Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh bậc tiểu học: Cần tăng cường các giải pháp

Từ năm học 2010-2011, Bộ GD-ĐT đưa nội dung giáo dục kỹ năng sống (KNS) lồng ghép vào các môn học ở bậc tiểu học. Đây là một chủ trương cần thiết và đúng đắn. Tuy nhiên, để giáo dục KNS cho học sinh (HS) đạt hiệu quả đòi hỏi nhiều yếu tố chứ không chỉ từ các bài giảng. Học để tự tin, tự lập Giáo dục KNS cho HS là một nội dung được đông đảo phụ huynh và dư luận quan tâm, bởi đây là một chương trình giáo dục hết sức cần thiết đối với HS. Thật ra, việc giáo dục KNS cho HS được ngành GD-ĐT đặt ra từ lâu, nhưng lâu nay do Bộ GD-ĐT chưa ban hành bộ chuẩn về giáo dục KNS cho HS để định hướng chung nên mỗi trường dạy mỗi kiểu. Cùng với đó, việc giáo dục kỹ năng này tại các trường học mới chỉ dừng lại ở các tiết học về giáo dục công dân. Từ năm học 2010-2011, Bộ GD-ĐT chủ trương đưa nội dung giáo dục KNS đại trà vào các trường bằng cách tích hợp vào các môn học và các hoạt động ngoài giờ lên lớp.

doc14 trang | Chia sẻ: franklove | Lượt xem: 11374 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh bậc tiểu học: Cần tăng cường các giải pháp, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh bậc tiểu học: Cần tăng cường các giải pháp Theo www.baobinhduong.org.vn – 3 tháng trước Từ năm học 2010-2011, Bộ GD-ĐT đưa nội dung giáo dục kỹ năng sống (KNS) lồng ghép vào các môn học ở bậc tiểu học. Đây là một chủ trương cần thiết và đúng đắn. Tuy nhiên, để giáo dục KNS cho học sinh (HS) đạt hiệu quả đòi hỏi nhiều yếu tố chứ không chỉ từ các bài giảng. Học để tự tin, tự lập Giáo dục KNS cho HS là một nội dung được đông đảo phụ huynh và dư luận quan tâm, bởi đây là một chương trình giáo dục hết sức cần thiết đối với HS. Thật ra, việc giáo dục KNS cho HS được ngành GD-ĐT đặt ra từ lâu, nhưng lâu nay do Bộ GD-ĐT chưa ban hành bộ chuẩn về giáo dục KNS cho HS để định hướng chung nên mỗi trường dạy mỗi kiểu. Cùng với đó, việc giáo dục kỹ năng này tại các trường học mới chỉ dừng lại ở các tiết học về giáo dục công dân. Từ năm học 2010-2011, Bộ GD-ĐT chủ trương đưa nội dung giáo dục KNS đại trà vào các trường bằng cách tích hợp vào các môn học và các hoạt động ngoài giờ lên lớp. Những buổi sinh hoạt ngoại khoá của trường tiểu học Dĩ An luôn thu hút đông đảo các em học sinh Lo lắng trước những cảnh báo về một lớp trẻ thiếu KNS, tranh thủ những tháng nghỉ hè vừa qua, không ít phụ huynh bên cạnh việc cho con đi học ngoại ngữ, năng khiếu, thể thao... cũng ráo riết tìm kiếm những trung tâm huấn luyện KNS cho trẻ với kỳ vọng: Trẻ sẽ có đủ tự tin, bản lĩnh để vững bước vào đời. Do đó, việc đưa KNS vào trường học trong năm học này được nhiều phụ huynh tán thành. Bà Trần Thị Hoài Thu, một phụ huynh nhận định: “Tôi nghĩ KNS thực sự không phải là những gì quá cao siêu, phức tạp. Việc giáo dục KNS cho trẻ em bao gồm những nội dung hết sức đơn giản, gần gũi với trẻ em, là những kiến thức tối thiểu để các em có thể tự lập... Và mục đích quan trọng nhất là giúp các em tự tin hơn, tự lập hơn trong cuộc sống”. Cô Huỳnh Lê Mai, một