật. Lão trùm Thịnh trong "Chảy đi sông ơi" có thể nhạo báng Kinh Thánh, xuyên tạc duy tâm lẫn duy vật: “Cái nghề đánh cá là nghề có sớm bậc nhất… Anh em ông thánh Simon trước kia cũng đi đánh cá. Đức chúa Giêsu trông thấy mới bảo họ rằng: “Các ông hãy đi theo tôi, tôi sẽ biến đổi các ông thành những kẻ đánh lưới người”… Hôm nọ trên huyện, công an hỏi tao: “Ông làm nghề gì?” Tao bảo làm nghề đánh cá. Họ cười lăn lộn: “Ông đánh lưới người thì có!” Mẹ kiếp! Hoá ra tao thành ông thánh Simon chứ còn gì nữa!” Lão không tin vào thánh thần, ma quỷ nào cả: “Chuyện con trâu đen chỉ là chuyện đồn nhảm nhí… Mày hãy tin tao, ở bến Cốc này thì chuyện giết người, ăn cướp có thực, ngoại tình có thực, cờ bạc có thực, còn chuyện trâu đen là giả.” Cuộc cạnh tranh sinh tồn khốc liệt trên sông nước làm cho lẽ thiện ác trên đời này trở thành phù phiếm. Chị Thắm trong cùng truyện cứu người, đến lúc chết đuối không ai cứu mình. Còn tin vào bụt tiên, mới còn cái lý tưởng ở hiền gặp lành. Khi không còn tin vào thánh thần, ma quỷ, con người coi chuyện sống chết như lẽ thường tình, chẳng có gì thiêng liêng nữa. Dân làng Hua Tát sẵn sàng chôn sống người mắc bệnh chưa chết. Mấy đứa con lão Kiền trong "Không có vua" sẵn sàng biểu quyết xem nên để bố của mình chết hay sống. Ông Bổng trong "Tướng về hưu" nhìn cỗ quan tài cho người đã chết, nói lạnh tanh: “Ván mấy phân?” “Bốn phân”… “Mất mẹ bộ xa lông. Ai lại đi đóng quan tài bằng gỗ dổi bao giờ? Bao giờ bốc mộ, cho chú bộ ván.” Mọi lễ nghi, tín điều có trong truyền thống chỉ còn là hình thức trang trí giả tạo. Đến những đứa bé trong truyện cũng phát ngôn theo cái lẽ sinh tồn nằm ngoài mọi tín điều thiêng liêng. Cái Mi hỏi: “Sao chết đi qua đò cũng phải trả tiền? Sao lại cho tiền vào miệng bà?” Cái Vi hỏi: “Đấy có phải là ngậm miệng ăn tiền không bố?”... Cái Vi bảo: “Con hiểu đấy. Đời người cần không biết bao nhiêu là tiền. Chết cũng cần.” Lúc ông tướng buồn đời tìm về với đồng đội, những đứa trẻ ấy không hiểu cái nghĩa lý thiêng liêng của quá khứ, chúng hỏi vô tư, nhưng cứ như lời nhại cho một hành động chạy trốn thực tại của người anh hùng hết chức năng lịch sử. Cái Mi hỏi: “Ông ra trận hả ông?” Cha tôi bảo: “Ừ.” Cái Vi hỏi: “Đường ra trận mùa này đẹp lắm có phải không ông? Cha tôi chửi: “Mẹ mày! Láo.” Những lời thoại không tín đồ trong truyện của Nguyễn Huy Thiệp nhiều vô kể, nó có sức nặng bằng chính sự thật của cuộc sống và hấp dẫn hơn bản thân cốt truyện của câu chuyện. Cốt truyện của Nguyễn Huy Thiệp chỉ là cái cớ cho sự hình thành truyện ngắn, nó trôi đi một cách nhợt nhạt để rồi lắng lại trong các phát ngôn của nhân vật. Đấy là một thứ tiểu thuyết đúng nghĩa được nhà văn dồn nén trong hình thức ngắn. Văn ông chỉ có một thứ duy nhất: sự thật. Sự thật được phát ngôn thành lời đối thoại mà không cần nguỵ trang trong bất cứ hình thức nào. Nguyễn Huy Thiệp với sự cách tân lạ chưa từng thấy như vậy chẳng khác gì lao vào một cuộc kiếm tìm đầy nguy hiểm. Sự thật có cả đấy, nhưng đâu dễ phơi bày. Nó sẽ động chạm đến bao nhiêu người khác, kể cả những con người khả kính. Người ta sẽ chụp mũ cho anh về quan điểm, tư tưởng, kể cả việc mượn nhân