Câu 2: QUAN điểm duy vật macxit về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
- Khái niệm vật chất: Vật chất là 1 phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh, và tồn tại không phụ thuộc vào cảm giác.
- Khái niệm ý thức: ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc con người.
- Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức:
Chủ nghĩa duy vật Mac xit khẳng định vật chất có trước ý thức, quyết định ý thức, ý thức là cái phản ánh cho nên là cái có sau, là cái bị quyết định. Như trên chúng ta đã rõ, ý thức là một thuộc tính của một dạng vật chất sống có tổ chức cao, tổ chức đặc biệt. Đó là bộ óc con người. Do vậy, không có bộ óc người thì không thể có ý thức. Hơn nữa, ý thức tồn tại phụ thuộc vào hoạt động thần kinh của bộ não trong quá trình phản ánh thế giới khách quan.
Vật chất còn là cơ sở, nguồn gốc của những nội dung mà ý thức phản ảnh. Nghĩa là vật chất quyết định nội dung phản ánh của ý thức.
Chủ nghĩa duy vật Macxit cũng cho rằng, mặc dù vật chất quyết định ý thức, nhưng ý thức có tính năng động, sáng tạo, cho nên thông qua hoạt động thực tiến của con người có thể tác động trở lại vật chất bằng cách thúc đảy hoặc kìm hãm ở một mức độ nào đó các điều kiện vật chất, góp phần cải biến thế giới khách quan. Tuy nhiên sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất dù đến đâu chăng nữa vẫn phụ thuộc vào các điều kiện vật chất. Cho nên, xét đến cùng, vật chất luôn quyết định ý thức.
- Liên hệ.
Trong nhận thức phải nhận thức sự vật vốn như nó có, không “tô hồng, bôi đen”, phản ánh không đúng sự vật, , từ phản ánh không đúng này sẽ dẫn tới sai lầm trong hành động.
Trong hoạt động thực tiễn luôn phải xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng quy luật khách quan và hành động theo quy luật khách quan. Chúng ta không thể lấy mong muốn chủ quan thay cho thực tế khách quan, không thể hành động trước không đúng quy luật. Vì như vậy sẽ phải trả giá.
Quan điểm khách quan cũng yêu cầu trong hoạt động thực tiễn phải biết phát huy tính năng động, sáng tạo của ý thức, tinh thần trong cải tạo thế giới. Nghĩa là phải cố gắng, tích cực vươn lên, biết phát huy tối đa lực lượng vật chất hiện có. Đồng thời cũng phải tránh không rơi vào chủ nghĩa khách quan, tức là trông chờ, thụ động, ỷ lại điều kiện khách quan, không cố gắng, tích cực vượt khó vươn lên.
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta cùng với việc coi trọng phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất của nhân dân đã rất chú trọng phát triển văn hóa với tư cách nền tảng tinh thần của xã hội.
Quan điểm khách quan cũng yêu cầu phải chống bệnh chủ quan, duy ý chí, tuyệt đối hóa ý thức, tinh thần trong hoạt động thực tiễn. Thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta trước đổi mới 1986 cho thấy, chúng ta đã mắc phải bệnh chủ quan, duy ý chí trong xây dựng mục tiêu, bước đi xây dựng chủ nghĩa xã hội và cải tạo xã hội chủ nghĩa. Khắc phục những sai lầm chủ quan này, trong quá trình đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã xuất phát từ thực tiễn nước ta vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mac – Leenin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đề ra đường lối phát triển kinh tế xã hội phù hợp. Do vậy mọi mặt đời sống của nhân dân được nâng lên, vị thế của đất nước được nâng cao.
88 trang |
Chia sẻ: thanhle95 | Lượt xem: 9 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề cương ôn tập môn Những vấn đề về chủ nghĩa Mác – Lê Nin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Lịch sử đảng Cộng sản, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
TÀI LIÊU TỔ 1: MÔN những vấn đề về CN Mac – Lê Nin, Tư tưởng HCM + Lịch sử Đảng CS (Thi sáng ngày 09/3/2017)
I. KHOA LÝ LUẬN MÁC LÊ NIN – TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
Câu 1: Đồng chí hãy chỉ ra nguồn gốc, động lực của sự phát triển của sự vật? Ý nghĩa của vấn đề đối với sự phát triển của cơ quan, đơn vị.
