Đề tài Nghiên cứu và dạy - Học lịch sử địa phương ở Việt bắc

Nhà trường phổthông có trách nhiệm lớn trong việc giáo dục thếhệtrẻtheo Di chúc của Chủtịch HồChí Minh "Bồi dưỡng thếhệcách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết” (1) . Bộmôn Lịch sửcó vịtrí quan trọng đối với công cuộc giáo dục này, nhưTổng Bí thư ĐỗMười đã khẳng định: "Phải coi trọng giáo dục lịch sửdân tộc, lịch sửcách mạng, lịch sửquân đội, phải in nhiều sách lịch sửphổbiến rộng, phải coi lịch sửlà tài liệu giáo khoa sốmột trong nhà trường... Nếu không làm tốt giáo dục lịch sử, thanh niên sẽchạy theo đồng tiền, chạy theo lợi ích khác, có hại cho sựnghiệp chung” (2) . Tiếc rằng, ởnước ta trong nhiều năm qua môn Lịch sử bịxem là "môn phụ", hiện nay lại bịtác động tiêu cực của cơchếthịtrường nên tụt xuống hàng cuối của thang giá từ các môn học ởtrường phổthông. Tình trạng trên cần sớm chấm dứt vềnhững quan niệm sai lầm đối với bộmôn và bằng nhiều biện pháp có hiệu quả đểnâng cao chất lượng dạy và học. Một trong những biện pháp có ý nghĩa quan trọng vềlý luận và thực tiễn đối với giáo dục lịch sửlà tổchức tốt cho việc dạy, học Lịch sử ở địa phương, theo chương trình đã quy định. Trên thực tế, hiện nay không ít giáo viên còn gặp những khó khăn, lúng túng khi thực hiện các tiết lịch sử địa phương, nên hiệu quả, chất lượng dạy học còn thấp.

pdf162 trang | Chia sẻ: oanh_nt | Lượt xem: 4892 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Nghiên cứu và dạy - Học lịch sử địa phương ở Việt bắc, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TS ĐỖ HỒNG THÁI NGHIÊN CỨU VÀ DẠY - HỌC LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG Ở VIỆT BẮC 2 LỜI GIỚI THIỆU Nhà trường phổ thông có trách nhiệm lớn trong việc giáo dục thế hệ trẻ theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh "Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”(1). Bộ môn Lịch sử có vị trí quan trọng đối với công cuộc giáo dục này, như Tổng Bí thư Đỗ Mười đã khẳng định: "Phải coi trọng giáo dục lịch sử dân tộc, lịch sử cách mạng, lịch sử quân đội, phải in nhiều sách lịch sử phổ biến rộng, phải coi lịch sử là tài liệu giáo khoa số một trong nhà trường... Nếu không làm tốt giáo dục lịch sử, thanh niên sẽ chạy theo đồng tiền, chạy theo lợi ích khác, có hại cho sự nghiệp chung”(2). Tiếc rằng, ở nước ta trong nhiều năm qua môn Lịch sử bị xem là "môn phụ", hiện nay lại bị tác động tiêu cực của cơ chế thị trường nên tụt xuống hàng cuối của thang giá từ các môn học ở trường phổ thông. Tình trạng trên cần sớm chấm dứt về những quan niệm sai lầm đối với bộ môn và bằng nhiều biện pháp có hiệu quả để nâng cao chất lượng dạy và học. Một trong những biện pháp có ý nghĩa quan trọng về lý luận và thực tiễn đối với giáo dục lịch sử là tổ chức tốt cho việc dạy, học Lịch sử ở địa phương, theo chương trình đã quy định. Trên thực tế, hiện nay không ít giáo viên còn gặp những khó khăn, lúng túng khi thực hiện các tiết lịch sử địa phương, nên hiệu quả, chất lượng dạy học còn thấp. 3 Việc giảng dạy và học