Tóm tắt. Ứng phó của phụ nữ bị bạo lực gia đình là một yếu tố quan trọng, có mối quan
hệ nhất định với sang chấn tâm lí ở họ, biểu hiện ở các triệu chứng PTSD, trầm cảm, lo âu,
stress. Điều tra 165 phụ nữ bị bạo lực gia đình ở 2 tỉnh Hà Nam và Bắc Ninh cho thấy, ứng
phó định hướng xúc cảm và định hướng né tránh có mối tương quan thuận, ngược lại, ứng
phó định hướng giải quyết vấn đề có mối tương quan nghịch với các triệu chứng sang chấn
tâm lí của họ. Trong đó, ứng phó định hướng xúc cảm có tương quan chặt chẽ nhất với biểu
hiện sang chấn tâm lí ở phụ nữ bị bạo lực gia đình. Phát hiện của nghiên cứu cho thấy, công
tác can thiệp, hỗ trợ cần giúp phụ nữ tích cực tham gia hoạt động hướng đến giải quyết các
vấn đề liên quan đến bạo lực gia đình, hạn chế cách ứng phó tập trung vào xúc cảm hay né
tránh hoàn cảnh của mình, có thể dẫn đến khả năng phát triển các triệu chứng sang chấn
tâm lí nghiêm trọng hơn.
9 trang |
Chia sẻ: thanhle95 | Lượt xem: 12 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Cách ứng phó và mối quan hệ giữa cách ứng phó với mức độ sang chấn tâm lí của phụ nữ bạo lực gia đình, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
JOURNAL OF SCIENCE OF HNUE DOI: 10.18173/2354-1067.2017-0101
Social Science, 2017, Vol. 62, Iss. 11, pp. 158-166
This paper is available online at
CÁCH ỨNG PHÓ VÀMỐI QUAN HỆ GIỮA CÁCH ỨNG PHÓ
VỚI MỨC ĐỘ SANG CHẤN TÂM LÍ CỦA PHỤ NỮ BẠO LỰC GIA ĐÌNH
Lê Thị Tường Vân
Viện Nghiên cứu Phụ nữ, Học viện Phụ nữ Việt Nam
Tóm tắt. Ứng phó của phụ nữ bị bạo lực gia đình là một yếu tố quan trọng, có mối quan
hệ nhất định với sang chấn tâm lí ở họ, biểu hiện ở các triệu chứng PTSD, trầm cảm, lo âu,
stress. Điều tra 165 phụ nữ bị bạo lực gia đình ở 2 tỉnh Hà Nam và Bắc Ninh cho thấy, ứng
phó định hướng xúc cảm và định hướng né tránh có mối tương quan thuận, ngược lại, ứng
phó định hướng giải quyết vấn đề có mối tương quan nghịch với các triệu chứng sang chấn
tâm lí của họ. Trong đó, ứng phó định hướng xúc cảm có tương quan chặt chẽ nhất với biểu
hiện sang chấn tâm lí ở phụ nữ bị bạo lực gia đình. Phát hiện của nghiên cứu cho thấy, công
tác can thiệp, hỗ trợ cần giúp phụ nữ tích cực tham gia hoạt động hướng đến giải quyết các
vấn đề liên quan đến bạo lực gia đình, hạn chế cách ứng phó tập trung vào xúc cảm hay né
tránh hoàn cảnh của mình, có thể dẫn đến khả năng phát triển các triệu chứng sang chấn
tâm lí nghiêm trọng hơn.
Từ khóa: Phụ nữ, ứng phó, bạo lực gia đình, sang chấn tâm lí, PTSD.
1. Mở đầu
Sang chấn tâm lí là một vấn đề được nhắc tới nhiều trong tâm lí học hiện đại, dùng để nói
đến kết quả của việc tiếp xúc với (những) sự kiện cực kì căng thẳng, phá vỡ cảm giác an toàn của
cá nhân [5, 8, 9], làm cho cá nhân cảm thấy bị đe dọa nghiêm trọng và bất lực trong việc ứng phó
với nó. Càng nhiều cảm giác sợ hãi, bất lực, càng khó khăn trong việc ứng phó với sự kiện căng
thẳng thì càng có nhiều khả năng cá nhân bị sang chấn tâm lí [9, 10]. Như vậy, ứng phó là một
nhân tố quan trọng để hiểu về sang chấn tâm lí - cho dù nó rất phức tạp, bởi vì một mặt ứng phó
có thể được hiểu như là yếu tố dự báo sang chấn tâm lí, mặt khác nó lại là kết quả của sang chấn
tâm lí (Mary Ann Dutton và cộng sự, 2009) [7]. Nghiên cứu này sẽ trình bày cách ứng phó và phân
tích mối quan hệ giữa các cách ứng phó với mức độ sang chấn tâm lí ở phụ nữ bị bạo lực gia đình.