vật nói xấu ai đó. Thực ra, ai chẳng có phần xấu so với đạo đức, văn hoá, thẩm mỹ, trừ những bậc cao nhân đứng trên hoặc ngoài cuộc sống. Có lẽ ai không chịu nổi cái cuộc chơi móc ruột này không nên đọc truyện Nguyễn Huy Thiệp. Cuộc chơi này sòng phẳng, ai cũng như ai. Thiệp không bắt người đọc cùng ông đánh giá sự kiện mà cùng ông tự đánh giá lại chính mình. Đấy là thái độ dũng cảm của nghề cầm bút, cả người đọc văn. Cầm bút, đọc văn, cả hai đều để làm người. Ở thế giới mất niềm tin này, con người là Con thú lớn nhất. Hai chữ làm người khó lắm, nhưng nói như cô Sinh trong "Không có vua": “Khổ chứ. Nhục lắm. Vừa đau đớn, vừa chua xót. Nhưng thương lắm.” Ông Bổng trong "Tướng về hưu" đã phải bật khóc lên, xúc động một cách chân thành vì hai tiếng làm người ấy. Biết người biết ta là Nguyễn Huy Thiệp. Hình như các cụ xưa bảo đó cũng là cao nhân. Cao nhân ngày xưa chỉ thấy cái đê tiện của người khác mà không thấy cái đê tiện của chính mình. Sự thật, anh đê tiện, tôi cũng đê tiện, như nhau, nhưng nói như Ngọc trong "Những người thợ xẻ": “Con người – sự cao cả hình như ở chính giới hạn của nó.” Nguyễn Huy Thiệp nhìn xuyên từ trái tim mình qua trái tim người khác. Anh đã hoàn thành chức năng nghệ sỹ của mình. Anh đã làm ra một thứ nghệ thuật của một hệ hình mỹ học mới: mỹ học dân chủ và thực tiễn. Anh đạt đến chân lý. Chân lý ở đây không đồng nghĩa với lý tưởng. Chân lý chỉ có thể là sự thật. Nó đa dạng và phức tạp, gần gũi và sống động hơn lý tưởng. Công việc viết văn của anh không đơn giản chỉ là phơi bày sự thật, nó còn vừa đau đớn vừa lý thú, vừa thấp hèn vừa hướng thượng, vừa cô độc lại vừa gần gũi, hứa hẹn mà cũng mong manh đầy bất trắc. Nó gần như trò chơi thả diều của bố Lâm trong "Những bài học nông thôn": “Cuộn dây song thả dần ra, chiếc diều lên được độ cao tuyệt đích, ở đấy không còn những thứ gió quẩn khốn nạn, hiểm nguy và đầy bất trắc nữa: ở đấy là thứ gió khác tử tế, cao thượng, độ lượng, bao dung mà bình ổn. Nó nghiêng một cái như để khinh bỉ mặt đất, hay chào mặt đất, rồi đứng yên thổi sáo một mình… Cứ hát ca đi. Cho thoả lòng. Bởi số phận đã định rồi. Diều nào mà chẳng đứt dây một lần.” Không Có Vua I. GIA CẢNH Cô Sinh về làm dâu nhà lão Kiền đã mấy năm nay. Khi về, cô Sinh mang theo bốn bộ quần áo mỏng, một áo dạ mặc rét, hai áo len, một vỏ chăn hoa, bốn cái xoong nhôm một cái xoong bột, một cái phích hai lít rưỡi, một cái chậu tắm, một tá khăn bông, tóm lại là một đống tiền, nói như bà mẹ cô Sinh làm nghề buôn gạo ở chợ Xanh. Cậu Cấn chồng cô Sinh là thương binh. Họ quen biết nhau trong dịp tình cờ. Hai người cùng trú dưới hiên nhà trong một trận mưa. Chuyện này đã có người viết (thế mới biết nhà văn ở ta xông xáo!) Theo đồn đại, đại để đấy là một “xen” (scène) về tình yêu giản dị, trong sáng, không vụ lợi cuộc sống là duy vật biện chứng, hài hòa, đẹp, đáng yêu, v.v.... Cấn là con trưởng. Dưới Cấn có bốn em trai, chênh nhau một, hai tuổi. Đoài là công chức ngành giáo dục, Khiêm là nhân viên lò mổ thuộc Công ty thực phẩm, Khảm là sinh viên đại học, Tốn, con út bị bệnh thần kinh, người teo tóp, dị dạng. Nhà lão Kiền sáu người. Toàn đàn ông. Bà