giáo viên tiểu học thì cho rằng: Để rèn luyện KNS nên cho HS chơi những trò chơi tương tác, những trò chơi dân gian để các em rèn luyện tính tập thể, khả năng làm việc nhóm; cho HS đi tham quan các di tích lịch sử; tham gia các trò chơi vận động... để từ đó xây dựng tinh thần chia sẻ, ý thức trách nhiệm. KNS sẽ được hình thành một cách tự nhiên và hiệu quả trong chính những môi trường hoạt động cụ thể như vậy chứ không phải chỉ từ những bài giảng trên lớp. Nhiều ý kiến cho rằng, các trường học hiện nay đã quá nặng về dạy kiến thức, ít quan tâm đến việc giáo dục KNS cho HS dẫn đến có một bộ phận HS trong các trường thiếu hụt hiểu biết về môi trường xung quanh, ứng xử cần thiết trong cuộc sống. Điều này cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến những bất cập trong hành vi, lối sống đạo đức của nhiều HS. Theo yêu cầu của Bộ GD-ĐT, giáo dục KNS cho HS phải bảo đảm các yếu tố: giúp HS ý thức được giá trị của bản thân trong mối quan hệ xã hội; giúp HS hiểu biết về thể chất, tinh thần của bản thân mình; có hành vi, thói quen ứng xử có văn hoá, hiểu biết và chấp hành pháp luật... Tuy nhiên, giáo dục KNS để đạt hiệu quả đòi hỏi nhiều yếu tố chứ không phải chỉ từ các bài giảng. Trách nhiệm của cộng đồng Giáo dục KNS đòi hỏi tính chủ động của HS đầu tiên. Vì vậy, nếu chỉ đưa vào chương trình lồng ghép với các môn học liệu có hiệu quả, nhất là khi giáo viên chỉ mới làm quen với các tài liệu hướng dẫn từ đầu năm học này. Cô Vũ Bích Hằng, Hiệu Trưởng trường tiểu học Dĩ An cho biết: “Giáo dục KNS chỉ thật sự có hiệu quả khi người thầy có tâm huyết, sự kiên nhẫn và nhất là phải có thời gian. Giáo dục KNS không phải chỉ là công việc của giáo viên, nhà trường mà của cả xã hội, cộng đồng. Phải kết hợp cả gia đình, nhà trường và xã hội mới mong đào tạo được những HS phát triển toàn diện”. Thuận lợi lớn của giáo viên hiện nay, đó là Bộ GD-ĐT đã phát hành tài liệu giáo dục KNS cho HS. Phó Giám đốc Sở GD-ĐT Trần Hiếu cho biết: “Cùng với việc tổ chức tập huấn cho đội ngũ cốt cán của các trường, năm học này Sở GD-ĐT đã chỉ đạo các trường học tăng cường rèn luyện KNS cho HS. Đẩy mạnh thực hiện phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, HS tích cực”. Mỗi thầy cô giáo tâm huyết, trách nhiệm hơn trong việc giáo dục đạo đức, nhân cách cho HS. Giáo viên các trường học không chỉ nâng cao chất lượng chuyên môn nghiệp vụ, mà còn thường xuyên quan tâm đến đời sống, tâm tư tình cảm của HS. Các trường cần tăng cường trao đổi thông tin với gia đình một cách thường xuyên, liên tục. Mặt khác, vai trò của gia đình vô cùng quan trọng trong định hướng, giáo dục, động viên giúp HS tránh xa tệ nạn xã hội, bố trí thời gian học tập, vui chơi phù hợp. Vì vậy, cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường, chính quyền địa phương trong quản lý, giáo dục HS trong và ngoài nhà trường. KNS của mỗi người được hình thành qua quá trình rèn luyện, phấn đấu. Nên cùng với những kiến thức có được từ các lớp học, rất cần cha mẹ đồng hành cùng con để hỗ trợ KNS cho con phù hợp với lứa tuổi và thực tế cuộc