Ngày nhận bài: 15/3/2017. Ngày sửa bài: 11/7/2017. Ngày nhận đăng: 20/10/2017
Liên hệ: Lê Thị Tường Vân, e-mail: levananhtbu@gmail.com
158
Cách ứng phó và mối quan hệ giữa cách ứng phó với mức độ sang chấn tâm lí...
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Khách thể và phương pháp nghiên cứu
2.1.1. Khách thể nghiên cứu
Nghiên cứu điều tra bằng bảng hỏi 165 phụ nữ bị bạo lực gia đình tại 4 xã/ phường thuộc
2 tỉnh: Phường Thanh Châu - thành phố Phủ Lý, xã Thanh Hương- huyện Thanh Liêm (Hà Nam);
xã Cách Bi và Ngọc Xá, huyện Quế Võ (Bắc Ninh). 113 người đã hoặc đang tham gia các câu lạc
bộ phòng chống bạo lực gia đình (chiếm 68,3%), trong đó, họ được truyền thông nâng cao nhận
thức và được tập huấn về kĩ năng phản ứng với bạo lực gia đình. Độ tuổi trung bình của mẫu là 48;
nghề nghiệp chủ yếu là làm nông nghiệp (72,7%).
Dụng cụ đo
* Sang chấn tâm lí: Nghiên cứu tìm hiểu bốn biểu hiện của sang chấn tâm lí, gồm rối loạn
stress sau sang sang chấn (PTSD), trầm cảm, lo âu và stress. Trong đó, sử dụng bảng kiểm PTSD
dành cho DSM-5* [Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders – version 5 (Sổ tay
Thống kê và Chẩn đoán các Rối loạn Tâm thần phiên bản thứ 5 của Hiệp Hội các nhà Tâm thần học
Mỹ (American Psychiatric Association), Tháng 5/2013] (The PTSD Checklist for DSM-5/PCL-5)
để đánh giá 20 triệu chứng cụ thể của PTSD [8]; đồng thời dùng thang đo DASS-42 (Depression,
Axiety and Stress Scale 42 items) với bản dịch đang được dùng để chẩn đoán tại Khoa Tâm thần -
Bệnh viện Bạch Mai) để đánh giá các triệu chứng trầm cảm, lo âu, stress.
* Cách ứng phó: Nghiên cứu tham khảo Bảng kiểm ứng phó với các tình huống căng thẳng
(Coping Inventory for Stressful Situations /CISS) (Endler & Parker, 1990; Avero, P., Corace, K.
M., Endler, N. S., & Calvo, M. G., 2003) (dt. Lê Văn Hảo, 2014) [1] phiên bản 21 item. Trong
đó, 10/21 item của CISS đã được sử dụng và bổ sung thêm 8 câu mới cho phù hợp với khách thể
nghiên cứu. Tổng số 18 item theo các cách ứng phó khác nhau được xắp sếp xen kẽ với nhau. Dựa
trên sự phân bố điểm đạt được khi đánh giá về cách ứng phó, chúng tôi chia thang đo mỗi cách ứng
phó làm 3 nhóm như sau:
Bảng 1. Các nhóm điểm thang đo cách ứng phó của phụ nữ bị bạo lực gia đình
Cách ứng phó Mức thấp Mức trung bình Mức cao
Ứng phó định hướng xúc cảm 1,29
Ứng phó định hướng giải quyết vấn đề 2,06
Ứng phó định hướng né tránh 1,61
2.2. Kết quả nghiên cứu
2.2.1. Một số vấn đề lí luận về cách ứng phó của phụ nữ bị bạo lực gia đình
Ứng phó (coping) được hiểu là các nỗ lực về mặt nhận thức và hành vi thay đổi thường
xuyên để giải quyết các đòi hỏi cấp bách từ bên ngoài hoặc bên trong hoặc là cả hai (Corsini, 1999,
tr.223) [dt.1]. Cách ứng phó là sự chủ động lựa chọn những phương án, những cách thức ứng phó
cụ thể cho một tình huống cụ thể mà cá nhân cảm thấy là phù hợp với hoàn cảnh của họ.