Trả lời:
Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập hay còn gọi là quy luật mâu thuẫn là một trong ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật. Quy luật vạch ra nguồn gốc, động lực của sự vận động, phát triển, theo đó nguồn gốc của sự phát triển chính là mâu thuẩn và việc giải quyết mâu thuẫn nội tạng trong bản thân mỗi sự vật hiện tượng.
Nguyên lý về sự phát triển: Chủ nghĩa duy vật siêu hình coi phát triển chỉ là sự tăng lên về lượng đơn thuần. Chủ nghĩa duy tâm công nhận sự phát triển nhưng cho rằng ý thức, tinh thần là động lực, nguyên nhân của sự phát triển. Chủ nghĩa duy vật Macxit coi phát triển là quá trình vận động theo hướng đi lên từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện hơn. Phát triển không chỉ là sự tăng lên, giảm đi về lượng mà còn là sự nhảy vọt về chất. Nguồn gốc của sự phát triển chính là sự thống nhất và đấu tranh của những mặt đối lập bên trong sự vật quy định. Phát triển là khách quan, phổ biến và có nhiều hình thức cụ thể khác nhau. Chẳng hạn ở thế giới hữu cơ, phát triển thể hiện ở sự tăng cường khả năng thích nghi của cơ thể trước môi trường; ở khả năng tự sản sinh ra chính mình với trình độ ngày càng hoàn thiện hơn. Trong xã hội, phát triển thể hiện ở khả năng chinh phục tự nhiên, cải tạo xã hội phục vụ con người. Trong tư duy, phát triển thể hiện ở việc nhận thức ngày càng đầy đủ, đúng đắn hơn.
* Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập (quy luật mâu thuẫn):
mâu thuẫn biện chứng là sự tác động lẫn nhau của các mặt đối lập. Những mặt đối lập là những mặt có khuynh hướng, thuộc tính biến đổi, phát triển trái ngược nhau trong cùng sự vật, hiện tượng hay hệ thống sự vật, hiện tượng. Thống nhất của các mặt đối lập được hiểu theo ba nghĩa: Các mặt đối lập làm điều kiện, tiền đề tồn tại cho nhau, không có mặt này thì không có mặt kia và ngược lại; các mặt đối lập tác động ngang nhau, cân bằng nhau; giữa hai mặt đối lập có điểm chung nhau, tương đồng nhau. Đấu tranh của các mặt đối lập là sự phủ định nhau, bài trừ nhau hay sự triển khai của các mặt đối lập.
Nội dung quy luật:
Thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập có vai trò là nguồn gốc của quá trình vận động, phát triển của sự vật. Khi hai mặt đối lập thống nhất với nhau thì sự vật vận động từ từ, chậm chạp, mâu thuẫn chưa gay gắt. Nhưng xu hướng của hai mặt đối lập là đấu tranh với nhau, đi ngược nhau. Do vậy, đến một thời điểm nhất định thì cả hai mặt đối lập đều biến đổi, mâu thuẫn biến đổi. Nếu mâu thuẫn được giải quyết thì mâu thuẫn cũ mất đi làm sự vật không còn là nó. Từ sự vật cũ ra đời sự vật mới, mâu thuẫn mới lại xuất hiện. Mâu thuẫn mới này rồi lại được giải quyết. Cứ như vậy, sự vật vận động, phát triển. Như vậy, chính sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là nguồn gốc của sự vận động, phát triển của sự vật.
* Liên hệ:
Tron hoạt động tiễn cần xác định đúng mâu thuẫn. Giaỉ quyết mâu thuẫn không được chủ quan, thỏa hiệp.
Từ nguyên lý về sự phát triển, Triết học duy vật macsxit ra ý nghĩa phương pháp luận là phải có quan điểm phát triển trong nhận thức và hoạt động thực tiễn. Trong nhận thức, khi nhận thức sự vật không chỉ nhận thức nó trong hiện tại như nó mà còn phải thấy được khuynh hướng vận động, phát triển của nó trong tương lai, trên cơ sở đó dự báo những tình huống có thể xảy ra để chủ động nhận thức, giải quyết.
