TÓM TẮT
Người Hoa có mặt ở vùng đất Hà Tiên(1) vào nửa cuối thế kỷ XVII, xuất phát từ làn sóng di cư của
những người Hoa tị nạn sau khi nhà Minh sụp đổ. Đến đầu thế kỷ XVIII, vùng đất này đón nhận những
di dân mới thuộc nhiều tầng lớp thương nhân và cư dân lao động, từ đó, lịch sử Hà Tiên chứng kiến sự
lớn mạnh của khối cộng đồng Hoa với vai trò lãnh đạo của dòng họ Mạc. Người Hoa đã có những đóng
góp và có vai trò đặc biệt trong việc thiết lập và bảo vệ vững chắc chủ quyền vùng đất Hà Tiên, tạo điều
kiện để Đàng Trong hoàn thành công cuộc khai khẩn, xác lập chủ quyền trên toàn vùng đất Tây Nam
Bộ. Sang thế kỷ XIX, người Hoa vẫn tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, nhất là
kinh tế thương nghiệp và sản xuất nông sản. Những dấu ấn về cộng đồng người Hoa ở Hà Tiên trong
gần 2 thế kỷ dưới thời phong kiến được tìm hiểu qua nghiên cứu những ghi chép của tác giả đương thời
và những dấu tích văn hóa còn đến ngày nay.
10 trang |
Chia sẻ: thanhle95 | Lượt xem: 8 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Dấu ấn của người Hoa tại vùng đất Hà Tiên trong các thế kỷ XVII – XIX, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN SAIGON UNIVERSITY
TẠP CHÍ KHOA HỌC SCIENTIFIC JOURNAL
ĐẠI HỌC SÀI GÒN OF SAIGON UNIVERSITY
Số 69 (03/2020) No. 69 (03/2020)
Email: tcdhsg@sgu.edu.vn ; Website:
64
DẤU ẤN CỦA NGƯỜI HOA TẠI VÙNG ĐẤT HÀ TIÊN
TRONG CÁC THẾ KỶ XVII – XIX
The historical traces of the Hoa people in Hà Tiên
region during the 17th – 19th centuries
TS. Đào Vĩnh Hợp
Trường Đại học Sài Gòn
TÓM TẮT
Người Hoa có mặt ở vùng đất Hà Tiên(1) vào nửa cuối thế kỷ XVII, xuất phát từ làn sóng di cư của
những người Hoa tị nạn sau khi nhà Minh sụp đổ. Đến đầu thế kỷ XVIII, vùng đất này đón nhận những
di dân mới thuộc nhiều tầng lớp thương nhân và cư dân lao động, từ đó, lịch sử Hà Tiên chứng kiến sự
lớn mạnh của khối cộng đồng Hoa với vai trò lãnh đạo của dòng họ Mạc. Người Hoa đã có những đóng
góp và có vai trò đặc biệt trong việc thiết lập và bảo vệ vững chắc chủ quyền vùng đất Hà Tiên, tạo điều
kiện để Đàng Trong hoàn thành công cuộc khai khẩn, xác lập chủ quyền trên toàn vùng đất Tây Nam
Bộ. Sang thế kỷ XIX, người Hoa vẫn tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, nhất là
kinh tế thương nghiệp và sản xuất nông sản. Những dấu ấn về cộng đồng người Hoa ở Hà Tiên trong
gần 2 thế kỷ dưới thời phong kiến được tìm hiểu qua nghiên cứu những ghi chép của tác giả đương thời
và những dấu tích văn hóa còn đến ngày nay.
Từ khóa: dấu ấn, Hà Tiên, người Hoa, thế kỷ XVII – XIX
ABSTRACT
The Hoa people (the Chinese people) set foot on Ha Tien(1) region in the second half of the 17th century
with their migration phenomenon after the Ming dynasty’s collapse. In the early 18th century, this region
received new Chinese immigrants of different classes of traders and laborers, since then it witnessed the
Hoa community’s prosperity thanks to the leadership of the Mok family. The community made great
contributions and took important roles in establishing and firmly defending this land to facilitate Dang
Trong in fulfilling its reclaiming cause and sovereignty establishment in the Southwest. Up to the 19th
century, the Hoa continued to take significant roles in economic improvement, especially in trading
field and the production of agricultural commodities. The historical traces of the Hoa community in Ha
Tien for nearly 2 centuries under feudalism could be brought to light through studying historical
archives and the cultural heritages bequeathed today.