Xem xét một số lí thuyết về ứng phó của các tác giả Lazarus & Folkman (1986); Carver
C.S. và Scheier M.F. (1989); Vitaliano P.P. (1990); Cox và Ferguson (1991); Ensel W.M., Lin N.
(1991). . . , chúng tôi thấy có 3 cách ứng phó đã được nhiều nhà tâm lí học nói đến dưới các hình
thức khác nhau, phù hợp với đối tượng của nghiên cứu này, đó là: ứng phó định hướng giải quyết
159
Lê Thị Tường Vân
vấn đề; ứng phó định hướng cảm xúc; và ứng phó định hướng né tránh (dt. Phan Thị Mai Hương,
2007; Lê Văn Hảo, 2014; Dương Thị Kim Oanh, 2013) [1, 3, 4].
- Ứng phó định hướng giải quyết vấn đề: Cách ứng phó này mang tính chất tích cực, thích
nghi tốt vì thể hiện sự nỗ lực tập trung vào những vấn đề cần giải quyết, đồng thời thực hiện một
số hoạt động nhằm mục đích giải quyết vấn đề hoặc thay đổi vấn đề liên quan đến bạo lực gia đình
và tình trạng khó chịu (do bị sang chấn tâm lí) của bản thân. Bởi vậy, cách ứng phó này có thể giúp
phụ nữ giảm nhẹ các triệu chứng sang chấn tâm lí hơn những cách ứng phó khác.
- Ứng phó định hướng cảm xúc: Mục đích của phụ nữ ứng phó theo cách này là để giảm
căng thẳng, và thích nghi tạm thời với tình huống đã xảy ra mà họ coi là không thể thay đổi được.
Họ chấp nhận bạo lực gia đình như một phần của số phận thông qua cảm xúc của cá nhân hoặc
mong muốn tìm kiếm và nhận được sự thấu hiểu, động viên, an ủi và sự hỗ trợ từ người khác. Tuy
nhiên, về mặt dài hạn, những căng thẳng có thể càng tích lũy, dồn nén tăng thêm và dẫn đến các hệ
quả như phát triển thành các triệu chứng lo âu và trầm cảm. Người ứng phó theo phong cách định
hướng cảm xúc thường có phản ứng như tức giận, ưu phiền hay có khi bị ám ảnh (Lê Văn Hảo,
2014, tr.34) [1], nên có thể dự báo sang chấn tâm lí nhiều hơn.
- Ứng phó né tránh: có thể mang tính thích nghi về mặt ngắn hạn đối với các vấn đề không
thể kiểm soát được hay vượt khả năng, nguồn lực tâm lí của cá nhân. Né tránh theo kiểu lảng
tránh, chạy trốn là nhằm cố quên đi những gì đang làm họ căng thẳng, sợ hãi bằng sự cố gắng làm
ngơ hoặc bằng các hoạt động xoa dịu tinh thần khác như tìm đến chất kích thích (rượu, chất gây
nghiện. . . ) (Lê Văn Hảo, 2014, tr.34) [1]. Những việc này hầu hết không xảy ra trong bối cảnh văn
hóa Việt Nam, mà phụ nữ thường “chạy trốn” vào các hoạt động khác như: đi xem bói, đi lễ chùa
cầu may mắn, bình an. . . ứng phó né tránh đã được phát hiện là yếu tố dự báo sang chấn tâm lí
nghiêm trọng hơn (Dutton, 2009) [7;tr.215-216].
Như vậy, các cách ứng phó khác nhau sẽ liên quan đến sang chấn tâm lí của phụ nữ bị bạo
lực gia đình ở các mức độ khác nhau.
2.2.2. Thực trạng cách ứng phó của phụ nữ bị bạo lực gia đình
Biểu đồ 1. Các cách ứng phó với tình trạng bị tổn thương tâm lí
của phụ nữ bị bạo lực gia đình (đơn vị tính: ĐTB)
Khi ở trong hoàn cảnh bị bạo lực gia đình và bắt đầu có những biểu hiện của sang chấn
tâm lí, người phụ nữ sẽ có những cảm giác rất khó chịu, không thoải mái về nhiều mặt, nên thông
160
Cách ứng phó và mối quan hệ giữa cách ứng phó với mức độ sang chấn tâm lí...
thường họ sẽ phải làm gì đó để đối phó/giải quyết tình trạng bất ổn này. Kết quả khảo sát cho
thấy, cách ứng phó định hướng giải quyết vấn đề được lựa chọn nhiều nhất (ĐTB =1,42); trong
khi cách ứng phó định hướng xúc cảm được lựa chọn ít nhất, thể hiện ở điểm trung bình thấp nhất
(ĐTB=0,70).