sống”. Giáo dục kỹ năng sống (KNS) cho học sinh (HS) là một việc làm rất quan trọng và cần thiết. Điều đó giúp hình thành nhân cách HS, giúp các em tự tin, chủ động cũng như khả năng phản ứng, xử lý các tình huống trong cuộc sống một cách linh hoạt và nhạy bén. Vậy, làm thế nào để chúng ta rèn KNS cho HS? Chúng tôi nghĩ có nhiều phương pháp, nhiều cách thức để thực hiện việc này. Nhưng trong bài viết này, chúng tôi xin giới thiệu việc rèn KNS cho HS thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp (HĐNGLL). 1. Trước hết chúng ta cần tìm hiểu KNS là gì? KNS là năng lực tâm lý xã hội giúp cá nhân giải quyết có hiệu quả những nhu cầu và thách thức của cuộc sống. Như vậy, giáo dục KNS là làm sao trang bị cho HS những kiến thức, kỹ năng về cuộc sống để các em có thể thích ứng với cuộc sống, để có thể tự mình xử lý mọi tình huống trong thực tế một cách tốt nhất. Đối với HS bậc tiểu học thì HĐNGLL có ý nghĩa rất quan trọng trong việc rèn luyện KNS. Về nhiệm vụ, HĐNGLL có ba nhiệm vụ, đó là: củng cố tăng cường nhận thức; bồi dưỡng thái độ, tình cảm và hình thành hệ thống kỹ năng, hành vi. Ở đây chúng tôi chỉ bàn về nhiệm vụ hình thành hệ thống kỹ năng, hành vi. Nhiệm vụ này nhằm rèn cho HS những kỹ năng thực hiện các công việc lao động đơn giản, các kỹ năng sáng tạo nghệ thuật, thực hiện các bài thể dục, các trò chơi, các hành vi ứng xử đối với mọi người trong gia đình, trong nhà trường và trong xã hội. Những kỹ năng tham gia hoạt động tập thể, kỹ năng tổ chức những hoạt động chung cùng nhau, biết phối hợp với mọi người cùng thực hiện hoạt động chung, nâng cao ý thức tự chủ, tự tin, chủ động và giao tiếp với mọi người. Dựa vào những kỹ năng, hành vi này để rèn luyện những kỹ xảo, thói quen đạo đức bền vững và tự quản trong sinh hoạt tập thể. Như vậy, chúng ta phải biết tận dụng và phát huy nhiệm vụ này của HĐNGLL để góp phần rèn luyện KNS cho HS. 2. Làm thế nào để thực hiện được điều đó? Sau đây là một số hoạt động nhằm thực hiện điều đó. Hoạt động văn hóa nghệ thuật: Đây là một loại hình hoạt động quan trọng, không thể thiếu được trong sinh hoạt tập thể của trẻ em, nhất là HS tiểu học. Hoạt động này bao gồm nhiều thể loại khác nhau: Hát, múa, thơ ca, kịch ngắn, kịch câm, tấu vui, độc tấu, nhạc cụ, thi kể chuyện… Các hoạt động này góp phần hình thành cho các em kỹ năng mạnh dạn, tự tin trước đám đông. Đây là một trong những kỹ năng rất quan trọng trong xu thế toàn cầu hóa. Hoạt động vui chơi giải trí, TDTT: Vui chơi, giải trí là nhu cầu thiết yếu của trẻ, đồng thời là quyền lợi của các em. Nó là một loại hoạt động có ý nghĩa giáo dục to lớn đối với HS ở trường tiểu học. Hoạt động này làm thỏa mãn về tinh thần cho trẻ em sau những giờ học căng thẳng, góp phần rèn luyện một số phẩm chất: tính tổ chức, kỉ luật, nâng cao tinh thần trách nhiệm, tinh thần đoàn kết, lòng nhân ái… Nói về hoạt động này thì hầu hết các trường có tổ chức thực hiện nhưng xét về tính hiệu quả thì không phải nhà trường nào cũng đạt được. Sở dĩ như thế là do điều kiện về cơ sở vật chất cũng như trình độ chuyên môn của tổng