Keywords: historical traces, Hà Tiên, the Hoa people, 17th – 19th centuries
1. Đặt vấn đề
Hà Tiên vốn là vùng đất của vương
quốc cổ Phù Nam. Năm 1708(2), sau nhiều
thế kỷ nằm dưới sự cai quản của Chân Lạp,
vùng đất này chính thức trở thành đơn vị
hành chính (trấn Hà Tiên) của Đàng Trong
nước Đại Việt. Trải qua các thế kỷ XVIII –
XIX với nhiều biến động thăng trầm, Hà
Email: daovinhhop@gmail.com
ĐÀO VĨNH HỢP TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN
65
Tiên ngày càng khẳng định vai trò là vùng
biên viễn trọng yếu, tấm phên dậu bảo đảm
an ninh đất nước, đồng thời góp phần vào
sự phát triển kinh tế của đất nước. Quá
trình xác lập chủ quyền, khai khẩn vùng
đất này đã ghi dấu vai trò của các khối cư
dân Việt, Khmer vốn đã đến đây từ trước
Bên cạnh đó, để làm nên một Hà Tiên phồn
thịnh, còn có vai trò của người Hoa. Bài
viết góp phần làm rõ những đóng góp của
người Hoa đối với vùng đất Hà Tiên qua
hai giai đoạn: trước và trong thế kỷ XIX.
2. Khái lược về tiến trình di cư của
người Hoa đến Nam Bộ và vùng đất
Hà Tiên
Các ghi chép về lịch sử vùng đất Hà
Tiên vào các thế kỷ XVII – XIX đã có từ
rất sớm, tiêu biểu như những ghi chép ở
đầu thế kỷ XVIII (năm 1718) của thuyền
trưởng người Scotland là Alexander
Hamilton (Alexander Hamilton, 1927,
tr.196 – 204) hay ghi chép của thương
nhân Pháp Pierre Poirve vào những năm
1764 – 1768 (Poivre Pierre, 2019, tr. 30 –
31) khi hai ông có mặt tại những nơi này.
Những mô tả này có đề cấp đến vùng đất
có tên gọi Ponthiamas và Banteay Meas,
đó chính là những vùng đất thịnh vượng
nằm trong địa phận Trấn Hà Tiên lúc bấy
giờ, vốn được tạo ra bởi một cộng đồng cư
dân đa sắc tộc trong đó có vai trò của các
thương nhân người Hoa. Lịch sử vùng đất
này cũng đã ít nhiều được nhắc đến trong
sử liệu của Trung Quốc, như trong cuốn
Hoàng Thanh Văn Hiến Thông khảo với
mục ghi chép về “Cảng Khẩu Quốc” (tức
Hà Tiên) vào thời điểm trước năm 1747
(Trần Kinh Hòa, 1858, tr, 36).
Ghi chép của học giả trong nước tuy
muộn hơn so với phương Tây nhưng có
phần khá chi tiết, nhất là về các khía cạnh
lịch sử chính trị – xã hội. Phủ Biên tạp lục
của Lê Quý Đôn (1776), mục chép về
“Nhân tài và thi văn” xứ Hà Tiên đã nhắc
nhiều đến công trạng của dòng họ Mạc, đặc
biệt là công cuộc mở mang kinh tế – xã hội
trấn Hà Tiên dưới thời Mạc Thiên Tứ
(1735 – 1771) (Lê Quý Đôn, 1959, tr.109).
