Đề cương ôn tập kinh tế chính trị

Chương 4: HỌC THUYẾT GIÁ TRỊ I. Hàng hóa: 1. Hàng hóa và 2 thuộc tính của hàng hóa: a) Khái niệm hàng hóa: Hàng hóa là sản phẩm của lao động, có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người và đi vào tiêu dùng thông qua trao đổi, mua bán. Vì vậy, không phải bất kỳ vật phẩm nào cũng là hàng hóa. Những vật phẩm đi vào tiêu dùng không thông qua trao đổi, mua bán thì không phải là hàng hóa. Chẳng hạn, thóc của người nông dân sản xuất để tiêu dùng cho bản thân họ thì không phải là hàng hóa. Nhưng nếu thóc đó được đem bán thì nó là hàng hóa b) Hai thuộc tính của hàng hóa: Giá trị và giá trị sử dụng * Giá trị sử dụng: - Là công dụng của hàng hóa dùng để thỏa mãn nhu cầu của con người. - Giá trị sử dụng do những thuộc tính tự nhiên của vật quy định. - Là một phạm trù vĩnh viễn (vì bất kỳ khi nào, ở đâu, vật phẩm cũng có giá trị sử dụng). - Được phát hiện dần cùng với sự phát triển của khoa học – kỹ thuật. - Chỉ thể hiện khi tiêu dùng. Nó là nội dung vật chất của của cải. - Trong nền kinh tế hàng hóa, giá trị sử dụng là vật mang giá trị trao đổi.

docx37 trang | Chia sẻ: tranhoai21 | Lượt xem: 1719 | Lượt tải: 2download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề cương ôn tập kinh tế chính trị, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Đề cương ôn tập kinh tế chính trị MỤC LỤC ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN KINH TẾ CHÍNH TRỊ Chương 4: HỌC THUYẾT GIÁ TRỊ I. Hàng hóa: 1. Hàng hóa và 2 thuộc tính của hàng hóa: a) Khái niệm hàng hóa: Hàng hóa là sản phẩm của lao động, có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người và đi vào tiêu dùng thông qua trao đổi, mua bán. Vì vậy, không phải bất kỳ vật phẩm nào cũng là hàng hóa. Những vật phẩm đi vào tiêu dùng không thông qua trao đổi, mua bán thì không phải là hàng hóa. Chẳng hạn, thóc của người nông dân sản xuất để tiêu dùng cho bản thân họ thì không phải là hàng hóa. Nhưng nếu thóc đó được đem bán thì nó là hàng hóa. b) Hai thuộc tính của hàng hóa: Giá trị và giá trị sử dụng * Giá trị sử dụng: - Là công dụng của hàng hóa dùng để thỏa mãn nhu cầu của con người. - Giá trị sử dụng do những thuộc tính tự nhiên của vật quy định. - Là một phạm trù vĩnh viễn (vì bất kỳ khi nào, ở đâu, vật phẩm cũng có giá trị sử dụng). - Được phát hiện dần cùng với sự phát triển của khoa học – kỹ thuật. - Chỉ thể hiện khi tiêu dùng. Nó là nội dung vật chất của của cải. - Trong nền kinh tế hàng hóa, giá trị sử dụng là vật mang giá trị trao đổi. * Giá trị: Muốn hiểu được giá trị hàng hóa, phải nghiên cứu từ giá trị trao đổi của nó. Giá trị trao đổi biểu hiện mối quan hệ trao đổi hàng hóa trên thị trường. Đó là mối quan hệ tỷ lệ về lượng giữa những hàng hóa có giá trị sử dụng khác nhau đem trao đổi với nhau. VD: 1m vải trao đổi với 5kg thóc. Sở dĩ vải và thóc là hai hàng hóa có giá trị sử dụng khác nhau nhưng có thể trao đổi được với nhau theo 1 tỷ lệ nhất định, vì vải và thóc là sản phẩm của lao động, có cơ sở chung là sự hao phí lao động của con người. Sự hao phí lao động đó chính