phụ trách chưa thể đáp ứng được. Nhưng dù sao chúng ta cũng phải nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động này để hướng hoạt động đạt mục tiêu đã đề ra. Hoạt động xã hội: Bước đầu đưa HS vào các hoạt động xã hội để giúp các em nâng cao hiểu biết về con người, đất nước, xã hội. Đây là một hoạt động tuy khó nhưng nó mang một ý nghĩa vô cùng to lớn. Thông qua hoạt động này, các em sẽ được bồi dưỡng thêm về nhân cách, đặc biệt là tình người. Trong thực tế, hoạt động này đã được các nhà trường tiến hành tương đối tốt. Nhưng, theo chúng tôi, hoạt động này phải được khai thác một cách triệt để nhằm phát triển tối đa nhân cách ở các em. Hoạt động lao động công ích: Đây là một loại hình đặc trưng của HĐNGLL. Thông qua lao động công ích sẽ giúp các em gắn bó với đời sống xã hội. Ngoài ra lao động công ích còn góp phần làm cho trẻ hiểu thêm về giá trị lao động, từ đó giúp trẻ có ý thức lao động lành mạnh. Lao động công ích giúp trẻ vận dụng kiến thức vào đời sống như: Trực nhật, vệ sinh lớp học, sân trường, làm đẹp bồn hoa, cây cảnh cho đẹp trường, lớp. Đây là hoạt động tưởng như là thường xuyên nhưng thật ra trong nhà trường bây giờ HS rất ít được tham gia các hoạt động này. Có chăng chỉ là ép buộc và hình thức. Nhưng đây là hoạt động thật sự cần thiết giúp các em thích nghi với cuộc sống xung quanh. Sau này dù có rơi vào hoàn cảnh khắc nghiệt nào thì các em vẫn có thể tồn tại được. Đó là nhờ các em biết lao động. Hoạt động tiếp cận khoa học - kĩ thuật: Đây là hoạt động giúp các em tiếp cận được những thành tựu khoa học - công nghệ tiên tiến. Điều đó sẽ tạo cho các em sự say mê, tìm tòi, kích thích học tập tốt hơn. Những hoạt động này có thể là sưu tầm những bài toán vui, tham gia sinh hoạt CLB khoa học, tìm hiểu các danh nhân, các nhà bác học… Đây là một hoạt động nhằm tạo điều kiện cho các em làm quen với việc nghiên cứu khoa học và tự khẳng định mình. Có thể nói đây là hoạt động mà các nhà trường ít chú trọng tới - ít chú trọng không phải là do không hiểu hết tầm quan trọng của nó mà là do điều kiện không cho phép. Đó là điều kiện về cơ chế, về thời gian, về năng lực của đội ngũ giáo viên tổng phụ trách… Tóm lại, HĐNGLL có ý nghĩa hết sức to lớn đối với việc hình thành KNS cho HS. Do đó, các nhà quản lý giáo dục cần tạo mọi điều kiện thật tốt cho những giáo viên phụ trách công tác này để sao cho việc rèn luyện KNS cho HS đạt Để nâng cao hiệu quả công tác giáo dục kỹ năng sống, nhà trường cần phải làm những việc cụ thể nào, thưa ông ? - Hiện nay, việc triển khai các hoạt động rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh như thế nào cho hiệu quả là vấn đề trăn trở của nhà trường và những người làm công tác giáo dục. Tùy theo hoàn cảnh thực tế của từng địa phương, từng trường mà triển khai như thế nào cho thật hiệu quả. Như học sinh ở thành phố dễ dính vào những tệ nạn xã hội, trò chơi điện tử bạo lực hay tệ nạn ma túy, cờ bạc. Còn ở nông thôn, tình trạng ngại ngùng, thiếu hiểu biết, ngại nói lên ý kiến của mình, rụt rè không dám phát biểu, vô hình trung gây ra thiệt