Ví dụ: Khi ban hành các văn bản quy phạm pháp luật thì văn bản phải có tính dự báo và có tính ổn định tương đối. Tính dự báo thể hiện văn bản không chỉ có khả năng giải quyết được những vấn đề đặt ra cho xã hội mà còn có khả năng giải quyết được những vấn đề đó trong tương lai. Vì xã hội luôn biến động và phát triển, nội dung VBQPPL không có tính dự báo thì sẽ lạc hậu ngay sau khi ban hành và điều đó làm cho văn bản không có khả năng thực hiện được.
Trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay có rất nhiều mâu thuẫn trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Đây là một vấn đề quan tâm của Đảng, Nhà nước. Xác định rõ mâu thuẫn cơ bản là cơ sở để định ra đường lối chiến lược cho cách mạng.
Đối với mỗi cơ quan đơn vị, việc hiểu và tìm ra mâu thuẫn cơ bản là cơ sở định ra nhiệm vụ lâu dài. Từ đó có kế hoạch giải quyết những mâu thuẫn chủ yếu trước mắt để từng bước tiến tới giải quyết mâu thuẫn cơ bản.
Chúng ta phải nhận thức được rằng, mâu thuẫn là hiện tượng khách quan và phổ biến, nên trong nhận thức và thực tiễn phải tôn trọng mâu thuẫn, tức là không được né tránh mâu thuẫn cũng như không được tạo ra mâu thuẫn. Vì mâu thuẫn là động lực của sự phát triển nên muốn thúc đẩy sự phát triển phải nhận thức được mâu thuẫn và tìm cách giải quyết mâu thuẫn, phải tạo ra điều kiện thúc đẩy sự đấu tranh của các mặt đối lập theo chiều hướng phát triển.
Mỗi người trong cuộc sống phải xác định được rằng, mâu thuẫn chỉ được giải quyết khi có đủ điều kiện chín muồi, do đó không được nóng vội, chủ quan, duy ý trí trong giải quyết mâu thuẫn, cũng không được để cho việc giải quyết mâu thuẫn diễn ra một cách tự phát, mà phải tích cực chủ động theo dõi quá trình phát triển của mâu thuẫn để tạo ra điều kiện chín muồi để giải quyết.
Câu 2: QUAN điểm duy vật macxit về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
- Khái niệm vật chất: Vật chất là 1 phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh, và tồn tại không phụ thuộc vào cảm giác.
- Khái niệm ý thức: ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc con người.
- Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức:
Chủ nghĩa duy vật Mac xit khẳng định vật chất có trước ý thức, quyết định ý thức, ý thức là cái phản ánh cho nên là cái có sau, là cái bị quyết định. Như trên chúng ta đã rõ, ý thức là một thuộc tính của một dạng vật chất sống có tổ chức cao, tổ chức đặc biệt. Đó là bộ óc con người. Do vậy, không có bộ óc người thì không thể có ý thức. Hơn nữa, ý thức tồn tại phụ thuộc vào hoạt động thần kinh của bộ não trong quá trình phản ánh thế giới khách quan.
Vật chất còn là cơ sở, nguồn gốc của những nội dung mà ý thức phản ảnh. Nghĩa là vật chất quyết định nội dung phản ánh của ý thức.
Chủ nghĩa duy vật Macxit cũng cho rằng, mặc dù vật chất quyết định ý thức, nhưng ý thức có tính năng động, sáng tạo, cho nên thông qua hoạt động thực tiến của con người có thể tác động trở lại vật chất bằng cách thúc đảy hoặc kìm hãm ở một mức độ nào đó các điều kiện vật chất, góp phần cải biến thế giới khách quan. Tuy nhiên sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất dù đến đâu chăng nữa vẫn phụ thuộc vào các điều kiện vật chất. Cho nên, xét đến cùng, vật chất luôn quyết định ý thức.
- Liên hệ.
Trong nhận thức phải nhận thức sự vật vốn như nó có, không “tô hồng, bôi đen”, phản ánh không đúng sự vật, , từ phản ánh không đúng này sẽ dẫn tới sai lầm trong hành động.