là giá trị của hàng hóa. Vậy, giá trị của hàng hóa là lao động xã hội của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa đó. Giá trị trao đổi là hình thức biểu hiện của giá trị, giá trị là nội dung, là cơ sở của giá trị trao đổi. Nó phản ánh mối quan hệ giữa những người sản xuất hàng hóa. Do đó, giá trị là một phạm trù lịch sử, chỉ tồn tại trong nền kinh tế hàng hóa. Chỉ thể hiện ra khi trao đổi. Do đó, giá trị là một quan hệ xã hội, một quan hệ sản xuất. Là thuộc tính xã hội của hàng hóa. Khi tiền tệ ra đời, giá trị biểu hiện ra bằng tiền gọi là giá cả. c) Mối quan hệ giữa hai thuộc tính của hàng hóa: Hàng hóa là sự thống nhất của 2 thuộc tính giá trị sử dụng và giá trị, nhưng đây là sự thống nhất của 2 mặt đối lập. Sự thống nhất: đã là hàng hóa phải có 2 thuộc tính. Sự đối lập hay mâu thuẫn giữa hai thuộc tính: Giá trị - Mục đích của người sản xuất. - Thực hiện trên thị trường (trao đổi, mua bán). - Được thực hiện trước. Giá trị sử dụng - Mục đích của người tiêu dùng, - Thực hiện trong tiêu dùng. - Được thực hiện sau 2. Tính chất 2 mặt của lao động sản xuất hàng hóa: Sở dĩ hàng hóa có 2 thuộc tính là giá trị sử dụng và giá trị là do quá trình lao động sản xuất hàng hóa có tính chất 2 mặt. Đó là lao động cụ thể và lao động trừu tượng. a) Lao động cụ thể: - Định nghĩa: là lao động có ích dưới một hình thức cụ thể của những ngành nghề chuyên môn nhất định - Mỗi lao động cụ thể có: Mục đích riêng Đối tượng lao động riêng Công cụ lao động riêng Phương pháp lao động riêng Kết quả riêng - Lao động cụ thể tạo ra GTSD. - Lao động cụ thể là một phạm trù vĩnh viễn. - Phát triển cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật. b) Lao động trừu tượng: - Định nghĩa: Là sự hao phí sức lực của người sản xuất hàng hóa nói chung không kể các hình thức cụ thể của nó ntn. Đó là sự tiêu phí về sức óc, bắp thịt, thần kinh, bàn tay ... của người sản xuất hàng hóa. - LĐTT tạo ra giá trị hàng hóa. Do đó, giá trị hàng hóa là lao động trừu tượng của người sản xuất kết tinh trong hàng hóa đó. - LĐTT là 1 phạm trù lịch sử. - Là lao động đồng nhất và giống nhau về chất. c) Ý nghĩa của việc nghiên cứu tính 2 mặt của lao động sx hàng hóa: - Đã đem lại cho học thuyết lao động sản xuất một cơ sở khoa học thực sự. Giúp ta giải thích các hiện tượng phức tạp diễn ra trong thực tế. Sự vận động trái ngược giữa khối lượng của cải vật chất ngày càng tăng đi liền với khối lượng giá trị ngày càng giảm xuống hoặc không đổi. - Đem lại cơ sở khoa học vững chắc cho học thuyết giá trị thặng dư: giải thích nguồn gốc thực sự của giá trị thặng dư. * LĐCT và LĐTT là 2 mặt của cùng 1 quá trình. * Mâu thuẫn cơ bản của nền sản xuất hàng hóa - Trong nền sản xuất hàng hóa Lao động cụ thể biểu hiện thành lao động tư nhân. Lao động trừu tượng biểu hiện thành lao động xã hội. Mâu thuẫn cơ bản của nền sản xuất hàng hóa là mẫu thuẫn giữa lao động tư nhân và lao động xã hội. - Biểu hiện: Sản phẩm do người sản xuất nhỏ tạo ra có thể không phù hợp với nhu cầu xã hội. Hao phí lao động cá biệt của người sản xuất hàng hóa có thể cao hơn