Từ thế kỷ XIX, vùng đất này cũng xuất
hiện trong biên chép của các sử gia đương
thời như Vũ Thế Dinh với Mạc Thị Gia
phả (1818), Trịnh Hoài Đức với Gia Định
thành thông chí (1820 – 1822), Quốc sử
quán triều Nguyễn với Đại Nam thực lục,
phần chính biên, kỷ thứ nhất – đời Gia
Long (1821 – 1847), Đại Nam nhất thống
chí (1864 – 1875).
Tại vùng đất Nam Bộ Việt Nam, người
Hoa có mặt sớm và gồm có 2 bộ phận: Bộ
phận thứ nhất là những người Hoa “tị
nạn”, nhóm di dân này đến Nam Bộ từ cuối
thế kỷ XVII. Thành phần quan trọng nhất
là các binh lính, quan lại không chịu thần
phục nhà Thanh và chờ cơ hội “phản
Thanh phục Minh”. Những người Hoa đầu
tiên này có mặt tại Cù Lao Phố trên sông
Đồng Nai, Gia Định, Sài Gòn. Năm 1679,
nhóm các tướng Trung Hoa là Trần
Thượng Xuyên và Dương Ngạn Địch cập
biển Đà Nẵng, chúa Nguyễn cho họ vào
vùng đất phương Nam khai khẩn. Trần
Thượng Xuyên định cư ở Biên Hoà – Cù
Lao Phố (tỉnh Đồng Nai), Dương Ngạn
Địch định cư ở Mỹ Tho (tỉnh Tiền Giang).
Cũng trong khoảng thời gian đó, cuộc di
dân của Mạc Cửu và gia đình đến vùng đất
Mang Khảm (nay là Hà Tiên, tỉnh Kiên
Giang). Bộ phận thứ hai là những thường
dân (thương nhân, tiểu chủ, lao động bình
dân) đi tìm đất làm ăn và di cư đến Đồng
bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) theo nhiều
đợt trong thế kỷ XVIII. Tiêu biểu trong số
đó là cuộc di cư của người Tiều (phủ Triều
Châu của Quảng Đông giáp Phúc Kiến)
SCIENTIFIC JOURNAL OF SAIGON UNIVERSITY No. 69 (03/2020)
66
sang Hà Tiên vào 1715 (Mạc Đường, 1991,
tr. 223). Những di dân này đa số có nguồn
gốc từ các tỉnh duyên hải phía Nam Trung
Hoa, như Quảng Châu, Triều Châu, Phúc
Kiến.v.v. Đến Nam Bộ, họ được tổ chức
theo đơn vị “phủ” rồi “bang” như các phủ:
Phước Châu, Chương Châu, Triều Châu,
Ninh Ba rồi các bang: Phúc Kiến, Triều
Châu, Hải Nam. Dấu ấn định cư của người
Hoa tại Nam Bộ và khu vực Hà Tiên gắn
liền với hai giai đoạn lịch sử khác nhau: Từ
thế kỷ XVII – XVIII: nổi lên vai trò của
các thế hệ người Minh Hương, đặc biệt là
dòng họ Mạc. Còn trong thế kỷ XIX, vai
trò của các tầng lớp thương nhân người
Hoa sinh hoạt trong đơn vị phủ, bang (ngũ
bang) trở nên nổi trội hơn cả(3).