Trong hoạt động thực tiễn luôn phải xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng quy luật khách quan và hành động theo quy luật khách quan. Chúng ta không thể lấy mong muốn chủ quan thay cho thực tế khách quan, không thể hành động trước không đúng quy luật. Vì như vậy sẽ phải trả giá.
Quan điểm khách quan cũng yêu cầu trong hoạt động thực tiễn phải biết phát huy tính năng động, sáng tạo của ý thức, tinh thần trong cải tạo thế giới. Nghĩa là phải cố gắng, tích cực vươn lên, biết phát huy tối đa lực lượng vật chất hiện có. Đồng thời cũng phải tránh không rơi vào chủ nghĩa khách quan, tức là trông chờ, thụ động, ỷ lại điều kiện khách quan, không cố gắng, tích cực vượt khó vươn lên.
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta cùng với việc coi trọng phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất của nhân dân đã rất chú trọng phát triển văn hóa với tư cách nền tảng tinh thần của xã hội.
Quan điểm khách quan cũng yêu cầu phải chống bệnh chủ quan, duy ý chí, tuyệt đối hóa ý thức, tinh thần trong hoạt động thực tiễn. Thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta trước đổi mới 1986 cho thấy, chúng ta đã mắc phải bệnh chủ quan, duy ý chí trong xây dựng mục tiêu, bước đi xây dựng chủ nghĩa xã hội và cải tạo xã hội chủ nghĩa. Khắc phục những sai lầm chủ quan này, trong quá trình đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã xuất phát từ thực tiễn nước ta vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mac – Leenin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đề ra đường lối phát triển kinh tế xã hội phù hợp. Do vậy mọi mặt đời sống của nhân dân được nâng lên, vị thế của đất nước được nâng cao.
Câu 3. Đồng chí hãy chỉ ra cách thức vận động của sự vật, ý nghĩa của sự hiểu biết vấn đề đối với sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương.
- Nguyên lý về sự phát triển: Chủ nghĩa duy vật siêu hình coi phát triển chỉ là sự tăng lên về lượng đơn thuần. Chủ nghĩa duy tâm công nhận sự phát triển nhưng cho rằng ý thức, tinh thần là động lực, nguyên nhân của sự phát triển. Chủ nghĩa duy vật Macxit coi phát triển là quá trình vận động theo hướng đi lên từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện hơn. Phát triển không chỉ là sự tăng lên, giảm đi về lượng mà còn là sự nhảy vọt về chất. Nguồn gốc của sự phát triển chính là sự thống nhất và đấu tranh của những mặt đối lập bên trong sự vật quy định. Phát triển là khách quan, phổ biến và có nhiều hình thức cụ thể khác nhau. Chẳng hạn ở thế giới hữu cơ, phát triển thể hiện ở sự tăng cường khả năng thích nghi của cơ thể trước môi trường; ở khả năng tự sản sinh ra chính mình với trình độ ngày càng hoàn thiện hơn. Trong xã hội, phát triển thể hiện ở khả năng chinh phục tự nhiên, cải tạo xã hội phục vụ con người. Trong tư duy, phát triển thể hiện ở việc nhận thức ngày càng đầy đủ, đúng đắn hơn.
- Quy luật lượng chất là một trong ba quy luật của phép biện chứng chỉ ra cách thức của sự vận động.
+ Khái niệm chất: chất là phạm trù triết học chỉ tính quy định khách quan vốn có của các sự vật, hiện tượng; là sự thống nhất hữu cơ các thuộc tính làm cho sự vật là nó mà không phải là sự vật khác.
+ KN Lượng: Lượng là phạm trù triết học chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật, hiện tượng về mặt quy mô, trình độ phát triển, biểu thị đại lượng con số các thuộc tính, các yếu tố,...cấu thành sự vật. Lượng được thể hiện thành số lượng, đại lượng về trình độ, quy mô, nhịp điệu, tốc độ, vv...của sự vận động và phát triển của sự vật.
+ Nội dung quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất và ngược lại.