hay thấp hơn hao phí lao động mà xã hội chấp nhận. - Mâu thuẫn giữa lao động tư nhân và lao động xã hội chứa đựng khả năng sản xuất thừa. 3. Lượng giá trị hàng hóa và các nhân tố ảnh hưởng: a) Lượng giá trị của hàng hóa: Nếu giá trị là lao động xã hội của những người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa đó thì lượng giá trị chính là lượng lao động xã hội hao phí để sản xuất ra hàng hóa. Trong sản xuất hàng hóa, hao phí lao động cá biệt tạo thành giá trị cá biệt của hàng hóa. Trên thị trường, không thể dựa vào giá trị cá biệt để trao đổi mà phải dựa vào giá trị xã hội của hàng hóa. Giá trị xã hội của hàng hóa được tính bằng thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất một loại hàng hóa nào đó. Đó là thời gian cần thiết để sản xuất hàng hóa trong điều kiện sản xuất trung bình của xã hội với trình độ kỹ thuật trung bình, trình độ thành thạo trung bình, cường độ lao động trung bình. Thông thường thời gian lao động xã hội cần thiết của một loại hàng hóa nào đó gần sát với thời gian lao động cá biệt của người sản xuất đại bộ phận hàng hóa đó trên thị trường. b) Các nhân tố ảnh hưởng: Giá trị hàng hóa thay đổi phụ thuộc vào năng suất lao động. Năng suất lao động là hiệu suất của lao động được đo bằng số lượng sản phẩm tạo ra trong một đơn vị thời gian, hoặc lượng thời gian lao động hao phí để tạo ra một đơn vị sản phẩm. Năng suất lao động phụ thuộc vào trình độ kỹ thuật của người lao động, mức trang bị kỹ thuật của lao động, phương pháp tổ chức, quản lý và các điều kiện tự nhiên. Tăng năng suất lao động thể hiện ở chỗ: hao phí lao động không tăng nhưng số lượng ssanr phẩm làm ra trong một đơn vị thời gian tăng lên, do đó, giá trị của một đơn vị hàng hóa giảm xuống. Điều đó có nghĩa: giá trị của hàng hóa biến đổi tỷ lệ nghịch với năng suất lao động. Cần phân biệt tăng năng suất lao động với tăng cường độ lao động. Cường độ lao động là mức độ hao phí lao động trong một đơn vị thời gian. Tăng cường độ lao động sẽ làm tăng thêm mức hao phí lao động, và do đó, làm tăng số lượng sản phẩm một cách tương ứng, vì vậy giá trị của một đơn vị hàng hóa không thay đổi. Lao động của người sản xuất hàng hóa có trình độ thành thạo khác nhau. Nó được hia thành hai loại: lao động giản đơn là lao động không cần rèn luyện, đào tạo và lao động phức tạp là lao động phải trải qua quá trình học tập, huấn luyện thì mới có thể trở thành lao động lành nghề. Trong cùng một đơn vị thời gian, lao động phức tạp tạo ra nhiều giá trị hơn lao động giản đơn. Trong quá trình trao đổi hàng hóa, mọi lao động phức tạp đều được quy thành bội số của lao động giản đơn trung bình một cách tự phát trên thị trường. II. Quy luật giá trị: 1. Nội dung, yêu cầu của quy luật giá trị: 2. Tác dụng của quy luật giá trị: a) Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa: * Điều tiết sản xuất là điều hòa, phân bổ các yếu tố sản xuất giữa các ngành, các lĩnh vực của nền sản xuất. Thông qua sự lên xuống của giá cả hàng hóa trên thị trường, những người sản xuất sẽ di chuyển tư liệu sản xuất và sức lao động từ ngành