tập Lịch sử địa phương đã được chú trọng từ lâu ở nhiều nước (như Liền Xỏ cũ) và ở nước ta sau cách mạng tháng Tám 1945, Lịch sử địa phương được đưa vào chương trình lịch sử của nhà trường phổ thông Việt Nam sau các cuộc cải cách giáo dục (1950, 1956, 1979) đã khẳng định vị trí, ý nghĩa của việc dạy, học Lịch sử địa phương và đạt được nhiều kết quả vè mặt nội dung và phương pháp dạy học. Cho đến nay đã có nhiều quyển sách biên soạn về lịch sử địa phương, như "Công tác ngoại khoá Lịch sử ở trường cấp II, III” của Phan Ngọc Liên, Nguyễn Phan Quang, Trần Văn Trị (1968), quyển "Lịch sử địa phương" của Trương Hữu Quýnh, Phan Ngọc Liên... (1989) và nhiều quyển khác của Nguyễn Cảnh Minh, Trịnh Tùng, Nguyễn Thị Côi, Trần Đức Minh... Một số Sở Giáo dục và Đào tạo (Nam Hà, Hà Bắc, Hà Tây, Hải Phòng, Quảng Bình, Hà Tĩnh, Bình Định...) đã tổ chức biên soạn tập bài giảng về Lịch sử địa phương. Như vậy Đô Hồng Thái đã tiếp thu được nhiều thành tựu nghiên cứu của Lịch sử địa phương về mặt quan điểm lý luận cũng như nội dung và phương pháp dạy học. Tuy nhiên, phần đóng góp của tác giả không nhỏ trong việc ông hợp, hệ thông hoá và nâng cao những vân để khoa học về lịch sử địa phương, tạo điều kiện cho các giáo viên các trường trung học phổ thông, đặc biệt ở vùng Việt Bắc, làm tốt hơn một công việc quan trọng được qui định trong 4 chương trình lịch sử ở trường trung học phổ thông. Hơn1 nữa, Đỗ Hồng Thái đã có khá nhiều thành tựu và kinh nghiệm trong việc nghiên cứu Lịch sử địa phương, nên sách này cũng phản ánh những hiểu biết (lý luận và thực tế), kỹ năng nghiệp vụ khá thành thạo của mình, làm cho sách thêm sinh động, phong phú, bổ ích và hứng thú đối với giáo viên. Sách cấu tạo thành 2 phần một cách hợp lý về nội dung và cân đối về bố cục: Phần thứ nhất trình bày những vân để cơ bản về lịch sử địa phương: Khái niệm, vị trí, ý nghĩa của việc nghiên cứu, dạy học ở trường phổ thông... Phần thứ hai tập trung nêu rõ những công việc cụ thể mà giáo viên và học sinh cần tiến hành trong nghiên cứu và dạy học Lịch sử địa phương. Thông qua việc trình bày những quan điểm, lý luận, tác giả dẫn chứng nhiều sự kiện, tài liệu lịch sử cụ thể, chủ yếu ở Việt Bắc để người đọc nhận thức cụ thể và thấy rõ cách làm. Người đọc dễ dàng nhận thấy những vấn để lớn, cơ bản được trình bày trong sách của Đỗ Hồng Thái: - Vị trí và mối quan hệ của Lịch sử địa phương đối với (1). Hồ Chí Minh – Toàn tập, Tập X, NXB Sự thật. Hà Nội, 1989 tr.862 (2). Xem tập Xưa và nay, số tháng 7 – 1996. trang 4. 5 Lịch sử dân tộc, đó là một bộ phận không tách rời của lịch sử dân tộc. Do đó, việc học Lịch sử địa phương là cẩn thiết nó không chỉ bổ sung, làm phong phú, cụ thể hoá bức tranh sinh động của Lịch sử dân tộc mà Còn có tác dụng to lớn trong việc giáo dục lòng tự hào, yêu qúi quê hương - một nội dung quan trọng của lòng yêu nước - và xác định trách nhiệm đối với việc xây dựng và bảo vệ quê hương. - Việc dạy học Lịch sử địa phương ở trường PTTH thực sự là một công tác khoa học đòi hỏi tính khoa học