Theo triết học duy vật biện chứng, mỗi sự vật đều có sự thống nhất giữa chất và lượng. Sự thay đổi của sự vật bao giờ cũng bắt đầu từ sự thay đổi về lượng, nhưng không phải mọi thay đổi về lượng đều dẫn đến thay đổi về chất. Khoảng giới hạn mà sự thay đổi về lượng (tăng lên hoặc giảm đi) chưa làm cho chất của sự vật thay đổi được gọi là độ. Nói khác đi, độ là phạm trù triết học chỉ sự thống nhất giữa lượng và chất; là khoảng giới hạn mà trong đó, sự thay đổi về lượng (tăng lên hoặc giảm đi) chưa làm cho sự thay đổi căn bản về chất của sự vật diễn ra.
Sự thay đổi về lượng của sự vật (tăng lên hoặc giảm đi) đến giới hạn nhất định sẽ làm cho chất của sự vật thay đổi. Điểm tới hạn đó được gọi là điểm nút.
Khi có sự thay đổi về chất diễn ra do sự thay đổi về lượng trước đó gây ra được gọi là bước nhảy. Có nhiều loại bước nhảy khác nhau. Chẳng hạn, bước nhảy đột biến (chất của sự vật biến đổi một cách nhanh chóng ở tất cả các bộ phận cơ bản, cấu thành sự vật) và bước nhảy dần dần (là quá trình thay đổi về chất dienx ra bằng con đường tích lũy dần dần những nhân tố của chất mới và mất đi dần dần những nhân tố của chất cũ); bước nhảy toàn bộ (là bước nhảy làm thay đổi về chất tất cả các mặt, các bộ phận, các yếu tố cấu thanhf sự vật) và bước nhảy cục bộ (là bước nhảy làm thay đổi một số mặt, một số yếu tố, bộ phận của sự vật đó). Trong lĩnh vực xã hội thay đổi về lượng được gọi là “, tiến hóa” thay đổi về chất được gọi là “cách mạng”.
Sau khi ra đời, chất mới lại tác động trở lại tới lượng mới. Sự tác động của chất mới đến lượng mới thể hiện ở chỗ nó tác động tới quy mô, nhịp điệu, tốc độvvv của lượng mới. Tóm lại sự thống nhất giữa lượng và chất trong sự vật tạo thành độ. Những thay đổi về lượng dần dần đến giới hạn nhất định thì xảy ra bước nhảy, chất cũ bị phá vỡ, chất mới ra đời cùng với độ mới. Như vậy, sự vật phát triển theo cách thức: đứt đoạn trong liên tục.
* Liên hệ.
Trong nhận thức, khi nhận thức sự vật không chỉ nhận thức nó trong hiện tại như nó có mà còn phải thấy được khuynh hướng vận động, phát triển của nó trong tương lai. Trên cơ sở đó dự báo những tình huống có thể xảy ra để chủ động nhận thức, giải quyết.
Trong hoạt động thực tiễn cần chống bảo thủ, trì trệ, ngại đổi mới, bởi lẽ mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới luôn vận động, biến đổi và phát triển. Phát triển là khó khăn, bao gồm cả sự thụt lùi tạm thời, do vậy trong hoạt động thực tiễn khi gặp khó khăn, thất bại tạm thời phải biết tin tưởng vào tương lai.
Nhận thức sự vật phải nhận thức cả chất và lượng của nó. Muốn thay đổi chất của sự vật phải có sự thay đổi về lượng, cho nên không được chủ quan, nóng vội. Khi tích lũy về lượng đã đủ cần thực hiện bước nhảy, tránh bảo thủ, trì trệ, ngại khó. Trong hoạt động thực tiễn cần chống “tả khuynh” tức là tuyệt đối hóa bước nhảy về chất khi chưa tích lũy đủ về lượng. Đồng thời cũng cần tránh xu hướng “hữu khuynh”, tức là tuyệt đối hóa sự tích lũy về lượng, không dám thực hiện bước nhảy về chất khi tích lũy về lượng đã đủ. Muốn giữ cho sự vật còn là nó thì phải nhận thức được giới hạn độ của nó và giữ cho sự thay đổi về lượng không vượt quá giới hạn độ cho phép.
