Hồ Chí Minh vận dụng sáng tạo quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội vào điều kiện thực tiễn Việt Nam

Tóm tắt Lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là một bộ phận quan trọng trong hệ tư tưởng của Hồ Chí Minh, được hình thành và phát triển cùng với toàn bộ quá trình hoạt động lý luận và thực tiễn của Người. Đây là vấn đề cốt lõi, cũng là sự kết tinh, tỏa sáng nhằm hiện thực hóa ước mơ hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam đã được nâng lên tầm cao mới: Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người. Nó thể hiện sự vận dụng trung thành sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin phù hợp với thực tiễn Việt Nam và trở thành mục tiêu xuyên suốt chỉ đạo toàn bộ tiến trình cách mạng, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Bài viết tập trung làm rõ vấn đề trên.

pdf9 trang | Chia sẻ: thanhle95 | Lượt xem: 284 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Hồ Chí Minh vận dụng sáng tạo quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội vào điều kiện thực tiễn Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
“100 năm Chủ tịch Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác - Lênin” (1920 - 2020) 277| HỒ CHÍ MINH VẬN DỤNG SÁNG TẠO QUAN ĐIỂM CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN VỀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀO ĐIỀU KIỆN THỰC TIỄN VIỆT NAM ThS. Nguyễn Thị Nga Trường Đại học Nguyễn Huệ - Bộ Quốc phòng Tóm tắt Lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là một bộ phận quan trọng trong hệ tư tưởng của Hồ Chí Minh, được hình thành và phát triển cùng với toàn bộ quá trình hoạt động lý luận và thực tiễn của Người. Đây là vấn đề cốt lõi, cũng là sự kết tinh, tỏa sáng nhằm hiện thực hóa ước mơ hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam đã được nâng lên tầm cao mới: Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người. Nó thể hiện sự vận dụng trung thành sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin phù hợp với thực tiễn Việt Nam và trở thành mục tiêu xuyên suốt chỉ đạo toàn bộ tiến trình cách mạng, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Bài viết tập trung làm rõ vấn đề trên. Từ khóa: Chủ nghĩa xã hội, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng. I. MỞ ĐẦU Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về con đƣờng đi lên chủ nghĩa xã hội ở nƣớc ta đƣợc hình thành từ rất sớm. Chứng kiến thất bại của các vị yêu nƣớc tiền bối trong nỗ lực tìm đƣờng cứu nƣớc và cảnh nhân dân sống khổ cực, lầm than những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, ngƣời thanh niên ƣu tú Nguyễn Tất Thành quyết định ra đi tìm đƣờng cứu nƣớc. Sau bao năm xông pha, hòa mình vào cuộc sống lao động và đấu tranh của nhân dân nhiều nƣớc, hoạt động sôi nổi trong phong trào công nhân quốc tế, Ngƣời đến với chủ nghĩa Mác - Lênin và tìm thấy con đƣờng cứu nƣớc đúng đắn, đó là con đƣờng cách mạng vô sản. Theo Ngƣời, trong thời đại ngày nay “muốn cứu nƣớc và giải phóng dân tộc, không có con đƣờng nào khác con đƣờng cách mạng vô sản”1. Và “ chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng đƣợc các dân tộc bị áp bức và những ngƣời lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”2. Những khẳng định và kết luận này của Hồ 1 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.30. 