cao, tính Đảng sâu sắc, tính nhân dân rộng lớn, tính nghiệp vụ và giáo dục. Cần phải quán triệt những nguyên tắc cơ bản sau: + Thể hiện tính chính xác, toàn diện, hệ thống. + Đứng vững trên quan điểm phương pháp luận Mác- xít Lêninnít và tư tưởng Hồ Chí Minh. + Đảm bảo những yêu cầu của việc giáo dục Lịch sử ở trường phổ thông về mặt giáo dưỡng (kiến thức), giáo dục (quan điểm tư tưởng - chính trị, phẩm chất, đạo đức) và phát triển (nhận thức và hành động). Thực hiện tốt những yêu cầu này sẽ thu được những kết quả trong việc cung cấp kiến thức, giáo dục tư tưởng, tình cảm, phát huy năng lực độc lập học tập của học sinh và đạt được giá trị của việc dạy học. + Ngoài việc tuân thủ những quan điểm tư tưởng - chính trị, khoa học của việc nghiên cứu Lịch sử, việc quán 6 triệt và thực hiện có hiệu quả cao công tác vận động quần chúng là yêu cầu quan trọng có tính nguyên tắc trong nghiên cứu Lịch sử địa phương. + Việc nghiên cứu và dạy, học lịch sử địa phương đòi hỏi sự nỗ lực của bản thân giáo viên kết hợp việc phát huy năng lực độc láp sáng tạo của học sinh, sự cộng tác, giúp đỡ của quần chúng, các cơ quan lãnh đạo, tổ chức văn hoá khoa học của địa phương và trung ương. Cần xác định rõ ràng, cùng với việc nghiên cứu những vấn để về giáo dục Lịch sử (phương pháp dạy, học Lịch sử) việc nghiên cứu Lịch sử địa phương là nhiệm vụ, ưu thế của giáo viên phổ thông. Công việc này không chỉ giúp giáo viên làm tốt nhiệm vụ giáo dục của mình, mà còn có những đóng góp nhất định với địa phương (biên soạn lịch sử địa phương, xây dựng nhà truyền thông, bảo tàng Lịch sử, Cách mạng...) và việc nghiên cứu Lịch sử dân tộc (đặc biệt những sự kiện có liên quan đến Lịch sử dân tộc). Với tư cách là nhà giáo dục Lịch sử Đỗ Hồng Thái đã dành một phần quan trọng trình bày về việc nghiên cứu, dạy, học Lịch sử địa phương ở trường phổ thông trung học. Từ đặc điểm, vị trí, nội dung của Lịch sử địa phương và mối quan hệ với lịch sử dân tộc (trong một chừng mực nhất định với lịch sử thế giới), tác giả đã trình bày việc sử dụng tài liệu Lịch sử địa phương (dạy 1 tiết riêng, minh hoạ, cụ thể hoá, liên hệ thực tế trong bài học Lịch sử dân tộc) và các hình thức, phương pháp tiến hành một bài nội khoá (trên lớp và tại thực địa) và những hoạt động ngoại khoá 7 (sưu tầm tài liệu, biên soạn Lịch sử, xây dựng nhà bảo tàng, truyền thống, dạ hội Lịch sử, công tác công ích xã hội...) Những quan điểm lý luận, kinh nghiệm thực tế và nghiệp vụ sư phạm được trình bày tương đối đầy đủ, có hệ thống trong sách này rất bổ ích đối với giáo viên lịch sử. Sách còn là tài liệu tham khảo tốt cho sinh viên các trường đại học và cao đẳng sư phạm (hệ tập trung, giáo dục từ xa...). Vì vậy, sách sẽ được hoan nghênh và nhận được nhiều ý kiến bổ ích của đông đảo bạn đọc. Hội Giáo dục Lịch sử (thuộc Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam) đã đóng góp phần nhỏ vào việc hoàn chỉnh và ra đời quyển sách này và xem như trách nhiệm của mình trong việc động viên, khuyến khích tất cả hội viên và tổ chức cơ sở