* Liên hệ 2: Cách thức vận động phát triển của sự vật hiện tượng có ý nghĩa:
Nghiên cứu nguyên lý về sự phát triển, giúp cho chúng ta: Tránh tư tưởng nôn nóng, đốt cháy giai đoạn (chưa đủ về lượng). Khi đã chín muồi phải thực hiện bước nhảy.
Nguyên lý về sự phát triển giúp chúng ta nhận thức được bản chất của sự vật hiện tượng, được quy luật và những xu hướng của nó. Quan điểm phát triển, khắc phục tư tưởng bảo thủ trì trệ.
Quan điểm này yêu cầu khi phân tích sự vật phải xét nó như một quá trình; đặt nó trong sự vận động, sự phát triển mới nắm được quy luật và những xu hướng của nó. Quan điểm phát triển còn bao hàm yêu cầu khi xét sự vật trong từng giai đoạn cụ thể của nó nhưng không được tách rời với các giai đoạn khác mà phải liên hệ chúng với nhau mới có thể nắm được logic của toàn bộ tiến trình vận động sự vật. Quan điểm phát triển cũng đòi hỏi tinh thần lạc quan tích cực trong thực tiễn, khắc phục mọi sự trì trệ bảo thủ.
Đối với bản thân khôg ngừng học tập nâng cao trình độ, trau dồi thêm kiến thức, học tập kinh nghiệm của đồng ghiệp để đat được mục tiêu ,Xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ, .. liên quan trực tiếp đến .. uy tín của Đảng và nhà nước cho nên hoạt động của .. có tác dụng .
Đòi hỏi có sự phối hợp cả trong lực lượng và ngoài xã hội.
Không dừng lại ở hiện tượng mà phải hiểu rõ bản chất .
Phải tăng cường công tác tuyên truyền vân động nghiên cứu nắm tình hình, từ đó tổng kết nâng cao thành lý luận quan diểm chỉ đạo thực tiễn.
Không ngừng học tập nâng cao trình độ mọi mặt. Vì thực trạng đội ngũ cán bộ công chức viên chức thực sự trong sạch, vững mạnh và luôn tự kiểm điểm nhìn nhận kiểm điểm bản thân ...
Câu 4. Sinh thời Chủ tịch HCM đưa ra thực tiễn mà không có lý luận, lý luận mà không có thực tiễn....Bằng lý luận và thực tiễn đã được học Đ/c Hãy chứng minh luận điểm trên.
Trả lời
- KN thực tiễn: Theo chủ nghĩa duy vật biện chứng: thực tiễn là hoạt động vật chất – cảm tính, mang tính lịch sử, có mục đích của con người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội.
- KN lý luận: lý luận là hệ thống những tri thức được khái quát từ kinh nghiệm thực tiễn, phản ánh những mối liên hệ bản chất, tất nhiên, mang tính quy luật của các sự vật hiện tượng trong thế giới và được biểu đạt bằng hệ thống nguyên lý, quy luật, phạm trù.
- Vai trò của thực tiễn đối với lý luận
Thực tiễn là cơ sở, động lực của nhận thức, lý luận. Thông qua và bằng hoạt động thực tiễn con người tác động vào sự vật làm cho sự vật bộc lộ thuộc tính, tính chất, quy luật. Trên cơ sở đó con người có hiểu biết về chúng. Nghĩa là thực tiễn cung cấp “vật liệu” cho nhận thức. Không có thực tiễn thì không thể có nhận thức.
Thực tiễn luôn đặt ra nhu cầu, nhiệm vụ đòi hỏi nhận thức phải trả lời. Trên cơ sở đó thúc đẩy nhận thức phát triển.
Thực tiễn còn là nơi rèn luyện giác quan của con người. Các cơ quan cảm giác được rèn luyện sẽ tạo ra cơ sở cho chủ thể nhận thức hiệu quả hơn, đúng đắn hơn.
Thực tiễn còn là cơ sở chế tạo công cụ, máy móc hỗ trợ con người nhận thức hiệu quả hơn. Nhờ những công cụ, máy móc này mà con người nhận thức sự vật chính xác hơn, đúng đắn hơn. Trên cơ sở đó thúc đẩy nhận thức phát triển.