3. Người Hoa ở vùng đất Hà Tiên từ
cuối thế kỷ XVII đến cuối thế kỷ XVIII
Từ cuối thế kỷ XVII, khi nhóm cận
thần nhà Minh là Dương Ngạn Địch và
Trần Thắng Tài được chúa Nguyễn phong
chức tước và cho vào định cư, khai khẩn
vùng Mỹ Tho, Biên Hòa thì ở khu vực Hà
Tiên, Mạc Cửu cũng được cử làm Tổng
binh trấn Hà Tiên. Dấu ấn của những người
Hoa trong gần 1 thế kỷ sau đó được thể
hiện trên các lĩnh vực:
Đối với quá trình thiết lập hành
chính vùng đất và bảo vệ vùng biên viễn
Qua các ghi chép trong Mạc Thị Gia
phả (Vũ Thế Dinh, 2006, tr.15), Gia Định
thành thông chí của Trịnh Hoài Đức và thư
tịch của Triều Nguyễn, vùng đất Hà Tiên
được Mạc Cửu tập trung khai thác vào
khoảng cuối thế kỷ XVII (Trịnh Hoài Đức,
2005, tr.159). Mạc Cửu người tỉnh Quảng
Đông (Trung Quốc), vốn là một thương
buôn năng động, từng buôn bán ở các cảng
thị của Philippines và Batavia. Do kiên
quyết không chịu cộng tác với nhà Thanh,
ông đã đưa binh sĩ, gia quyến và một số
nho sĩ cùng chí hướng giong buồm đi về
phương Nam đến vùng đất Mang Khảm
(nay là Hà Tiên, Kiên Giang) khai mở nơi
buôn bán: “...Cửu người Lôi Châu, Quảng
Đông. Nhà Minh mất, để tóc chạy sang
phương Nam, đến nước Chân Lạp làm
chức Ốc Nha, thấy phủ Sài Mạt ở nước ấy
có nhiều người buôn các nước tụ họp, bèn
mở sòng gá bạc để thu thuế gọi là hoa chi,
lại được hố bạc chôn nên thành giàu. Nhân
chiêu tập dân xiêu dạt đến các nơi Phú
Quốc, Cần Bột, Gia Khê, Luống Cày,
Hương Úc, Cà Mau (thuộc tỉnh Hà Tiên)
lập thành 7 xã thôn...” (Quốc sử quán triều
Nguyễn, 2002, tr.122). Trong thời kỳ lập
phủ Gia Định – năm 1698, khối người
Minh Hương (con cháu nhà Minh) phần
lớn được tổ chức thành đơn vị xã, như:
Thanh Hà xã (Trấn Biên), Minh Hương xã
(Gia Định, Hà Tiên).v.v. Trong số đó,
Minh Hương xã là cơ cấu quản lý mang
tính tự trị cao và được chính thức thành lập
bởi chính quyền chúa Nguyễn. Dù có điểm
giống với xã, thôn người Việt (như cơ cấu
tổ chức với các chức Lý trưởng, Hương
chủ...) nhưng Minh Hương xã này cũng có
nhiều điểm khác (địa bàn phân bố cư dân
rộng lớn - trải rộng khắp dinh, trấn, tỉnh; có
thêm chức năng là đơn vị lãnh sự trực
thuộc cấp trấn, tỉnh,...).
Trước tình hình phát triển nhanh
chóng của khu vực Gia Định dưới quyền
quản lý của chính quyền chúa Nguyễn
cộng với sự cướp phá từ quân Xiêm (Thái
Lan), quân Chân Lạp, Mạc Cửu dần nhận
thấy cần có một thế lực đủ mạnh để bảo vệ
vùng đất mà ông đã dày công khai phá và
không thể không dựa vào chính quyền chúa
Nguyễn nếu muốn tiếp tục củng cố và mở
rộng thế lực trên vùng đất này. Do đó, năm
1708, Mạc Cửu đem phần đất đã khai phá
được dâng cho chúa Nguyễn và xin thần
ĐÀO VĨNH HỢP TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN
67
phục. Chúa Nguyễn Phúc Chu ưng thuận
và đặt tên cho toàn bộ thôn xóm vùng này
là trấn Hà Tiên, Mạc Cửu được chúa
Nguyễn phong làm Tổng binh trấn Hà
Tiên, với tước Cửu Ngọc Hầu. Đến tháng 4
năm 1708, Hà Tiên phụ thuộc vào Đàng
Trong của chúa Nguyễn và được biệt chuẩn
để lập thành một trấn, do chức tổng binh
đứng đầu cai quản (Quốc sử quán Triều
Nguyễn, 2002, tr.164). Việc vùng đất Hà
Tiên được sáp nhập vào lãnh thổ Đàng
Trong là sự kiện đánh dấu bước phát triển
quan trọng trong quá trình mở rộng chủ
quyền của chúa Nguyễn trên vùng đất Nam
Bộ. Đến đầu thế kỷ XVIII, chủ quyền Việt
Nam đã mở rộng đến tận Hà Tiên và mũi
Cà Mau, bao gồm cả các hải đảo ngoài
Biển Đông và vịnh Thái Lan (Nguyễn Văn
Kim, 2006, 137). Năm 1757, địa giới Hà
Tiên được mở rộng hơn, thành lập 2 đạo
Kiên Giang và Long Xuyên: “Bấy giờ Nặc
Tôn lại cắt năm phủ Hương úc, Cần Vọt,
Chân Sum, Sài Mạt, Linh Quỳnh để tạ ơn
Mạc Thiên Tứ, Thiên Tứ hiến cho triều
đình. Chúa cho lệ năm phủ ấy vào quản hạt
Hà Tiên, Thiên Tứ lại xin đặt Giá Khê làm
đạo Kiên Giang, Cà Mau làm đạo Long
Xuyên, đều đặt quan lại, chiêu dân cư, lập
thôn ấp, làm cho địa giới Hà Tiên ngày
càng thêm rộng” (Quốc sử quán Triều
Nguyễn, 2002, tr.178).