2 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.563. Phần II. Hồ Chí Minh tiếp thu, kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam |278 Chí Minh đƣợc rút ra từ logic phát triển của cuộc hành trình tƣ tƣởng và hoạt động thực tiễn của Ngƣời, với sự dẫn đƣờng của chủ nghĩa Mác - Lênin, sự tác động tích cực của thời đại mới đƣợc bắt đầu từ thắng lợi của Cách mạng tháng Mƣời Nga cùng với những ảnh hƣởng sâu sắc mà Ngƣời tiếp nhận đƣợc từ truyền thống dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại. Lựa chọn con đƣờng xã hội chủ nghĩa cho sự phát triển của Việt Nam, Ngƣời đã mở đƣờng cho sự phát triển mới của nƣớc ta, đặt cách mạng Việt Nam vào quỹ đạo cách mạng vô sản; đã chấm dứt cuộc khủng hoảng hệ tƣ tƣởng, sự bế tắc về đƣờng lối của các phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở nƣớc ta đầu thế kỷ XX. II. NỘI DUNG 2.1. Khẳng định chủ nghĩa xã hội - con đường phát triển tất yếu của cách mạng Việt Nam - sự vận dụng sáng tạo quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin về chủ nghĩa xã hội vào điều kiện thực tiễn nước ta của Hồ Chí Minh Ngay từ năm 1921, sau khi chỉ ra những hình thức bóc lột, đàn áp dã man, tàn bạo của bọn thực dân đối với ngƣời bản xứ, khẳng định tinh thần cách mạng mãnh liệt của nhân dân các nƣớc Đông Dƣơng, Hồ Chí Minh đã đi đến kết luận: “Sự tàn bạo của chủ nghĩa tƣ bản đã chuẩn bị đất rồi: Chủ nghĩa xã hội chỉ còn phải làm cái việc là gieo hạt giống của công cuộc giải phóng mà thôi”3. Theo Ngƣời, chủ nghĩa xã hội là sự phát triển tất yếu không chỉ đối với các nƣớc đã qua chủ nghĩa tƣ bản mà cả đối với Việt Nam, một nƣớc nông nghiệp lạc hậu. Khẳng định này dựa trên cơ sở khoa học từ lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa; về khả năng và triển vọng của các dân tộc phƣơng Đông. Trong những điều kiện lịch sử mới, Lênin đã phát triển tƣ tƣởng cách mạng không ngừng của Mác - Ăngghen để luận chứng một cách toàn diện khả năng đi tới chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tƣ chủ nghĩa của các dân tộc thuộc địa có nền kinh tế lạc hậu, kém phát triển. Từ những luận điểm cơ bản đó, Ngƣời đã nhận thức một cách sâu sắc rằng, trong thời đại quá độ từ chủ nghĩa tƣ bản tới chủ nghĩa xã hội, mục tiêu độc lập dân tộc chỉ có thể thực hiện đƣợc một cách triệt để khi cách mạng dân tộc dân chủ gắn liền với cách mạng xã hội chủ nghĩa do đảng của giai cấp công nhân, theo chủ nghĩa Mác - Lênin lãnh đạo, đƣa đất nƣớc tiến tới chủ nghĩa xã hội, không qua giai đoạn phát triển tƣ bản chủ nghĩa. Chỉ có chủ nghĩa xã hội mới là con đƣờng bảo đảm thực sự và vững chắc cho độc lập dân tộc, mở ra triển vọng phát triển tốt đẹp cho xã hội Việt Nam phù 3 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.40. “100 năm Chủ tịch Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác - Lênin” (1920 - 2020) 279| hợp với xu thế chung của lịch sử thế giới hiện đại. Quá độ lên chủ nghĩa xã hội không qua chế độ tƣ bản chủ nghĩa nhƣ Việt Nam, đòi hỏi sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tính chung - phổ biến với tính riêng - đặc thù của các nguyên lý, các quy luật cách mạng, vận dụng và phát triển nó một cách sáng tạo vào thực tiễn Việt Nam. Do đó, đối với chủ nghĩa xã hội và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nƣớc ta, vấn đề không dừng lại ở nhận thức lý tƣởng và mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, mà điều quan trọng và có ý nghĩa thiết thực hơn là xác định để có những bƣớc đi, tìm tòi sáng tạo những biện pháp, cách làm phù hợp với Việt Nam để cho bản chất ƣu việt của chủ nghĩa xã hội đƣợc thể hiện trong cuộc sống hàng ngày của nhân dân, đem lại ấm no, tự do, hạnh phúc cho mọi ngƣời lao động. Chỉ nhƣ vậy, chủ nghĩa xã hội mới thực sự trở thành sự nghiệp của nhân dân lao động, do chính bản thân họ thực