Thực tiễn là mục đích của nhận thức, lý luận.
Thực tiễn là tiêu chuẩn kiểm tra sự đúng sai của nhận thức, lý luận.
- Vai trò của lý luận đối với thực tiễn.
+ Lý luận đóng vai trò soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo thực tiễn: Nhờ những đặc trưng ưu trội so với tri thức kinh nghiệm mà lý luận có vai trò hết sức to lớn đối với hoạt động thực tiễn của con người. Lý luận khoa học, thông qua hoạt động thực tiễn của con người góp phần làm biến đổi thế giới khách quan và biến đổi chính thực tiễn.
+ Lý luận khoa học góp phần giáo dục, thuyết phục, động viên, tập hợp quần chúng để tạo thành phong trào hoạt động thực tiễn của con người góp phần làm biến đổi thế giới khách quan và biến đổi chính thực tiễn.
+ Lý luận đóng vai trò định hướng, dự báo cho hoạt động thực tiễn, giúp hoạt động thực tiễn chủ động, tự giác, giúp cho hoạt động thực tiễn bớt mò mẫm, vòng vo, chủ động, tự giác hơn.
- Liên hệ.
Nhận thức sự vật phải gắn với nhu cầu thực tiễn của con người, xuất phát từ thực tiễn địa phương, ngành, đất nước.
Nghiên cứu lý luận phải liên hệ với thực tiễn, học phải gắn với hành.
Phải chú trọng công tác tổng kết thực tiễn để bổ sung, hoàn thiện phát triển lý luận cũng như chủ trương, đường lối, chính sách. Phải lấy thực tiễn làm tiêu chuẩn kiểm tra sự đúng sai của lý luận.
Trong hoạt động thực tiễn phải chủ động ngăn ngừa, khắc phục bệnh kinh nghiệm (khuynh hướng tư tưởng và hành động tuyệt đối hóa kinh nghiệm thực tiễn, coi thường, hạ thấp lý luận) và bệnh giáo điều (khuynh hướng tư tưởng và hành động tuyệt đối hóa lý luận, coi thường hạ thấp kinh nghiệm thực tiễn hoặc vận dụng kinh nghiệm của người khác, ngành khác, địa phương khác, nước khác không tính tới điều kiện thực tiễn cụ thể của mình).
Trong công tác, mỗi cán bộ phải gương mẫu thực hiện phương châm “nói đi đôi với làm”, tránh nói một đằng, làm một nẻo; nói nhiều làm ít, nói mà không làm...
Câu 5. Sự tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng
- KN Cơ sở hạ tầng là tổng hợp những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế của một xã hội nhất định. Cơ sở hạ tầng hình thành một cách khách quan trong quá trình sản xuất vật chất của xã hội.
- KN Kiến trúc thượng tầng là toàn bộ những quan điểm chính trị, pháp luật, triết học, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật với những thể chế tương ứng (nhà nước, đảng phái, giáo hội, các đoàn thể...) được hình thành trên một cơ sở hạ tầng nhất định.
CSHT quyết định KTTT , KTTT có tính độc lập tương đối tác động lại CSHT.
- Mối quan hệ biện chứng giữa CSHT và KTTT
CSHT và kttt là hai mặt thống nhất biện chứng trong một hình thái KTXH.
Trong sự tác động biện chứng giữa CSHT và KTTT thì CSHT quyết định KTTT.
CSHT quy định tính chất của KTTT. Nói cách khác, tính chất xã hội, giai cấp của KTTT phản ánh tính chất xã hội, giai cấp của cơ sở hạ tầng. Bộ mặt KTTT trong đời sống xã hội luôn được biểu hiện ra một cách phong phú, phức tạp và đôi khi dường như không trực tiếp gắn với CSHT. Đó chỉ là biểu hiện bề ngoài, còn thực chất ngay cả những hiện tượng lạ lùng nhât của KTTT cũng đều có nguyên nhân sâu xa từ cơ cấu kinh tế của xã hội.
Mâu thuẫn trong đời sống kinh tế quy định tính chất mâu thuẫn trong lĩnh vực chính trị, tư tưởng. Trong XH có giai cấp ,