Vùng đất Hà Tiên còn có vai trò quan
trọng đối với sự phát triển của Việt Nam
trong các thế kỷ XVII – XVIII. Nó là chìa
khóa mở ra một không gian rộng lớn, khơi
dậy các nguồn lực mới cho sự phát triển
của đất nước, có vai trò then chốt đối với
tiến trình xác lập chủ quyền lãnh thổ trên
đất liền và trên biển của Việt Nam. Trong
suốt các thế kỷ XVII – XVIII, vùng đất này
trở thành tiền đồn quan trọng, bảo vệ mặt
Nam và Tây Nam của toàn bộ vùng đồng
bằng Sông Cửu Long, điển hình như việc
họ Mạc đã lãnh đạo bảo vệ thành công
vùng đất Hà Tiên trước sự xâm phạm của
các thế lực ly khai của Chân Lạp với sự hỗ
trợ đắc lực của quân Xiêm La trong các
năm Ất Mùi (1715), Kỷ Mùi (1739) và
Mậu Thìn (1748) (Trần Đức Cường, 2016,
tr.139 – 140). Những sự kiện này chứng tỏ
vai trò của người Hoa (đứng đầu là dòng
họ Mạc) có vai trò rất lớn trong việc bảo vệ
vùng đất Hà Tiên nói riêng và giữ vững an
ninh vùng đất biên viễn nói chung. Nếu Hà
Tiên không được bảo vệ vững chắc thì
công cuộc khai phá vùng đất Nam Bộ sẽ bị
ảnh hưởng rất lớn, khối cư dân Việt, Hoa,
Khơ-me sẽ không có điều kiện để khai thác
đất đai, lập làng mở phố, mang mang cơ
nghiệp, lập nên một vùng đất đai rộng lớn
ở vùng đất Tây Nam Bộ như đã thấy.