Trên thực tế, đa số phụ nữ được phỏng vấn đã hoặc đang tham gia vào các chương trình
phòng chống bạo lực gia đình và hỗ trợ nạn nhân (chiếm 68,3%) nên họ đã được trang bị những
kiến thức, kĩ năng khoa học nhất định để đối phó với tình trạng bạo lực gia đình, cũng như tự hỗ
trợ cho bản thân. Kết quả là phần đông phụ nữ đã có cách ứng phó khá tích cực. Biểu hiện cụ thể
các cách ứng phó của phụ nữ bị bạo lực gia đình như sau:
* Ứng phó định hướng giải quyết vấn đề:
Bảng 2. Ứng phó định hướng giải quyết vấn đề của phụ nữ bị bạo lực gia đình
Các biểu hiện ĐTB ĐLC Các mức độ (%)
Không
có
Một
chút
Khá
nhiều
Rất
nhiều
3. Cố gắng tập trung vào công việc hoặc chăm lo
gia đình để quên đi những suy nghĩ liên quan đến
bạo lực gia đình
1,96 1,09 16,2 13,2 28,4 42,1
4. Cố gắng tham gia vào các hoạt động xã hội,
cộng đồng để quên đi bạo lực gia đình và nỗi buồn
của bản thân
1,58 1,13 23,4 22,3 26,9 27,4
5. Nói chuyện, chia sẻ với người thân, bạn bè về
những cảm giác, suy nghĩ và tình trạng của mình 1,82 0,99 10,2 28,9 29,4 31,5
6. Đến trạm y tế xã/ phường để thăm khám/ điều
trị bệnh và tư vấn về sức khỏe tinh thần 0,32 0,77 74,1 15,2 7,1 3,6
7. Đến các cơ sở có chuyên môn khác (như bác sĩ
tư nhân, bệnh viện, nhà tạm lánh, phòng tư vấn. . . )
để thăm khám, điều trị bệnh và tư vấn về sức khỏe
tinh thần
0,61 1,00 65,0 12,7 14,2 8,1
9. Cố gắng làm một số việc gì đó để thay đổi tình
hình bạo lực gia đình 1,57 1,12 22,3 26,4 23,4 27,9
10. Tự an ủi để không cảm thấy cuộc sống tồi tệ 1,81 1,04 11,7 29,9 24,4 34,0
11. Làm việc gì đó để ít phải nghĩ về những việc
liên quan đến bạo lực gia đình (xem tivi, du lịch,
đọc báo, ngủ, đến nhà bạn. . . )
1,51 1,06 21,3 25,9 30,5 22,3
12. Cố gắng lạc quan và nhìn nhận mọi việc tích
cực hơn 1,66 1,13 22,3 18,8 30,5 28,4
Ứng phó định hướng giải quyết vấn đề 1,42 0,61
Trong cách ứng phó định hướng giải quyết vấn đề, phụ nữ thường cố gắng tập trung vào công
việc hoặc chăm lo gia đình để quên đi những suy nghĩ liên quan đến bạo lực gia đình (ĐTB=1,96);
nói chuyện, chia sẻ với người thân, bạn bè về những cảm giác, suy nghĩ và tình trạng của mình
(ĐTB=1,82); tự an ủi để không cảm thấy cuộc sống tồi tệ (ĐTB=1,81), hoặc cố gắng tham gia vào
các hoạt động xã hội, cộng đồng để quên đi bạo lực gia đình và nỗi buồn của bản thân (ĐTB=1,58)-
việc tham gia vào câu lạc bộ phòng chống bạo lực gia đình cũng được coi là một trong những hoạt
động cộng đồng đó.