hại cho các em. Bởi vậy, tùy theo từng trường hợp mà có những biện pháp giáo dục phù hợp. Nhà trường cần phải rà soát lại thực trạng của trường mình. Trường còn yếu, hạn chế gì, làm được gì trong việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh. Sau đó các trường nên xây dựng chương trình năm năm. Ví dụ như năm đầu xây dựng cách xưng hô chào hỏi, đối xử với nhau, thứ hai là xây dựng hệ thống câu lạc bộ văn hóa, văn nghệ, thể thao... Bởi khi tham gia vào một câu lạc bộ nào đó thì bản thân người đó sẽ được rèn luyện các kỹ năng diễn thuyết, trao đổi, tìm ra hướng đi đúng, những cách ứng xử hay. Một học sinh thì dễ bị lừa nhưng khi hoạt động trong một nhóm bạn thì ít khi bị lừa. Các trường cũng cần phải xây dựng được quy ước ứng xử văn hóa. Thầy cô giáo, cán bộ, phụ huynh phải gương mẫu. Muốn con tốt thì cha mẹ phải tốt, muốn trò tốt thì giáo viên phải tốt. Bên cạnh đó, cần tạo được môi trường thân thiện, gia đình thân thiện, cộng đồng thân thiện. Ngoài ra, việc đẩy mạnh phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” cũng là giải pháp góp phần trang bị thêm nhiều kiến thức kỹ năng sống cho học sinh. Tóm lại là giáo dục kỹ năng sống cho học sinh phải từ những việc cụ thể... Đẩy mạnh thực hiện phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, HS tích cực”. Mỗi thầy cô giáo tâm huyết, trách nhiệm hơn trong việc giáo dục đạo đức, nhân cách cho HS. Giáo viên các trường học không chỉ nâng cao chất lượng chuyên môn nghiệp vụ, mà còn thường xuyên quan tâm đến đời sống, tâm tư tình cảm của HS. Các trường cần tăng cường trao đổi thông tin với gia đình một cách thường xuyên, liên tục. Mặt khác, vai trò của gia đình vô cùng quan trọng trong định hướng, giáo dục, động viên giúp HS tránh xa tệ nạn xã hội, bố trí thời gian học tập, vui chơi phù hợp. Vì vậy, cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường, chính quyền địa phương trong quản lý, giáo dục HS trong và ngoài nhà trường. KNS của mỗi người được hình thành qua quá trình rèn luyện, phấn đấu. Nên cùng với những kiến thức có được từ các lớp học, rất cần cha mẹ đồng hành cùng con để hỗ trợ KNS cho con phù hợp với lứa tuổi và thực tế cuộc sống”. Để rèn luyện kỹ năng sống cho các em học sinh,các nhà trường thường xuyên tổ chức những buổi sinh hoạt ngoại khóa với các trò chơi dân gian, trò chơi vận động, trò chơi đối kháng, trò chơi tương tác… Trường còn cho các em đi thăm quan các di tích lịch sử, thăm quan thắng cảnh; tham gia các hoạt động dọn vệ sinh bảo vệ môi trường. Thông qua những hoạt động này, nhà trường muốn rèn luyện cho các em học sinh tiểu học tính đoàn kết tập thể, khả năng làm việc nhóm. Đồng thời xây dựng tinh thần chia sẻ, ý thức trách nhiệm cho các em. thông tin qua các giờ học môn sức khỏe, môn tự nhiên, xã hội. các em có kỹ năng chăm sóc sức khỏe bảo vệ bản thân.    