này sang ngành khác làm cho quy mô ngành này thu hẹp, ngành khác mở rộng ra. Nếu giá cả = giá trị (cung = cầu): không di chuyển. Nếu giá cả cầu): lỗ, di chuyển đi. Nếu giá cả > giá trị (cung < cầu): lời, di chuyển đến. * Điều tiết lưu thông: Thông qua sự lên xuống của giá cả thị trường, hàng hóa sẽ được đưa từ nơi có giá cả thấp đến nơi có giá cả cao. b) Kích thích cải tiến kỹ thuật, tăng năng suất lao động, thúc đẩy lực lượng sản xuất xã hội phát triển: Quy luật giá trị yêu cầu: Hao phí lao động cá biệt phải phù hợp với lao động xã hội. Nếu HPLĐCB < HPLĐXH: lời. Nếu HPLĐCB > HPLĐXH: lỗ. Để tránh bị thua lỗ, phải giảm hao phí lao động cá biệt xuống bằng cách cải tiến khoa học kỹ thuật, tăng năng suất lao động. Nhờ đó mà lực lượng sản xuất phát triển. c) Phân hóa xã hội thành kẻ giàu, người nghèo: Quá trình cạnh tranh theo đuổi giá trị tất yếu dẫn đến: Những người có điều kiện sản xuất thuận lợi, có trình độ, kiến thức cao, trang bị kỹ thuật tốt, có hao phí lao động cá biệt thấp hơn hao phí lao động xã hội ... nhờ đó hoạt động kinh doanh của họ có lời, giàu lên nhanh chóng. Họ mua sắm thêm tư liệu sản xuất, mở rộng sản xuất kinh doanh. Ngược lại, thì thua lỗ, phá sản, nghèo. CHƯƠNG 5 : HỌC THUYẾT GTTD 1.Quá trình sản xuất ra GTTD Mục đích của sản xuất TBCN không phải là giá trị sử dụng mà là giá trị, hơn nữa không phải giá trị đơn thuần mà là GTTD. Nhưng để sản xuất ra GTTD, trước hết nhà tư bản phải sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó, vì giá trị sử dụng là vật mang giá trị trao đổi và GTTD. Vậy quá trình sản xất TBCN là sự thống nhất giữa quá trình sản xuất ra giá trị sử dụng và sản xuất ra GTTD. Đặc điểm của quá trình sản xuất TBCN: Công nhân làm việc dưới sự kiểm soát của nhà TB. Sản phẩm làm ra thuộc về nhà TB. Quá trình sản xuất ra GTTD: Ví dụ: Một nhà tư bản sản xuất sợi, ứng tư bản để mua các yếu tố sản xuất gồm: Mua 10kg bông 10$ Khấu hao máy móc 2$ Mua sức lao động 3$ (làm việc trong 12h) Tổng tư bản ứng trước: 15$ Giả định: Chỉ cần 6h đã chuyển hết 10kg bông thành sợi. Cứ 1h người CN tạo ra 1 giá trị mới là 0,5$. Quá trình sản xuất trong 6h đầu: Bằng lao động cụ thể, CN chuyển 10kg bông thành sợi và giá trị của bông chuyển sang để hình thành giá sợi 10$ Bằng lao động cụ thể, CN chuyển giá trị khấu hao máy móc sang để hình thành giá trị của sợi 2$ Bằng lao động trừu tượng, CN tạ ra giá trị mới 3$ 10kg sợi = 15$ Nếu nhà TB mang hàng hoá bán đúng giá trị sẽ thu về 15$, sẽ không có GTTD. Công nhân tiếp tục lao động trong 6h sau vì nhà TB thuê CN làm việc trong 12h. Trong 6h sau: Nhà TB ứng TB ra mua thêm các yếu tố của quá trình sản xuất gồm: 10 kg bông 10$ Khấu hao máy móc 2$ Tư bản ứng trước: 12$ Quá trình sản xuất diễn ra như trong 6h đầu. Sau 12h lao động, CN đã tạo ra 20kg sợi có giá là 30$. Nhà TB mang hàng hoá ra thị trường bán đúng giá trị sẽ thu về: 30$ - 27$ = 3$. 