Đối với hoạt động kinh tế, văn hóa,
xã hội
Đến cuối thế kỷ XVII, Hà Tiên có
cảng thương mại biển quan trọng – một hải
cảng có tính chất quốc tế, là điểm trung
chuyển hàng hóa trên con đường thương
mại Đông – Tây vô cùng sôi động. Đây là
nơi tập kết hàng hóa của 3 vùng đồng bằng
quan trọng: đồng bằng sông Mênam của
Xiêm La, đồng bằng Đông Nam của Chân
Lạp và đồng bằng Nam Bộ của Đàng
Trong nước Đại Việt. Hoạt động thương
mại của Hà Tiên bấy giờ trở nên khá phồn
thịnh và có liên hệ với cả bên ngoài, trong
đó có Trung Hoa. Việc buôn bán với Trung
Quốc được bắt đầu từ năm 1729, những thổ
sản của Hà Tiên như hải sâm, cá khô, tôm
khô liên tục được xuất cảng sang Trung
Quốc (Huỳnh Lứa, 2009, tr.39). Thương
cảng Hà Tiên vô cùng tấp nập, liên lạc với
Xiêm La, Cao Miên, Việt Nam, Trung
Hoa, Mã Lai.v.v. Các món hàng xuất cảng:
gạo, sáp ong, ngà voi, đồn đột, cá khô, tôm
SCIENTIFIC JOURNAL OF SAIGON UNIVERSITY No. 69 (03/2020)
68
khô, thịt bò khô,... Địa danh “Cảng Khẩu
Quốc” đã xuất hiện trong các bộ Hoàng
Thanh văn hiến thông khảo đời Thanh. Bên
cạnh đó, địa danh “Doãn Đại Mã”, “Côn
Đại Ma” (tức Sài Mạt – Bantay Méas) cũng
được ghi chú trong Gia Khánh trùng tu
nhứt thống chí và Hải Quốc văn kiến lục
(Sơn Nam, 2015, tr.51). Theo Hoàng
Thanh Văn hiến thông khảo (quyển 299)
chép: “Cung thất ở Cảng khẩu quốc không
khác gì ở Trung Quốc, từ vương cung trở
xuống đều dùng gạch và ngói lợp nhà. Chế
độ và phong tục phang phác giống nhà
Minh. Vua (chỉ những người đứng đầu họ
Mạc) để tóc dài và đội khăn, mặc long bào,
dân chúng mặc áo thụng tay, lúc để tang
mặc áo trắng. Phong tục chú trọng văn học
và giỏi làm thơ văn. Trong nước có văn
miếu, vua và nhân dân đều tôn kính”
(Trần Kinh Hòa, 1958, tr.36).
Hà Tiên nửa đầu thế kỷ XVIII là một
xã hội nho giáo ở miền duyên hải vịnh
Xiêm La, có một mức độ phát triển kinh tế
– văn hóa đã tương đối hoàn thiện. Ở Hà
Tiên (Cancao), những người đứng đầu
dòng họ Mạc cũng đã triệt để phát huy thế
mạnh của một vùng đất trù phú, dùng lúa
gạo để nhập các sản vật từ Đông Nam Á
trong đó có chì, thiếc từ bán đảo Mã Lai để
tái xuất sang Trung Quốc. Được coi là một
“tiểu Quảng Châu”, cảng Hà Tiên là điểm
đến của nhiều đoàn thuyền buôn từ Mã Lai,
Sumatra, Java, Xiêm La, Ấn Độ, Miến
Điện, Trung Quốc (Nguyễn Văn Kim,
2006, tr.137).
Trong Mạc thị Gia phả cho biết mức
độ đô hội ban đầu của Hà Tiên: “Thái
Công (tức chỉ Mạc Cửu) ngày đêm lo chiêu
tập người ở khắp hải ngoại đến buôn bán,
tàu thuyền vào ra rất nhộn nhịp, người
Việt, người Đường, người Liêu, người Man
đua nhau kéo đến trú ngụ, hộ khẩu ngày
một đông, tiếng tăm của Thái Công ngày
một lừng lẫy” (Vũ Thế Dinh, 2006, tr.15).
Năm 1736, chúa Nguyễn chuẩn cho Mạc
Thiên Tứ kế tập chức vị của cha, thăng làm
Khâm sai Đô đốc, phong tước Tông Đức
hầu: “...Ông lo sắp đặt văn võ nha thuộc,
tuyển chọn binh lính, xây dựng công thự,
đắp thành lũy, quy hoạch đường xá chợ
búa, từ đó thuyền buôn các nước đều cập
bến ấy. Ông lại tập hợp văn nhân, thi sĩ
trong ngoài nước, lập văn đàn, khuếch
trương phong hóa, giáo dục của vùng đất
Hà Tiên” (Trịnh Hoài Đức, 2005, tr.160).
Đến cuối thế kỷ XVIII, vai trò cộng
đồng người Minh Hương và người Hoa ở
Hà Tiên giảm sút vai trò do hậu quả của
chiến tranh và sự sa sút của dòng họ Mạc.