Khi tham gia các hoạt động này em cảm thấy rất vui và biết thêm nhiều kiến thức. Nhờ đó em biết tự chăm sóc bản thân như là tự sắp xếp góc học tập thật ngăn nắp, tự giặt quần áo cho mình. Ngoài ra, em còn giúp bố mẹ nhiều việc nhà như giúp bố chăm sóc cây cảnh, giúp mẹ giặt quần áo, trông em…”    Mặt khác, hiện nay việc đưa GDKNS vào nhà trường đã được thực hiện ở hầu hết các nước trên thế giới. Theo tài liệu của UNICEF, hiện nay có 153 nước đã đưa GDKNS vào nhà trường, hơn 140 nước đã thực hiện GDKNS cho học sinh với các phương thức khác nhau. Xu hướng hội nhập và phát triển không cho phép giáo dục nước ta giậm chân với những cách làm cũ, lạc hậu và trì trệ.    Nước ta hiện nay chọn cách đưa kỹ năng sống vào một số môn học. Bộ sách hướng dẫn dạy kỹ năng sống dành cho giáo viên đã được đưa vào tập huấn và khuyến khích các trường giảng dạy trong năm học này theo kiểu lồng ghép.    Ví dụ: Khi giáo viên dạy môn Tiếng Việt, phương pháp mới sẽ là cho học sinh học theo nhóm, thông qua hoạt động nhóm, học sinh được rèn luyện kỹ năng biết hợp tác, biết trình bày ý kiến của mình... Khi nhóm trình bày kết quả của mình thì các nhóm khác sẽ lắng nghe và đánh giá, qua đó học sinh sẽ được rèn kỹ năng tư duy, phê phán và kỹ năng lắng nghe tích cực. Dạy kỹ năng sống yêu cầu giáo viên phải có kiến thức và linh hoạt "đạo diễn" các tiết học. Tuy nhiên, với trình độ và thói quen giảng dạy của giáo viên hiện nay, việc làm đó có quá khó không? Hiện cuốn hướng dẫn học kỹ năng sống mới chỉ được viết cho giáo viên. Giáo trình gồm 2 phần: Phần chung đưa ra những khái niệm về kỹ năng sống, tầm quan trọng của kỹ năng sống, phương pháp GDKNS; phần thứ 2 đi vào từng môn học cụ thể. - Để thay đổi nhận thức của giáo viên, ngay từ tháng 8/2009 Bộ GD-ĐT đã triển khai cho các sở, yêu cầu tập huấn cho tất cả giáo viên. Trong đợt tập huấn này giáo viên được tập trung vào 2 mảng chính: Hiểu về bản chất của kỹ năng sống; phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực, mối liên hệ giữa phương pháp dạy và kỹ năng sống. Từ nhiều năm nay Bộ GD - ĐT đã có yêu cầu giáo viên phải thay đổi phương pháp giảng dạy. Tuy nhiên, rất nhiều trường, nhiều giáo viên vẫn còn mù mờ về việc này, đặc biệt là giáo viên ở nông thôn. Cuốn sách này chỉ cho họ phải làm như thế nào và việc làm thế có ích như thế nào cho học sinh trong việc hình thành kỹ năng sống. Việc đánh giá kết quả của dạy kỹ năng sống cho học sinh sẽ dựa trên cơ sở nào khi nó không thông qua điểm số như các môn học khác? - Đúng là việc đánh giá bản chất của nó là một vấn đề rất khó, không thể có barem mà phải dựa vào việc học sinh thể hiện mình như thế nào trong giờ lên lớp của giáo viên đó, mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh được thể hiện trong tiết học và giáo viên có thực hiện được mục tiêu của bài hay không? Để giáo dục kỹ năng cho các em, ngoài việc lồng ghép vào các bài học, nhà trường còn tạo điều kiện cho các em tham gia thực tế. Ví dụ như về kỹ năng chăm sóc sức khỏe bảo vệ bản thân, nhiều trường đã mời nhân viên y tế về hướng dẫn các em cách rửa tay đúng quy định để phòng chống dịch bệnh; hay về kỹ năng phòng chống đuối nước, tuy chưa có người để hướng dẫn các em cách bơi lội nhưng nhà trường vẫn có những thông tin qua các giờ học môn sức khỏe, môn tự nhiên, xã hội.” GDKNS thúc đẩy quá trình phát triển của cá nhân và phát triển xã hội. Đối với học sinh, việc được đào tạo kỹ năng sống là vô cùng quan trọng. Hiện GDKNS chỉ làm được tại gia đình, gia đình giáo dục tốt, trẻ sẽ có điểm xuất phát tốt và nề nếp tốt. Ngược lại, trẻ sẽ không có gì khi không được gia đình quan tâm giáo dục. Như vậy, xuất phát điểm của trẻ là chưa công bằng. GDKNS trong nhà trường sẽ xoá đi rào cản đó.    