3$ là GTTD do CN tạo ra trong sản xuất. Rút ra KL: Quá trình sản xuất ra CNTB mang tính 2 mặt: Một mặt là quá trình sản xuất mà xã hội nào cũng có: sản xuất ra giá trị sử dụng. Mặt khác, đó là quá trình sản xuất ra gía trị nhưng không phải giá trị giản đơn mà là GTTD. Vậy: Mục đich của qúa trình sản xuất TBCN là GTTD. Lưu thông không tạo ra GTTD mà chỉ làm môi giới cho giá trị lớn lên, còn sản xuất mới quyết định và GTTD được tạo ra trong sản xuất. Giá trị hàng hoá trong các xí nghiệp gồm 2 phần: Giá trị TLSX (giá trị cũ) do lao động quá khứ tạo ra: 24$ Giá trị mới do lao động sống tạo ra : 6$ Giá trị mới > giá trị sức lao động. Phần lớn hơn này là GTTD. Sở dĩ như vậy là vì: Trong CNTB, KHKT đã phát triển, năng suất lao động đã tăng lên đến một mức độ nhất định nên người CN chỉ cần 1 phần ngày lao động đã tạo ra 1 lượng giá trị đủ để bù đắp lại giá trị sức lao động. Ngày lao động của CN gồm 2 phần: Thời gian lao động tất yếu (t) và thời gian lao động thặng dư (t’). Giá trị mới = GTSLĐ + GTTD GTHH = GT cũ + GT mới = GT TLSX + GT SLĐ + GTTD 2.TB bất biến, TB khả biến, TB cố định và TB lưu động TB bất biến và TB khả biến: Căn cứ phân chia: Dựa vào tính chất 2 mặt của lao động sản xuất. TBBB: Là TB dùng để mua TLSX hoặc tồn tại dưới dạng TLSX, còn được gọi là giá trị của TLSX. Không thay đổi trong quá trình sản xuất. Kí hiệu là c Trong quá trình sản xuất, TBBB được lao động cụ thể của CN bảo tồn và chuyển nguyên vẹn vào giá trị của sản phẩm mới. Có 2 cách di chuyển: + Di chuyển từng phần giá trị sang giá trị sản phẩm mới: máy móc, thiết bị, nhà xưởng. + Di chuyển toàn bộ giá trị sang giá trị sản phẩm mới: nguyên, nhiên, vật liệu. Dù di chuyển từng phần hay toàn bộ thì giá trị của nó vẫn không thay đổi. TBBB hay TLSX không tạo ra GTTD. TBKB: Là TB dung để mua sức lao động hay biểu hiện dưới dạng sức lao động, còn gọi là giá trị sức lao động hay tiền lương. Thay đổi trong quá trình sản xuất. Kí hiệu là v. v hay sức lao động của CN tạo ra GTTD (m). Ý nghĩa của việc phân chia Vạch rõ nguồn gốc của GTTD là do lao động làm thuê của công nhân tạo ra và bị nhà tư bản chiếm không.. Trong 2 yếu tố của quá trình sản xuất, chỉ có sức lao động hay TBKB mới tạo ra GTTD. TBBB hay TLSX rất quan trọng nhưng không tạo ra GTTD. Giá trị hàng hoá = c+v+m TB cố định và TB lưu động: Căn cứ phân chia: Phương thức chu chuyển của TB. TBCĐ: Là 1 bộ phận của tư bản sản xuất mà khi tham gia vào quá trình sản xuất thì tham gia toàn bộ nhưng giá trị của nó chỉ chuyển từng phần sang giá trị của sản phẩm mới. TBCĐ gồm có: máy móc, thiết bị, nhà xưởng. Từng phần giá trị chuyển sang giá trị sản phẩm mới là khấu hao máy móc. Hao mòn TSCĐ: + Hao mòn hữu hình: Về giá trị sử dụng: Do sử dụng TSCĐ cho sản xuất làm máy móc bị cũ kĩ, hư hỏng dần đến khi không sử dụng được. Về giá trị: Do từng phần giá trị được chuyển sang giá trị sản phẩm mới. + Hao mòn vô hình: Do KHKT phát triển, là sự giảm giá của máy cũ khi có máy mới ra đời. TBLĐ: Là 1 bộ phận của tư bản sản xuất khi tham gia vào quá trình sản xuất thì toàn bộ giá trị sẽ chuyển sang giá trị sản phẩm mới. TBLĐ gồm: nguyên, nhiên, vật liệu; sức lao động. Ý nghĩa của việc phân chia: Có ý nghĩa trong quản lí kinh tế. Một mặt, tốc độ chu chuyển của TBLĐ tăng lên sẽ làm