của Hội tiến hành những công việc tương tự. Xin trân trọng giới thiệu với đông đảo bạn đọc trong và ngoài ngành giáo dục Lịch sử. GS. PHAN NGỌC LIÊN Chủ tịch Hội đồng bộ môn Lịch sử Bộ Giáo dục và Đào tạo Chủ tịch Hội Giáo dục Lịch sử Việt Nam. 8 PHẦN THỨ NHẤT KHÁI LUẬN VỀ LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG Trong xu thế phát triển chung của thời đại ngày nay, các quốc gia, các dân tộc đều vươn lên cập nhật và hoà đồng với sự tiến bộ của nhân loại, mặt khác ngày càng phát huy để bảo tồn nét độc đáo có tính đặc thù của dân tộc mình. Chính vì vậy việc nghiên cứu, dạy học lịch sử ở nước ta hiện nay đã được đổi mới trên tất cả các mặt: chương trình, nội dung, phương pháp nghiên cứu và dạy học. Dân tộc Việt Nam tự hào về những trang sử vẻ vang của mình được nêu qua các tác phẩm tiêu biểu: "Đại Việt sử ký toàn thư", "Việt sử Thông giám cương mục", "Đại Nam thực lục" v.v... cùng các nhà sử học nổi tiếng ở các triều đại phong kiến: Lê Văn Hưu, Ngô Sĩ Liên, Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú, và lại càng tự hào về nền sử học nước nhà trong mấy chục năm qua. Lịch sử là tất cả những gì đã xẩy ra trong quá khứ, nhưng nhận thức đúng về nó thì không chỉ có hiểu biết hiện tại mà còn cả tương lai. Tính khách quan của lịch sử cần được lịch sử kiểm chứng. Chính nhận thức vô hạn của con người qua các thế hệ đã làm cho lịch sử của chính mình ngày càng hoàn thiện hơn. Phản ánh đúng đắn và toàn diện về lịch sử đang và luôn là những đòi hỏi khách quan bức xúc. Lịch sử dân tộc cũng đang cần được bổ sung bằng chính sự nghiên cứu sâu sắc lịch sử ở các địa phương. Sự kiện, hiện tượng lịch sử đang cần được đặt đúng trong hoàn cảnh lịch sử và đúng vị trí không gian của nó. 9 Những năm gần đây, việc nghiên cứu, biên soạn lịch sử địa phương đã được đẩy mạnh, góp phần quan trọng vào việc giáo dục tư tưởng tình cảm trong sáng lành mạnh, truyền thống tốt đẹp của địa phương cho nhân dân và thế hệ trẻ trong nhà trường. Tuy nhiên việc nghiên cứu chưa được tiến hành rộng khắp, kết quả nghiên cứu ở các khu vực miền núi (phía Bắc) chưa đáp ứng được những đòi hỏi của thực tiễn hiện nay. Hoạt động nghiên cứu lịch sử địa phương ở vùng núi còn gặp nhiều khó khăn, vì thiếu đội ngũ cán hệ chuyên môn, chưa thu hút đông đảo lực lượng tham gia nghiên cứu. Việc nghiên cứu và dạy học lịch sử đìa phương trong nhà trường phổ thông còn nhiều hạn chế, ảnh hưởng tới chất lượng dạy học bộ môn lịch sử ở nhà trường. Chính vì vậy xác định rõ mục đích, yêu cầu, ý nghĩa và trang bị phương pháp nghiên cứu, dạy học lịch sử địa phương đang là đòi hỏi bức thiết. I. KHÁI NIỆM "LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG" 1. Khái niệm "địa phương" Địa phương là những vùng đất nhất định nằm trong một quốc gia có những sắc thái đặc thù riêng, là bộ phận cấu thành đất nước. Khái niệm "địa phương" có thể hiện theo hai khía cạnh cụ thể và trừu tượng. Với nghĩa thứ nhất, có thể gọi địa phương là những đơn vị hành chính như các xã, huyện, tỉnh, thành phố. Với nghĩa