hiện, vì hạnh phúc của chính họ. Nguồn động lực căn bản để xây dựng chủ nghĩa xã hội là ở chỗ đó. Đánh giá vị trí lịch sử và khả năng xã hội của các cuộc cách mạng dân chủ tƣ sản, đặc biệt là cách mạng Pháp 1789 và cách mạng Mỹ 1776, Hồ Chí Minh đã phát hiện ra rằng, các cuộc cách mạng đó đều là cách mạng tƣ sản và là những cuộc cách mạng không triệt để. Ngƣời chỉ rõ: “Cách mệnh Pháp cũng nhƣ cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tƣ bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tƣớc lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa. Cách mệnh đã 4 lần rồi mà nay công nông Pháp vẫn còn phải mƣu cách mệnh lần nữa mới hòng thoát khỏi vòng áp bức”4. Khác hẳn với cách mạng Pháp và Mỹ, Ngƣời đánh giá cao Cách mạng tháng Mƣời Nga (1917) là cuộc cách mạng triệt để, nằm trong dòng chảy liên tục của quá trình giải phóng con ngƣời. Xét về bản chất, nó là cuộc cách mạng nổi trội, vƣợt xa và khác hẳn về chất so với các cuộc cách mạng đã từng xảy ra trong lịch sử trƣớc đó. Ngƣời viết: “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng đƣợc hƣởng cái hạnh phúc, tự do, bình đẳng thật, không phải tự do, bình đẳng giả dối nhƣ đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang bên An Nam. Cách mệnh Nga đã đuổi đƣợc vua, tƣ bản, địa chủ rồi, lại ra sức cho công, nông các nƣớc và dân bị áp bức các thuộc địa làm cách mệnh để đập đổ tất cả đế quốc chủ nghĩa và tƣ bản trong thế giới”5. Từ sự so sánh này đã dẫn Hồ Chí Minh đến nhận thức đúng đắn cho việc lựa chọn con đƣờng phát triển của cách mạng Việt Nam là không còn con đƣờng nào khác con đƣờng Cách mạng tháng Mƣời. Vì thế, ngay từ năm 1930, 4 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 296. 5 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.304. Phần II. Hồ Chí Minh tiếp thu, kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam |280 phong trào cách mạng đã phát triển mạnh mẽ qua các thời kỳ khác nhau và trở thành một phong trào hiện thực xóa bỏ chế độ thực dân phong kiến, giành độc lập dân tộc, tiến lên chủ nghĩa xã hội, không chấp nhận chế độ tƣ bản chủ nghĩa. Đây là sự lựa chọn chính trị tự nguyện của tuyệt đại bộ phận nhân dân và các dân tộc Việt Nam dƣới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phù hợp với xu thế của thời đại. Với những thành quả lịch sử nhƣ Cách mạng tháng Tám năm 1945, thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, nhân dân ta đã nêu lên một nguyên lý mới của thời đại. Đó là chủ nghĩa tƣ bản có thể bị đánh bại tại vùng ngoại vi, trƣớc khi nó bị đánh bại tại quê hƣơng của nó. Sau những trận thử sức này, nhân dân Việt Nam, hơn ai hết hiểu rõ thực chất của chủ nghĩa tƣ bản, nên không thể không tìm kiếm con đƣờng phát triển đất nƣớc bỏ qua chế độ đó. Dƣới ánh sáng tƣ tƣởng Hồ Chí Minh, sau năm 1954, miền Bắc đã hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ. Ngƣời đã cùng Đảng ta chủ trƣơng đƣa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội. Xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa trở thành hậu phƣơng vững chắc, thành một chế độ chính trị ƣu việt, bảo đảm cho nhân dân ta đánh thắng đế quốc Mỹ - một đế quốc có tiềm lực kinh tế, quân sự mạnh nhất trong thế giới tƣ bản chủ nghĩa. Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, cả nƣớc tiến lên chủ nghĩa xã hội, trong khoảng 10 năm (1975 - 1986), tình hình kinh tế - xã hội của nƣớc ta gặp không ít khó khăn. Cộng thêm với sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nƣớc Đông Âu. Có nhiều ngƣời lung lạc và phai nhạt niềm tin về chủ nghĩa xã hội, đòi xem xét lại con đƣờng chúng ta đang đi. Có ngƣời muốn dừng lại ở chế độ dân chủ nhân dân, có ý kiến lại muốn đƣa nƣớc ta đi theo con đƣờng tƣ bản chủ nghĩa Tất cả những khuynh hƣớng sai trái đó, đều đi ngƣợc lại với tƣ tƣởng Hồ Chí Minh và đã đƣợc Đảng ta phê phán uốn nắn, chỉ rõ: Đi lên chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn duy nhất đúng của Bác Hồ, của Đảng ta và nhân dân ta. 2.2. Hồ Chí Minh vận dụng sáng tạo quan điểm về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của chủ nghĩa Mác vào thực tiễn Việt Nam Các nhà sáng lập ra học thuyết Mác - Lênin, trong khi nhấn mạnh tính khách quan của sự vận động lịch sử từ chủ nghĩa tƣ bản lên chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản đã đề cập tính tất yếu của thời kỳ quá độ. Điều này đã đƣợc Mác chỉ ra trong tác phẩm Phê phán cương lĩnh Gôta. Mác viết: “Giữa xã hội tƣ bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa là một thời kỳ cải biến cách mạng từ xã hội nọ sang xã hội kia. Thích ứng với thời kỳ ấy là một thời kỳ quá độ chính trị và Nhà nƣớc của thời kỳ ấy không thể là cái gì “100 năm Chủ tịch Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác - Lênin” (1920 - 2020) 281| khác hơn nền chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản”6. Thực chất là Mác nói con đƣờng quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở các nƣớc tƣ bản phát triển cao, cơ sở vật chất và kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội đã đƣợc chủ nghĩa tƣ bản chuẩn bị tƣơng đối đầy đủ. Kế thừa tƣ tƣởng của Mác, trong tác phẩm Chủ nghĩa Mác về vấn đề Nhà nước, Lênin đã khái quát tƣ tƣởng của Mác và nêu ra luận điểm “những cơn đau đẻ kéo dài” - tức thời kỳ quá độ. Sau này, trong các tác phẩm khác, Lênin tiếp tục bảo vệ và phát triển tƣ tƣởng của Mác - Ăngghen, phân tích và luận chứng ngày càng sâu sắc về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đặc biệt là với thắng lợi của Cách mạng tháng Mƣời Nga đã làm cho lý luận về thời kỳ quá độ có sự phát triển mới. Cái mới đó đƣợc thể hiện ở chỗ cách mạng xã hội chủ nghĩa nổ ra trƣớc tiên ở nƣớc Nga, một nƣớc tƣ bản trung bình, với xuất phát điểm thấp hơn các nƣớc tƣ bản Tây Âu về kinh tế và văn hoá. Đặc biệt là giai cấp công nhân Nga chiếm tỷ lệ còn thấp trong dân cƣ và nƣớc Nga cách mạng còn đang phải vận động trong một biển những ngƣời tiểu nông. Vì vậy, theo Lênin, nƣớc Nga bƣớc vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một thời kỳ lịch sử tƣơng đối dài, nó cần phải thực hiện những bƣớc qua độ nhỏ, những nhịp cầu, những hình thức kinh tế trung gian để dần dần lôi cuốn nhân dân Nga, mà đa số là tiểu nông, đi lên chủ nghĩa xã hội. Lênin viết: “Nếu phân tích tình hình chính trị hiện nay, chúng ta có thể nói rằng chúng ta đang ở vào một thời kỳ quá độ trong thời kỳ quá độ”7. Vận dụng lý luận về cách mạng vô sản, về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã xuất phát từ đặc điểm của tình hình thực tiễn Việt Nam, một nƣớc vốn là thuộc địa, nửa phong kiến, nông nghiệp lạc hậu, sản xuất nhỏ là chủ yếu nên đã khẳng định con đƣờng cách mạng Việt Nam là: Tiến hành giải phóng dân tộc, hoàn thành dân chủ nhân dân, tiến lên chủ nghĩa xã hội (quá độ lên chủ nghĩa xã hội), chứ không thể làm ngay cuộc cách mạng vô sản, thiết lập chuyên chính vô sản và bƣớc ngay vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội nhƣ ở các nƣớc tƣ bản phát triển. Nếu nhƣ Mác - Ăngghen chủ yếu đề cập phƣơng thức quá độ trực tiếp từ chủ nghĩa tƣ bản đã phát triển cao lên chủ nghĩa xã hội. Đến Lênin đề cập cả hai loại hình quá độ, nhƣng ở loại hình sau, ông cũng chỉ mới nêu lên ở dạng khái quát, mang tính định hƣớng lý luận chung; còn Hồ Chí Minh đã căn cứ vào thực tiễn cụ thể của Việt Nam để xây dựng quan niệm và lý giải những vấn đề của phƣơng thức quá độ gián tiếp ở một nƣớc chậm phát triển đi lên chủ nghĩa xã hội và những tìm tòi lý luận của Ngƣời gắn liền với 6 C. Mác và Ph. Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 19, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.47. 7 V.I. Lênin (1979), Toàn tập, tập 42, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, tr.266. Phần II. Hồ Chí Minh tiếp thu, kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam |282 loại hình quá độ này ở Việt Nam. Đây có thể đƣợc coi là một đóng góp đặc sắc của Hồ Chí Minh về lý luận thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã diễn ra theo đúng tƣ tƣởng đó. Ngay từ năm 1930, dƣới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, toàn dân ta đã tiến hành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Với thắng lợi của Cách mạng tháng Tám 1945, trải qua cuộc kháng chiến chống đế quốc lâu dài vừa kháng chiến, vừa kiến quốc, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân, chúng ta đã giành đƣợc độc lập cho dân tộc, ruộng đất cho dân cày, chế độ dân chủ nhân dân về cơ bản đƣợc xây dựng. Sau khi hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, cách mạng Việt Nam tất yếu bƣớc vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc từ năm 1954, và trong cả nƣớc từ năm 1975. Nhƣ vậy, nƣớc ta bƣớc vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội trên cơ sở cơ bản đã hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ, chế độ dân chủ nhân dân đã đƣợc xây dựng và phát triển. Về nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội, Ngƣời chỉ rõ: “Đặc điểm to nhất của ta trong thời kỳ quá độ là từ một nƣớc nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không phải kinh qua giai đoạn phát triển tƣ bản chủ nghĩa Vì vậy, nhiệm vụ quan trọng nhất của chúng ta là phải xây dựng nền tảng vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, đƣa miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội, có công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, có văn hóa và khoa học tiên tiến. Trong quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa, chúng ta phải cải tạo nền kinh tế cũ và xây dựng nền kinh tế mới, mà xây dựng là nhiệm vụ chủ chốt và lâu dài”8. Xây dựng chủ nghĩa xã hội phải gắn liền với bảo vệ chủ nghĩa xã hội. Về biện pháp thực hiện theo Hồ Chí Minh, cách mạng đòi hỏi phải có một chuyển biến sâu sắc về tƣ tƣởng và nhận thức, có những chính sách, những biện pháp và công tác tổ chức phù hợp với tình hình mới. Trƣớc hết, phải giữ vững và tăng cƣờng vai trò lãnh đạo của Đảng. Xây dựng và chỉnh đốn Đảng, nâng cao sức chiến của Đảng, làm cho Đảng phải thực sự chuyển biến về chức năng và tổ chức phù hợp với nhiệm vụ lãnh đạo của giai đoạn mới; bên cạnh đó, phải tăng cƣờng vai trò quản lý của Nhà nƣớc. Theo Ngƣời, tất cả các cơ quan nhà nƣớc phải dựa vào nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự kiểm soát của nhân dân. Phải xây dựng bộ máy nhà nƣớc trong sạch, vững mạnh, trở thành nhà nƣớc của dân, do dân, vì dân, đủ năng lực uy tín quản lý đất nƣớc trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Nhà nƣớc phải phát triển quyền dân chủ và sinh hoạt chính trị của toàn dân, nhằm phát 8 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.411-412. “100 năm Chủ tịch Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác - Lênin” (1920 - 2020) 283| huy tính tích cực và sáng tạo của nhân