tăng lượng TBLĐ được sử dụng trong năm, do đó tiết kiệm được tư bản ứng trước. Mặt khác, do tốc độ chu chuyển của TBLĐ khả biến làm cho tỷ suất GTTD và khối lượng GTTD hàng năm tăng lên. 3.Hai phương pháp sản xuất ra GTTD: Phương pháp sản xuất GTTD tuyệt đối: GTTD tuyệt đối là GTTD thu được do kéo dài ngày lao động vượt khỏi giới hạn thời gian lao động cầ thiết. Ngày lao động kéo dài trong khi thời gian lao động cần thiết không đổi, do đó thời gian lao động thặng dư tăng lên. Sản xuất GTTD tuyệt đối là cơ sở chung của chế độ TBCN. Phương pháp này được áp dụng phổ biến ở giai đoạn đầu của CNTB, khi lao động còn ở trình độ thủ công và năng suất lao động còn thấp. Với lòng tham vô hạn, nhà TB tìm mọi thủ đoạn để kéo dài ngày lao động, nâng cao trình độ bóc lột sức lao động làm thuê. Nhưng một mặt, do giới hạn tự nhiê của sức lực con người. Mặt khác, do đấu tranh quyết liệt của công nhân đòi rút ngắn ngày lao động, cho nên ngày lao động không thể kéo dài vô hạn. Tuy nhiên, ngày lao động không thể rút ngắn đến mức chỉ bằng thời gian lao động tất yếu. Một hình thức khác của sản xuất GTTD tuyệt đối là tăng cường độ lao động vì tăng cường độ lao động cũng giống như kéo dài thời gian lao động trong ngày, trong khi thời gian lao động cần thiết không thay đổi. Phương pháp sản xuất GTTD tương đối: GTTD tương đối là GTTD thu được do rút ngắn thời gian lao động tất yếu trên cơ sở tăng năng suất lao động xã hội. Việc tăng năng suất lao động xã hội, trước hết ở các ngành sản xuất ra vật phẩm tiêu dung, sẽ làm cho giá trị sức lao động giảm xuống, do đó làm gỉam thời gian lao động cần thiết. Khi độ dài ngày lao động không thay đổi, thời gian lao động cần thiết giảm sẽ làm tăng thời gian lao động thặng dư_thời gian để sản xuất ra GTTD tương đối cho nhà tư bản. Để giành ưu thế trong cạnh tranh, để thu được nhiều GTTD, các nhà TB đã áp dụng những tiến bộ kĩ thuật mới vào sản xuất, cải tiến tổ chức sản xuất, hoàn thiện phương pháp quản lí kinh tế, nâng cao năng suất lao động. Kết quả là, giá trị cá biệt của hàng hoá thấp hơn gái trị xã hội. Nhà TB nào thực hiện được điều đó thì khi bán hàng hoá của mình sẽ thu được 1 số GTTD trội hơn so với các nàh TB khác. Phần GTTD thu được trội hơn GTTD bình thường của xã hội gọi là GTTD siêu ngạch. Xét về toàn bộ xã hội TB, GTTD siêu ngạch là hiện tượng tồn tại thường xuyên. Vì vậy, GTTD siêu ngạch là động lực mạnh nhất thúc đẩy các nhà TB ra sức cải tiến kỹ thuật, tăng năng suất lao động. GTTD siêu ngạch và GTTD tương đối đều dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động. Cái khác nhau là ở chỗ: GTTD tương đối thì dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động xã hội; còn GTTD siêu ngạch thì dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động cá biệt. 4.Lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận và các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ suất lợi nhuận. Lợi nhuận bình quân, giá cả sản xuất. Lợi nhuận: Hao phí lao động thực tế của xã hội để sản xuất hàng hoá là: c+v+m. Đứng trên quan điểm xã hội, hao phí này tạo