thứ hai, có thể gọi "địa phương” là những vùng đất nhất định được hình thành trong lịch sử, có ranh giới tự nhiên để phân biệt với vùng đất khác (ví dụ: miền Bắc, miền Nam, khu vực Tây Bắc, 10 Việt Bắc v.v...). Cũng chính vì thế có ý kiến quan niệm theo cách đơn giản là: tất cả những gì không phải của "Trung ương" hay "Quốc gia" đều được coi là địa phương. Như vậy thủ đô của một quốc gia hay từng khu vực của thủ đô cũng được xem là địa phương. Từ nhận thức như vậy, ta có thể hiểu được tích sử địa phương cung chính là lịch sử của các làng, xã, huyện, tỉnh hay khu vực vùng miền. Lịch sử địa phương còn bao hàm ý nghĩa lịch sử của các đơn vị sản xuất, chiến đấu, các trường học, cơ quan, xí nghiệp v.v... Xét về yếu tố địa lý, các đơn vị đó đều gắn với một địa phương nhất định song nội dung của nó mang tính kỹ thuật, chuyên môn, do vậy có thể xếp nó vào dạng lịch sử chuyên ngành. Như vậy, bản thân lịch sử địa phương rất đa dạng, phong phú cả về nội dung và thể loại. 2. Đối tượng nghiên cứu: Lịch sử địa phương chưa phải là một ngành khoa học độc lập, mà chỉ là bộ phận của việc nghiên cứu lịch sử dân tộc. Tuy vậy nó cũng được xác định rõ đối tượng nghiên cứu. Từ cách định nghĩa nêu trên, lịch sử địa phương có ba đối tượng nghiên cứu chủ yếu sau đây: Nghiên cứu các đơn vị hành chính của một quốc gia: các thôn, xã huyện, tỉnh, thành phố v.v... Với loại đối tượng này, lịch sử địa phương nghiên cứu toàn diện các hoạt đọng của con người (kinh tế, văn hoá, chính trị, quân sự, tư tưởng, tôn giáo v.v...) Ở một địa phương. Những mặt đó 11 gắn liền với quá trình hình thành, ổn định và phát triển của địa phương; mặt khác nó được xem xét đánh giá trong bối cảnh chung của lịch sử dân tộc. Trên cơ sở đó khai thác nét độc đáo, đặc thù của địa phương, những giá trị vật chất và văn hoá tinh thần, những đóng góp quý báu để xây dựng truyền thống chung, bổ sung hoàn chỉnh hoá lịch sử dân tộc. Lịch sử địa phương còn phản ánh một cách chuẩn xác, toàn diện, khách quan quá trình phát triển của địa phương với cả những mặt tích cực và hạn chế, thất bại và thành công, đảm bảo giá trị khoa học để giáo dưỡng và giáo dục. Nghiên cứu về đối tượng này, có nhiều thể loại phong phú, chẳng hạn: + Thông sử địa phương. + Lịch sử Đảng bộ địa phương. + Lịch sử phong trào cách mạng địa phương. + Lịch sử phát triển kinh tế, văn hoá ở địa phương. + Những truyền thống tốt đẹp của địa phương trong lịch sử v.v… - Lịch sử địa phương nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng lịch sử ở một vùng có liên quan tới những sự kiện, biến cố trong lịch sử dân tộc, chẳng hạn: sự kiện Nhật đảo chính Pháp (9.3.1945); Cuộc cách mạng tháng Tám; Việc thực hiện chủ trương triệt để giảm tô, tiến hành cải cách ruộng đất ở một địa phương (1953-1954). Cũng có thể đi sâu nghiên cứu vê một cuộc khởi nghĩa, một chiến dịch, 12 một trận đánh, một nhân vật lịch sử nổi tiếng v. v... Những đối tượng như vậy thường được đi sâu nghiên cứu, trình bầy dưới dạng các chuyên khảo. - Nghiên cứu các đơn vị sản xuất (nông