dân, làm cho mọi ngƣời công dân Việt Nam thực sự tham gia quản lý công việc nhà nƣớc. Đồng thời, tiếp tục củng cố và mở rộng Mặt trận Dân tộc thống nhất theo tinh thần: “Để giành lấy thắng lợi trong cuộc chiến đấu khổng lồ này cần phải động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lƣợng vĩ đại của toàn dân”9. Toàn dân ở đây cần hiểu là bao gồm tất cả các giai cấp, tầng lớp, tôn giáo, dân tộc, không trừ một ai, một lực lƣợng nào, ngoại trừ bọn phản động chống lại chủ nghĩa xã hội, đi ngƣợc lại đƣờng lối xã hội chủ nghĩa, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng ta Và phải quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ đủ đức, đủ tài, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Trên lĩnh vực xây dựng kinh tế, Hồ Chí Minh chỉ rõ, phải tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm. Ngƣời viết: Muốn có chủ nghĩa xã hội thì không có cách nào khác là phải dốc lực lƣợng của mọi ngƣời ra để sản xuất. Sản xuất là mặt trận chính của chúng ta hiện nay. “Sản xuất mà không tiết kiệm thì khác nào gió vào nhà trống”10. Ngƣời chủ trƣơng phát triển cả nông nghiệp và công nghiệp, lấy nông nghiệp là mặt trận hàng đầu. Cụ thể, đối với các thành phần kinh tế, Ngƣời chủ trƣơng phải phát triển thành phần kinh tế quốc doanh để tạo nền tảng vật chất cho chủ nghĩa xã hội và thúc đẩy việc cải tạo xã hội chủ nghĩa. Kinh tế hợp tác xã là hình thức sở hữu tập thể của nhân dân lao động, Nhà nƣớc đặc biệt khuyến khích, hƣớng dẫn và giúp đỡ cho nó phát triển. Đối với ngƣời làm nghề thủ công và lao động khác, Nhà nƣớc phải bảo hộ quyền sở hữu, phải hƣớng dẫn và giúp đỡ họ cải tiến cách làm ăn, khuyến khích họ đi vào con đƣờng làm ăn hợp tác xã. Còn những nhà tƣ sản công thƣơng, vì họ tham gia ủng hộ cách mạng dân tộc dân chủ, đã có đóng góp nhất định trong khôi phục, phát triển kinh tế và sẵn sàng tiếp thu cải tạo để góp phần xây dựng nhà nƣớc, xây dựng chủ nghĩa xã hội Cho nên, Nhà nƣớc không xóa bỏ quyền sở hữu về tƣ liệu sản xuất và tài sản khác của họ, mà ra sức hƣớng dẫn, giúp đỡ họ hoạt động làm lợi cho quốc kế dân sinh, phù hợp với kế hoạch kinh tế nhà nƣớc; khuyến khích, động viên họ cải tạo theo chủ nghĩa xã hội bằng hình thức công tƣ hợp doanh và những hình thức cải tạo khác. Nhƣ vậy, về mặt kinh tế, Hồ Chí Minh đã chú ý phát triển kinh tế nhiều thành phần, với các hình thức khác nhau, với những chủ trƣơng, chính sách cụ thể cho từng thành phần kinh tế, nhằm tạo ra động lực kinh tế mạnh mẽ trong xây dựng chủ nghĩa xã 9 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 15, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.617. 10 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 13, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.70. Phần II. Hồ Chí Minh tiếp thu, kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam |284 hội. Bên cạnh đó, Ngƣời còn nhấn mạnh vai trò của văn hóa, giáo dục và khoa học kỹ thuật trong xây dựng chủ nghĩa xã hội. Theo Ngƣời, muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì nhất định phải có học thức, cho nên cần phải học cả văn hoá, chính trị, kỹ thuật. Ngƣời nói: Chủ nghĩa xã hội cộng với khoa học, chắc chắn đƣa loài ngƣời đến hạnh phúc vô tận. Ngƣời coi trọng nâng cao dân trí, đào tạo và sử dụng nhân tài. Ngƣời đề ra xây dựng nền văn hóa tiên tiến, giữ vững và phát huy truyền thống văn hóa dân tộc, tiếp thu những tinh hoa văn hóa của nhân loại. Về bƣớc đi và phƣơng thức, biện pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Hồ Chí Minh nhắc nhở phải học tập kinh nghiệm dồi dào của các nƣớc anh em, nhƣng không