Đáng chú ý là những việc cần thiết như: “đến trạm y tế xã/ phường để thăm khám/ điều
161
Lê Thị Tường Vân
trị bệnh và tư vấn về sức khỏe tinh thần”; hoặc “đến các cơ sở có chuyên môn khác (như bác sĩ
tư nhân, bệnh viện, nhà tạm lánh, phòng tư vấn. . . ) để thăm khám/ điều trị bệnh và tư vấn về sức
khỏe tinh thần” thì mức độ thực hiện thấp nhất (ĐTB lần lượt là 0,32 và 0,61). Trao đổi với phụ
nữ bị bạo lực gia đình cho thấy, một số chị lên trạm y tế xã/ phường để khám, điều trị trong những
trường hợp bị bạo lực gây thương tích nghiêm trọng như: bị chồng tát tới mức bị rách mắt, móc
mắt ra ngoài phải đi khâu; có những vết rạch dài gây chảy nhiều máu phải đi khâu; rạn xương/ gẫy
xương; ngất xỉu... Những phụ nữ tự đến các cơ sở có chuyên môn khác (như bác sĩ tư nhân, bệnh
viện, nhà tạm lánh, phòng tư vấn. . . ) để thăm khám/ điều trị bệnh và tư vấn về sức khỏe tinh thần”
là những trường hợp bị bạo lực của chồng gây thương tích nghiêm trọng hơn (như bị đá vào bụng
dưới gây đau bụng dưới, rong kinh nhiều ngày...).
* Ứng phó định hướng né tránh:
Bảng 3. Ứng phó định hướng né tránh của phụ nữ bị bạo lực gia đình
Các biểu hiện ĐTB ĐLC Các mức độ (%)
Không
có
Một
chút
Khá
nhiều
Rất
nhiều
8. Bỏ đi khỏi nhà một thời gian cho khuây khỏa 1,17 0,86 26,7 33,3 36,4 3,6
15. Không làm gì, để lâu rồi mọi vấn đề tự khỏi/tự
mất đi 0,58 0,47 61,8 24,8 7,3 6,1
16. Đi lễ chùa nhiều hơn 0,69 0,57 58,2 24,2 7,9 9,7
17. Đi xem bói về tương lai, số phận của mình 0,37 0,34 69,1 27,9 0,0 3,0
Ứng phó né tránh 0,99 0,61
Cách ứng phó phổ biến thứ hai của phụ nữ bị bạo lực gia đình mang tính định hướng né
tránh, với ĐTB= 0,99. Tuy có nhiều phụ nữ đã được tham gia vào các chương trình hỗ trợ phòng
chống bạo lực gia đình, nhưng cách ứng phó định hướng lảng tránh hay chạy trốn vẫn được lựa
chọn khá nhiều, giúp cho nạn nhân hạn chế phải tiếp xúc, đối diện với các sự kiến bạo lực gia đình
gây căng thẳng cho họ. Sự né tránh này cũng là biểu hiện về mặt hành vi của những khó khăn tâm
lí trong đấu tranh chống lại bạo lực gia đình (Lý Thị Minh Hằng, 2013) [2]. Hành vi phổ biến nhất
trong cách ứng phó này là bỏ đi khỏi nhà một thời gian cho khuây khỏa, chiếm 73,3% (ĐTB=1,17),
hoặc đi lễ, đi chùa cầu an nhiều hơn (ĐTB=0,69). Phụ nữ bị bạo lực gia đình chia sẻ rằng, cuộc
sống của họ như địa ngục, có thể một mặt do họ vừa phải chịu đựng đau khổ từ các cuộc bạo lực
từ người chồng, mặt khác, họ bị hành hạ bởi những biểu hiện sang chấn tâm lí. Cho nên, dù vào
thời điểm bạo lực đang diễn ra hay không diễn ra thì họ vẫn cảm thấy cuộc sống của họ là tồi tệ.
Để chạy trốn, lảng tránh cảm giác này, nhiều chị đã đi lễ nhà thờ, đi chùa nhiều hơn để cầu mong,
hy vọng sự bình an sẽ đến và đầu óc được thanh thản hơn. Có chị cho biết, tuần rằm nào cũng lên
chùa, hoặc khi các cụ đi lễ ở xa, như Nghệ An, Lào Cai cũng cố theo.