trường, lâm trường, xí nghiệp, nhà máy), nghiên cứu các cơ quan, ngành, trường học, các tổ chức đoàn thề quần chúng (tổ chức Đoàn thành niên, Phụ nữ, Mặt trận Tổ quốc, ngành Bưu điện, Giao thông v.v...). Đây là lịch sử các chuyên ngành. Ở loại đối tượng này, thường được trình bầy sự phát triển hoặc lịch sử truyền thống ngành. II. VỊ TRÍ CỦA CÔNG TÁC NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG 1. Quan hệ giữa lịch sử địa phương và lịch sử dân tộc. Đây là mối quan hệ biện chứng không thể tách rời nằm trong cặp phạm trù "Cái chung và cái riêng". Tri thức lịch sử địa phương là biểu hiện cụ thể, sinh động, đa dạng của tri thức lịch sử dân tộc Lịch sử địa phương là bộ phận cấu thành lịch sử dân tộc. Nói vậy không có nghĩa một công trình nghiên cứu lịch sử dân tộc là kết quả của phép tính cộng các cuốn lịch sử địa phương. Lịch sử dân tộc được hình thành trên nền tảng khối lượng tri thức lịch từ địa phương đã được khái quát và tổng hợp ở mức độ cao. Bất cứ một sự kiện, hiện tượng lịch sử nào xẩy ra đều mang tính chất địa phương, bởi nó gắn với một vị trí không gian cụ thể ở một hoặc một số địa phương nhất định. Tuy 13 nhiên, nhưng sự kiện, hiện tượng đó có tính chất, qui mô, mức độ ảnh hưởng khác nhau. Có nhưng sự kiện, hiện tượng chỉ có tác dụng, ảnh hưởng ở một phạm vi nhỏ hẹp của địa phương, nhưng có những sự kiện, hiện tượng xảy ra có mức độ ảnh hưởng vượt khỏi khung giới địa phương, mang ý nghĩa rộng đối với quốc gia, thậm chí đối với cả thế giới. Chính vì vậy có những sự kiện lịch sử địa phương gắn liền với lịch sử dân tộc hoặc rộng hơn là lịch sử thế giới(1). Không chỉ riêng các nhà sử học chuyên nghiên cứu sâu về lịch sử, mỗi con người (ở mức độ khác nhau) đều có nhu cầu tìm hiểu về cuộc sống và những ví trí không gian khác nhau. Tri thức lịch sử sẽ làm giàu thêm tri thức của cuộc sống con người. Bài học lịch sử luôn chỉ cho con người biết cách hoạt động đúng đắn trong hiện tại và tương lai. Lịch sử thực sự là "cô giáo của cuộc sống". Chính vì lẽ đó, sự am tường về lịch sử dân tộc còn bao hàm cả sự hiểu biết cần thiết về lịch sử địa phương, hiểu biết về lịch sử của chính miền quê, xứ sở, nơi chôn nhau cắt rốn của mình, hiểu rõ mối quan hệ của lịch sử ở địa phương với lịch sử của dân tộc và rộng lớn là lịch sử thế giới. 2. Lịch sử địa phương với việc giảng dạy Lịch sử ở trường phổ thông. Việc nghiên cứu lịch sử địa phương có ý nghĩa quan trọng trong việc góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục ở trường phổ thông. Thông qua công tác nghiên cứu lịch sử địa phương, hoạt động của nhà trường có điều kiện để gắn liền với xã hội, lý luận đi đôi với thực hành. Việc nghiên cứu lịch sử địa phương còn bồi dưỡng cho 14 các em học sinh nhưng kỹ năng cần thiết trong việc vận dụng tri thức vào giải quyết những nhiệm vụ cụ thể mà thực tiễn đang đòi hỏi. Đây là công tác nghiên cứu khoa học, cần phải có ý thức nghiêm túc, sự say mê, sáng tạo, có kỹ năng phân tích, so sánh, đánh giá, khái quát tổng hợp. Nhưng đòi hỏi đó góp phần rèn