Trước sự tàn phá của quân Xiêm, đặc biệt
“và 1771 bị quân Xiêm La nhiều lần
chiếm đóng, phá sạch nhà cửa đồn bảo.
Đây là giai đoạn khiến cho cộng đồng dân
cư ở đây, trong đó có người Hoa phải xiêu
tán” (Huỳnh Ngọc Trảng, 2006, tr.10) đã
dẫn đến phố xá bị tàn phá trở thành bãi
chiến trường, của cải bị cướp bóc, dân
tình khốn khổ, xiêu tán. Những di sản của
người Hoa có được trước đó cũng bị thiêu
cháy, tàn rụi. Hà Tiên chung số phận như
các trung tâm kinh tế thương mại lớn của
Nam Bộ một thời(4) . Sau thời kỳ bị quân
Xiêm chiếm giữ (1771 – 1772), đến khi
các chúa Nguyễn giành lại, khu vực này
trong tình trạng tiêu điều xác xơ (Trần
Đức Cường, 2016, tr.146). Thậm chí đầu
thế kỷ XIX, dân Hà Tiên có những năm
đói to, phải tâu xin với vua Gia Long cho
đong thóc từ hai đạo Long Xuyên, Kiên
Giang mỗi năm tới cả 1 vạn phương. Tình
trạng này của Hà Tiên ngoài nguyên nhân
chiến tranh còn do sự sa sút vai trò lãnh
đạo của dòng họ Mạc (Trần Thị Mai,
2007, tr.97).
ĐÀO VĨNH HỢP TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN
69
4. Người Hoa ở vùng đất Hà Tiên
trong thế kỷ XIX
Năm 1810, hai huyện Kiên Giang và
Long Xuyên được đưa về lại trấn Hà Tiên.
Đồng thời, ở trấn vẫn duy trì (trực trị)
những xã thôn, phố, sở điếm, sóc lệ thuộc
trực tiếp vào trấn, gồm: 19 xã thôn người
Việt; 5 phố, sở điếm của người Hoa và 26
sóc của người Khơ–me (Trịnh Hoài Đức,
2005, tr.175,176). Đến năm 1832, vua
Minh Mạng cho thành lập tỉnh Hà Tiên, lập
phủ quản các huyện, tăng cường dân sự
hóa bộ máy hành chính, gắn kết chặt chẽ
vào nhà nước trung ương. Dấu ấn người
Hoa tại Hà Tiên trong thế kỷ XIX được thể
hiện trên các phương diện.
Hoạt động kinh tế, xã hội
Ngoài buôn bán lúa gạo và các nông
sản khác, thương nhân người Hoa ở Hà
Tiên đã làm chủ việc phân phối các mặt
hàng nhu yếu phẩm hàng ngày do các nhà
buôn từ Trung Quốc, Đông Nam Á hay
Châu Âu chuyển tới. Thống kê (một phần
số liệu có được từ cuộc đạc điền năm 1836
của chính quyền nhà Nguyễn) cho thấy
người Hoa còn tham gia vào lĩnh vực nông
nghiệp nhưng chủ yếu trồng các loại cây
hương liệu như hồ tiêu, trầu cau. Tính toàn
tỉnh có tổng số chủ vườn tiêu là 176 người:
trong đó 96 người Triều Châu, 36 người
Minh Hương, 2 Phước Kiến, 7 chủ ở phố
Lạc Hóa, 31 chủ bản thôn và 4 phụ canh
khác. Nếu tính cả những chủ “bản thôn” có
gốc gác Hoa, thì chủ vườn tiêu hầu hết là
người Hoa (Nguyễn Đình Đầu, 1994b,
tr.138). Đất trồng cau và trầu: đất trồng
vườn cau (Tư viên lang thổ) đa số chủ cũng
là người Minh Hương và người Hoa; đất
trồng trầu (Tư phù viên thổ) ở huyện Hà
Châu: xã Mỹ Đức có 1 chủ Triều Châu,
thôn Tân Thạnh với 5 chủ đều là người
Phước Kiến. Các chủ vườn đều là người
H