ra giá trị của hàng hoá. Nếu kí hiệu giá trị hàng hoá là W thì: W = c+v+m. Chi phí sản xuất TBCN là c+v. Nếu kí hiệu chi phí sản xuất TBCN là k thì: k=c+v -> W=k+m Khi c+v chuyển thành k thì số tiền nhà TB thu được trội hơn so với chi phí sản xuất TBCN. Số tiền trội hơn đó được quan niệm là sự tăng lên của toàn bộ tư bản ứng trước và gọi là lợi nhuận, ký hiệu là p. Về thực chất, lợi nhuận là hình thức biến tướng của GTTD. Lợi nhuận che giấu bản chất bóc lột của CNTB. Nguồn gốc của lợi nhuận chính là GTTD do lao động sống của CN làm thuê tạo ra. Lợi nhuận là hình thức biểu hiện của GTTD. Trong thực tế ở nhiều trường hợp cụ thể, lợi nhuận và GTTD có thể không trùng khớp nhau. Lợi nhuận có thể lớn hơn hoặc nhỏ hơn GTTD, do nó phụ thuộc vào giá bán của hàng hoá và do quan hệ cung- cầu quy định. Nhưng, xét trên phạm vi toàn xã hội, tổng số lợi nhuận bằng tổng số GTTD. Tỷ suất lợi nhuận: Tỷ suất lợi nhuận là tỷ lệ phần trăm giữa GTTD và toàn bộ TB ứng trước, kí hiệu là p’ và được xác định bằng công thức: m p’ = x 100% c + v Tỷ suất lợi nhuận (p’) khác với tỷ suất GTTD (m’) ở chỗ: + Nếu xét về lượng: p’ luôn nhỏ hơn m’. m m p’ = x 100% ; m’ = x 100% c + v v + Nếu xét về chất: p’ nói lên mức độ doanh lợi của TB đầu tư và chỉ ra cho các nhà TB thấy đầu tư vào ngành nào có lợi hơn. Còn m’ biểu hiện mức độ bóc lột của TB đối với lao động làm thuê. Các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ suất lợi nhuận: Tỷ suất GTTD: m’ càng lớn, p’ càng cao. Cấu tạo hữu cơ của TB: Cấu tạo hữu cơ càng lớn thì p’ càng nhỏ. Tốc độ chu chuyển của TB: Tốc độ chu chuyển của TB càng lớn thì số vòng chu chuyển càng nhiều, p’ càng cao. Tiết kiệm TBBB: c càng nhỏ, p’ càng cao. Lợi nhuận bình quân: Với những đặc điểm, điều kiện khác nhau nên cùng 1 lượng TB như nhau đầu tư vào các ngành sản xuất khác nhau thì tỷ suất lợi nhuận các nhà TB đạt được lại khác nhau. Vì vậy, các nhà Tb ra sức cạnh tranh kịch liệt với nhau và dẫn tới việc hình thành lợi nhuận bình quân. Trong CNTB co 2 loại cạnh tranh: Cạnh tranh trong nội bộ ngành: Là cạnh tranh gữa các xí nghiệp TBCN trong cùng 1 ngành, cùng sản xuất ra 1 loại hàng hoá nhằm thu được lợi nhuận siêu ngạch. Cạnh tranh trong nội bộ ngành được thực hiện thông qua các biện pháp cải tiến kỹ thuật, hợp lí hoá sản xuất nâng cao chất lượng hàng hoá, cải tiến mẫu mã,làm cho giá trị cá biệt của hàng hoá do xí nghiệp sản xuất ra thấp hơn giá trị xã hội để thu được lợi nhuận siêu ngạch Như vậy, kết quả cạnh tranh trong nội bộ ngành là sự hình thành giá trị thị trường sản phẩm. (được tính ở mức trung bình). Cạnh tranh giữa các ngành: là sự cạnh tranh giữa các xí nghiệp TBCN ở các ngành sản xuất khác nhau nhằm tìm nơi đầu tư có lợi hơn. Trong xã hội có nhiều ngành sản xuất khác nhau với những điều kiện sản xuất không giống nhau, do đó lợi nhuận thu được và tỷ suất lợi nhuận không giống nhau, mà mục đích của các nhà TB là lợi nhuận cao nên các nhà TB phải chọn ngành nào có tỷ suất lợi nhuận cao nhất.để đầu tư. Ví dụ: Trong nền sản xuất TBCN có 3 nhà TB đều có 100 TB đầu tư vào ngành