luyện và phát triển năng lực học tập và nghiên cứu của học sinh. Từ hoạt động thực tiễn đó, các em thấy được sự phát triển đa dạng sinh động, phức tạp và thú vị của lịch sử ở các địa phương, thấy được mối quan hệ chặt chẽ của lịch sử địa phương và lịch sử dân tộc, thấy được nét độc đáo, đặc thù của lịch sử địa phương, song vẫn tuân thủ theo qui luật phát triển chung của lịch sử dân tộc và lịch sử nhân loại. Những kết quả nghiên cứu lịch sử địa phương của thầy, trò trong nhà trường vừa là nguồn tài liệu phục vụ công tác dạy học lịch sử, vừa giúp cho các địa phương có những tài liệu bổ ích để động viên, tuyên truyền, giáo dục nhân dân và trong chừng mực góp phần thực hiện những mục tiêu kinh tế, xã hội ở địa phương. Hoạt động nghiên cứu lịch sử địa phương như nhịp cầu nối tình cảm của nhà trường với nhân dân địa phương cung là biện pháp để khai thác sức sáng tạo tiềm tàng của quần chúng cách mạng. Nguồn tài liệu lịch sử địa phương, với những loại hình đa dạng phong phú, sinh động là cơ sở cho việc tạo những biểu tượng lịch sử và hiểu sâu sắc các khái niệm, các sự kiện, hiện tượng ở bài học lịch sử. Tri thức lịch sử địa phương có ý nghĩa giáo dục sâu sắc, lòng tự hào chân chính về những truyền thống tốt đẹp của địa phương, tình yêu quê hương, xứ sở, ý thức bảo vệ, giữ gìn di sản văn hoá, di tích lịch sử v.v... 15 Với những ý nghĩa đó, nghiên cứu lịch sử địa phương giữ vị trí quan trọng trong nhà trường. Mỗi địa phương luôn là nguồn cảm hứng đối với việc nghiên cứu lịch sử. III. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG HIỆN NAY. 1. Việc nghiên cứu lịch sử địa phương trên thế giới: Ở các nước phát triển, công tác nghiên cứu về địa phương rất được chú trọng: Ngành "địa phương học" đã thu hút hoạt động nghiên cứu trên tất cá các lĩnh vực kinh tê, xã hội, điều kiện tự nhiên ở các địa phương. Các chuyên ngành nghiên cứu về lịch sử dân tộc học, ngôn ngữ, văn học dân gian, địa lý v.v... của môn "địa phương học" đã đem lại những kết quả chính xác, là cơ sớ đáng tin cậy cho việc hoạch định và thực thi những nhiệm vụ kinh tế - xã hội của từng địa phương trong chiến lược tổng thể của quốc gia. Nghiên cứu địa phương không chỉ là hoạt động riêng của các nhà khoa học thuộc các chuyên ngành mà còn thu hút đông đảo lực lượng giáo viên, học sinh và những người yêu thích, am tường về địa phương, các khu vực, các lĩnh vực tham gia. Những hội nghị khoa học về địa phương đều chú ý tới phương pháp luận của việc nghiên cứu, phương pháp sưu tầm và xử lí các nguồn tài liệu, phương pháp ứng dụng kết quả nghiên cứu để giải quyết những yêu cầu của thực tiễn. Ở nhiều nước, đặc biệt là khu vực Đông Nam Á lịch sử địa phương đã gắn chặt với hoạt động của ngành du lịch. Chính vì vậy, môi trường sinh thái nói chung, môi 16 trường văn hoá nói riêng được bảo việc chặt chẽ, vốn văn hoá độc đáo, đặc thù trong lịch sử được khai thác một cách hợp lý, vừa có ý nghĩa lớn về mặt chính trị, vừa có hiệu quả kinh tế cao. Nga là một trong những nước tiến hành việc
Tài liệu liên quan