Số phụ nữ tìm đến việc xem bói về tương lai, số phận của mình tuy ít nhất (ĐTB= 0,37),
nhưng cũng chiếm gần 1/3 số người được phỏng vấn (30,9%). Một số phụ nữ khác không làm gì,
để lâu cho mọi vấn đề tự khỏi/tự mất đi (ĐTB= 0,58 với 38,2% phụ nữ có hành vi ứng phó này ở
các tần suất khác nhau). Trong bối cảnh văn hóa Việt Nam, không ai ứng phó né tránh bằng cách
sử dụng rượu hay lạm dụng các chất gây nghiện khác.
Nhìn chung, việc sử dụng cách ứng phó né tránh thường phản ánh những trường hợp phụ
nữ cảm thấy vượt quá sức/vượt quá khả năng nguồn lực tâm lí mà họ thấy không còn tin tưởng vào
cách nào khác có thể giúp họ vượt qua tình trạng căng thẳng, nên nó là yếu tố làm cho sang chấn
tâm lí có thể tăng lên.
162
Cách ứng phó và mối quan hệ giữa cách ứng phó với mức độ sang chấn tâm lí...
* Ứng phó định hướng xúc cảm:
Cách ứng phó định hướng xúc cảm ít có phụ nữ lựa chọn hơn cả, điểm trung bình chỉ là
0,70. Thực tế cho thấy, hành vi gây bạo lực của người chồng rất khó thay đổi, làm cho vòng tròn
chu kì bạo lực lặp đi lặp lại nhiều lần và thường theo xu hướng tăng nặng hơn. Bởi vậy, nhiều phụ
nữ đành chấp nhận bạo lực như là một điều không may của số phận và họ phải dùng cách ứng
phó này để mong được giảm căng thẳng, đau buồn, và sợ hãi, lo lắng trong tạm thời. Hành vi phổ
biến nhất trong cách ứng phó này là: chấp nhận một thực tế là những vụ việc bạo lực đó đã xảy ra
(ĐTB=1,38); đầu hàng vì tin là không thể thay đổi được tính nết của chồng (ĐTB=1,21); và than
thân trách phận, cho rằng số mình khổ (ĐTB=1,17). Thái độ chấp nhận, đầu hàng hay việc than
thân trách phận như vậy khiến cho phụ nữ tự xoa dịu bản thân để cảm thấy dễ chịu hơn, dễ chấp
nhận (tình trạng bạo lực) hơn, vì biết rằng số phận mình là như vậy, không có lựa chọn nào khác.
Tuy nhiên, nó cũng phản ánh một sự cam chịu, khiến phụ nữ phải kìm nén cảm xúc nhiều hơn,
không có lợi cho sự phát triển các triệu chứng sang chấn tâm lí.
Bảng 4. Ứng phó định hướng xúc cảm của phụ nữ bị bạo lực gia đình
Các biểu hiện ĐTB ĐLC Các mức độ (%)
Không
có
Một
chút
Khá
nhiều
Rất
nhiều
1. Than thân trách phận, số mình khổ 1,17 0,86 26,7 33,3 36,4 3,6
2. Đầu hàng vì tin là không thể thay đổi được tính
anh ấy 1,21 1,02 41,8 18,2 17,6 21,8
13. Chấp nhận một thực tế là những vụ việc bạo
lực đó đã xảy ra 1,38 1,05 26,7 25,5 30,9 17,0
14. Thể hiện cảm giác tiêu cực: cáu gắt, giận dữ,
buồn bã, trầm tư, lo lắng. . . 0,47 0,45 74,8 4,9 19,0 1,2
18.Nhận/ mong nhận được sự an ủi, động viên và
thấu hiểu từ một số người khác 0,70 0,68 51,3 29,2 16,8 2,5
Ứng phó định hướng xúc cảm 0,70 0,59
Ngoài ra, nhiều người nhận hoặc mong nhận được sự an ủi, động viên và thấu hiểu từ một
số người khác (ĐTB=0,70); hay thể hiện những cảm giác tiêu cực của họ như: cáu gắt, giận dữ,
buồn bã, trầm tư, lo lắng. . . (ĐTB=0,47).
Tóm lại, đặc điểm chung của cách ứng phó định hướng vào cảm xúc là có thể giúp phụ nữ
bị bạo lực gia đình tạm thời giảm nhẹ sự căng thẳng, khó chịu, đau buồn để thích nghi, nhưng nó
thể hiện sự chấp nhận, cam chịu của phụ nữ, nên về lâu dài, nó có thể làm tăng thêm các cảm xúc
tiêu cực và dẫn đến các hệ quả như lo âu, trầm cảm, PTSD – làm cho sang chấn tâm lí có thể trở
nên nghiêm trọng hơn.