Trước đòi hỏi "giáo dục phổ thông là giáo dục và hình thành nhân cách công dân tốt của nước Việt Nam" thì đây là một điểm hạn chế của các nhà trường chúng ta hiện nay. Qua 2 năm triển khai phong trào Xây dựng THTT-HSTC, hạn chế này đã được khắc phục bước đầu. Rất nhiều hoạt động ngoài giờ lên lớp đã tạo môi trường để giáo dục đạo đức lối sống cho các em, rèn luyện cho các em những kỹ năng sống cần thiết. Tuy nhiên, cần lưu ý thêm một số điểm sau đây:     -Môi trường giáo dục phải luôn gắn với GD đạo đức để trở thành công dân tốt. Cần phải tăng cường nguồn lực trong và ngoài nhà trường cho giáo dục đạo đức, hình thành các chuẩn đạo đức (định hướng giá trị sống). Cần khoa học hóa việc giáo dục đạo đức lối sống, xây dựng công nghệ giáo dục đạo đức, công dân để học sinh trở thành chủ thể các giá trị đạo đức và văn hóa, trong đó đặc biệt lưu ý ý thức xây dựng và phát huy giá trị của gia đình. Gia đình là cái nôi giáo dục đầu tiên của mỗi con người; môi trường giáo dục gia đình là rất quan trọng trong mối quan hệ phối hợp với nhà trường và xã hội. Gia đình là tế bào hạnh phúc suốt đời của mỗi con người. Giáo dục giá trị gia đình, văn hóa gia đình là rất cần thiết hiện nay, bên cạnh giáo dục lòng yêu nước và truyền thống văn hóa dân tộc.    Trong các kỹ năng sống của thời kỳ hội nhập toàn cầu, có hai kỹ năng không thể thiếu, đó là kỹ năng sử dụng ngoại ngữ và công nghệ thông tin. Bộ GD-ĐT cũng đã vào cuộc trong việc tăng cường giáo dục 2 kỹ năng quan trọng này, nhưng cần phải quyết liệt hơn nữa.    Trong thời gian tới đây, phong trào thi đua "Xây dựng THTT-HSTC" sẽ có thêm nội dung mới và sẽ xuất hiện nhiều sáng kiến, nhiều kinh nghiệm hay từ các nhà trường. Từ năm học tới, cùng với 5 bộ, ngành sẽ có thêm sự phối hợp của Bộ Quốc phòng và Bộ Công an. Ủng hộ vùng khó khăn là nét văn hoá đẹp của các thầy cô giáo và học sinh Hiện nay, trên các báo người ta đang lo ngại và quan tâm nhiều đến sự thiếu hụt kỹ năng sống của học sinh. Sự thiếu hụt này dẫn đến nhiều hậu quả nghiêm trọng như tai nạn thương tích ở trẻ em (đuối nước, tai nạn giao thông, điện giật, bỏng, ngộ độc, động vật cắn...), bạo lực học đường, trẻ em nữ bị xâm hại tình dục. Hiểu biết về giới tính, tệ nạn xã hội, về phòng chống HIV/AIDS… còn nhiều hạn chế. Trước thực trạng đáng lo ngại ấy, Bộ Giáo dục Đào tạo đã chỉ đạo Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam tổ chức biên soạn bộ tài liệu về Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh qua một số môn học (Địa lí, Ngữ văn, Giáo dục công dân, Sinh học và hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp). Hơn nữa, vấn đề giáo dục kỹ năng sống còn cần đến vốn