Nhớn, vợ lão Kiền, mất đã mười một năm, lúc đó lão Kiền năm mươi ba tuổi, cái tuổi oái ăm, lấy vợ nữa cùng dở, không lấy vợ nừa cũng dở. Lão Kiền chọn cái dở ít hơn, ở vậy... Nhà lão Kiền trông ra mặt đường. Lão làm nghề chữa xe đạp. Cấn làm nghề cắt tóc (khi mới quen Sinh, anh nói làm nghề dịch vụ). Được tiếp thu một nền giáo dục gia đình bình dân (cha dạy học, mẹ buôn gạo), Sinh không phải là người có nhiều định kiến hẹp hòi. Hơn nữa, trong tính cách, thậm chí ở cô có phần phóng túng. Trình độ văn hóa hạn chế (Sinh tốt nghiệp phổ thông cơ sở) nhưng điều đó không can hệ gì. Với phụ nữ, học vấn giữ vai trò thứ yếu tạo nên sức mạnh thần thánh ở họ, điều này không phải chứng minh. Về làm dâu, lúc đầu Sinh khá ngỡ ngàng với không khí tự do trong nhà. ăn cơm chẳng ai mời ai, sáu người đàn ông, ai cũng cởi trần, mặc quần đùi cười nói thản nhiên, chan chan húp húp như rồng cuốn. Sinh phục vụ cơm nước ba lần một ngày. Được cái việc nặng Sinh không phải làm, có Tốn giúp đỡ. Tốn suốt ngày lau nhà, giặt giũ. Nó không có khả năng làm việc gì khác. Cứ cái xô nhựa với tấm giẻ lau, khoảng vài tiếng nó lại ìau nhà một lần. Nó không chịu được bẩn. Quần áo ai thay ra, nó cũng giặt mà giặt rất sạch, phơi phóng cẩn thận. Tốn ít nói, nếu ai hỏi gì, chỉ cười bẽn lẽn, trả lời nhát gừng. Vừa làm, nó vừa ti tỉ hát, không hiểu học được khi nào bài hát của bọn bợm rượu: A ha... Không có vua Sớm đến chiều say sưa Tháng với ngày thoi đưa Tớ với mình dây dưu, Tình với tính hay chưa Tốn hay giúp đỡ Sinh, nó cư xử với Sinh bằng lòng tốt vô bờ bến. Những ý thích nhỏ nhặt của cô, nó thực hiện với lòng tận tụy cầm thú. Nửa đêm, nếu Sinh buột miệng "có ô mai thì thích" là sẽ có ngay ô mai. Không biết Tốn lấy tiền ở đâu, đi mua lúc nào, chuyện này chịu. Ở trong nhà Sinh hãi nhất lão Kiền, sau đến Khiêm. Lão Kiền suốt ngày cau có. Mọi người không ai thích lão. Lão kiếm ra tiền, lão cãi nhau với mọi người như cơm bữa, lời lẽ độc địa. Như với Đoài, lão bảo: "Mày ấy à? Công chức gì mặt mày? Lười như hủi, chữ tác chữ tộ không biết, chỉ giỏi đục khoét!" Hay với Khảm, cậu sinh viên năm thứ hai: "Đồ ruồi nhặng! Học với chả hành! Người ta dạy dỗ mày cũng phí cơm toi”. Với Cấn, lão có đỡ hơn, thỉnh thoảng cũng khen, nhưng lời khen lại quá lời chửi: "Hay thật, cái nghề cạo râu ngoáy tai của mày, nhục thì nhục nhưng hái ra tiền!!l Riêng với Khiêm, lão ít gây sự. Khiêm to lớn, lừng lững, tính nóng nẩy. Hàng ngày đi làm vể (Khiêm hay làm ca đêm), Khiêm đều mang về khi cân thịt, khi bộ lòng. ít hôm Khiêm về không. Đoài hay nói (cũng là nói sau lưng Khiêm): "Trước sau cũng vào tù thôi. Cái thằng ấy tôi đã thấy trước tương lai của nó. ít cũng sáu năm tù. Kể cũng lạ. Một năm nó ăn cắp đến nửa tấn thịt mà người ta để yên cho nó! " Khiêm có vẻ khinh hai ông anh. Với Cấn, nếu Khiêm cắt tóc bao giờ Khiêm cũng trả tiền. Khiêm bảo: "Anh đừng làm bộ với tôi. Tôi bắt anh phục vụ tôi có quyền trả tiền”. Cấn nhăn nhó: "Chú làm anh như người ngoài ấy". Khiêm bảo: "Không phải người ngoài, anh không nhận thì thôi, tôi đi hàng khác, tôi bắt thằng khác ngoáy tai cho tôi... Kìa, cẩn thận con dao. Đừng cạo của
Tài liệu liên quan