2.2.3. Mối quan hệ giữa cách ứng phó với mức độ sang chấn tâm lí của phụ nữ bị bạo lực
gia đình
* Tương quan giữa các cách ứng phó với sang chấn tâm lí của phụ nữ bị bạo lực gia
đình
Kết quả phân tích cho thấy, mặc dù cách ứng phó định hướng giải quyết vấn đề có tương
quan ít chặt chẽ nhất nhưng là cách ứng phó duy nhất có tương quan nghịch với sang chấn tâm lí
(r = - 0,162* và P<0,05). Điều này gợi ý rằng, nếu phụ nữ có cách ứng phó tích cực nhằm định
hướng vào giải quyết vấn đề, như: cố gắng tập trung vào công việc hoặc chăm lo gia đình để quên
đi những suy nghĩ liên quan đến bạo lực gia đình; cố gắng tham gia vào các hoạt động xã hội, cộng
163
Lê Thị Tường Vân
đồng để quên đi bạo lực gia đình và nỗi buồn của bản thân; nói chuyện, chia sẻ với người thân,
bạn bè về những cảm giác, suy nghĩ và tình trạng của mình; đến trạm y tế xã/ phường hoặc các cơ
sở có chuyên môn khác để thăm khám/ điều trị bệnh và tư vấn về sức khỏe tinh thần; cố gắng làm
một số việc gì đó để thay đổi tình hình; làm việc gì đó để ít phải nghĩ về những việc liên quan đến
bạo lực gia đình. . . thì sẽ giúp ích đáng kể trong việc làm giảm các triệu chứng sang chấn tâm lí
của họ.
Hình 1. Tương quan giữa tổn thương tâm lí
với các cách ứng phó của phụ nữ bị bạo lực gia đình
Ngược lại, cách ứng phó định hướng xúc cảm và né tránh đều có tương quan thuận với sang
chấn tâm lí, lần lượt r = 0,293** và r = 0,206** (P<0,01), trong đó, ứng phó xúc cảm có tương
quan chặt chẽ nhất. Như vậy, nếu phụ nữ chỉ tìm cách giảm căng thẳng, đau buồn, lo lắng trong
tạm thời (như: than thân trách phận về số mình khổ; đầu hàng vì tin là không thể thay đổi được
tình hình và tính nết chồng; chấp nhận một thực tế là những vụ việc bạo lực đó đã xảy ra; thể hiện
cảm giác tiêu cực: cáu gắt, giận dữ, buồn bã, trầm tư, lo lắng; nhận/mong nhận được sự an ủi, động
viên và thấu hiểu từ một số người khác) hoặc cố gắng lảng tránh, chạy trốn khỏi thực tại đang gây
khó chịu cho họ (chẳng hạn, bỏ đi khỏi nhà một thời gian cho khuây khỏa; không làm gì, để lâu
rồi mọi vấn đề tự khỏi/tự mất đi; đi lễ chùa nhiều hơn; đi xem bói về tương lai, số phận của mình)
thì về lâu dài, phụ nữ dễ bị phát triển các triệu chứng sang chấn tâm lí nhiều hơn.
* Sự thay đổi mức độ sang chấn tâm lí của phụ nữ bị bạo lực gia đình theo mức độ các
cách ứng phó khác nhau
Để hiểu rõ hơn mối quan hệ này, chúng tôi phân tích sự thay đổi điểm trung bình sang chấn
tâm lí của phụ nữ bị bạo lực gia đình theo mức độ các cách ứng phó khác nhau. Kết quả cho thấy,
mối tương quan thuận nói trên thể hiện ở chỗ: nhóm phụ nữ có cách ứng phó định hướng xúc cảm
và né tránh ở mức càng cao thì điểm trung bình sang chấn tâm lí của họ càng tăng nghiêm trọng
hơn. Trong đó, nhóm phụ nữ có cách ứng phó định hướng xúc cảm ở mức cao có điểm trung bình
sang chấn tâm lí ở mức cao nhất (1,14 điểm, so với điểm trung bình chung là 0,89 điểm).
Bảng 5. Mức độ sang chấn tâm lí của phụ nữ bị bạo lực gia đình theo các mức độ
cách ứng phó khác nhau (đơn vị tính: điểm trung bình của sang chấn tâm lí)
Cách ứng phó Mức thấ