Linh vật Việt trong các đình được xếp hạng di tích quốc gia trên địa bàn thành phố Hà Nội

Tóm tắt Đình làng là hình ảnh tiêu biểu ở mỗi làng quê Việt Nam. Thời quân chủ chuyên chế, đình làng thực hiện 3 chức năng là: hành chính, tôn giáo và văn hóa. Ngày nay, đình làng chủ yếu thực hiện chức năng tôn giáo (tức là nơi thờ thành hoàng làng). Theo quan niệm của người dân, để bảo vệ an toàn cho khu vực tôn nghiêm, người ta thường đặt ở cửa ra vào nơi thờ cúng những con vật thiêng. Trong vài năm gần đây do thiếu hiểu biết về linh vật, người dân đã đem cúng tiến hoặc tiếp nhận cả những linh vật không thuộc linh vật Việt và còn được gọi là linh vật ngoại lai. Bài viết nhằm xác định linh vật Việt tại các ngôi đình đã được xếp hạng là di tích cấp quốc gia trên địa bàn thành phố Hà Nội.

pdf6 trang | Chia sẻ: thanhle95 | Lượt xem: 215 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Linh vật Việt trong các đình được xếp hạng di tích quốc gia trên địa bàn thành phố Hà Nội, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
5Số 32 (Tháng 6 - 2020) DI SẢN VĂN HÓA NGHIÊN CỨUVĂ N HÓA Đặt vấn đề Hiện nay, trên địa bàn nhiều tỉnh, thành phố của cả nước, trong đó có thành phố Hà Nội, đã xuất hiện một số linh vật lạ trước cửa ra vào hoặc trước cửa các đơn nguyên kiến trúc đầu tiên của các di tích tín ngưỡng - tôn giáo. Các linh vật lạ này không chỉ xuất hiện ở các công trình kiến trúc tôn giáo mà còn xuất hiện cả ở cổng các cơ quan công sở, đơn vị, nơi công cộng. Trước thực trạng trên, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du Lịch đã có Công văn số 2662/BVHTTDL-MTNATL ngày 08/08/2014 gửi các Ban, Bộ, ngành, các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch các tỉnh/thành, các cơ quan, đơn vị về việc không sử dụng biểu tượng, sản phẩm, linh vật lạ không phù hợp với thuần phong mỹ tục Việt Nam tại các khu di tích, đình, chùa, công sở cơ quan, đơn vị, nơi công cộng [1]. Việc loại bỏ linh vật không phù hợp với thuần phong mỹ tục Việt Nam ra khỏi các di tích tôn giáo - tín ngưỡng trên cả nước cũng như trên địa bàn thành phố Hà Nội đang là vấn đề rất nhạy cảm, cần giải quyết khéo léo và cần làm quyết liệt hơn. Xuất phát từ nhu cầu thực tế nói trên, nhóm nghiên cứu của Trường Đại học Văn hóa Hà Nội đã đề xuất và thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu khoa học cấp Bộ: “Nghiên cứu phân loại linh vật Việt trong các di LINH VẬT VIỆT TRONG CÁC ĐÌNH ĐƯỢC XẾP HẠNG DI TÍCH QUỐC GIA TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI NGUYỄN VĂN TIẾN* NGUYỄN THỊ KIM THÌN** Tóm tắt Đình làng là hình ảnh tiêu biểu ở mỗi làng quê Việt Nam. Thời quân chủ chuyên chế, đình làng thực hiện 3 chức năng là: hành chính, tôn giáo và văn hóa. Ngày nay, đình làng chủ yếu thực hiện chức năng tôn giáo (tức là nơi thờ thành hoàng làng). Theo quan niệm của người dân, để bảo vệ an toàn cho khu vực tôn nghiêm, người ta thường đặt ở cửa ra vào nơi thờ cúng những con vật thiêng. Trong vài năm gần đây do thiếu hiểu biết về linh vật, người dân đã đem cúng tiến hoặc tiếp nhận cả những linh vật không thuộc linh vật Việt và còn được gọi là linh vật ngoại lai. Bài viết nhằm xác định linh vật Việt tại các ngôi đình đã được xếp hạng là di tích cấp quốc gia trên địa bàn thành phố Hà Nội. Từ khóa: Linh vật, đình làng, di tích, Hà Nội Abstract Communal houses are typical images in every Vietnamese village. During the absolute monarchy, the communal house had 3 functions: administration, religion and culture. Nowadays, the communal house is mainly carrying out religious functions (the place of worshiping tutelary gods). According to the folk beliefs, people often place mascots at the entrance to protect the places of worship. In recent years, due to a lack of knowledge about the mascots, people have been offering and receiving non- Vietnamese mascots, also called nonnative mascots. The article aims to identify Vietnamese mascots in communal house that have been recognized as national monuments in Hanoi city. Keywords: Mascots, communal house, ancient monuments, Hanoi * PGS.TS, Khoa Di sản văn hóa, Trường ĐHVHHN ** ThS., Khoa Di sản văn hóa, Trường ĐHVHHN Số 32 (Tháng 6 - 2020)6 NGHIÊN CỨUVĂ N HÓA tích tôn giáo - tín ngưỡng xếp hạng cấp quốc gia trên địa bàn thành phố Hà Nội” [4]. Nghiên cứu đề cập tới việc phân tích đặc điểm, hình dáng bên ngoài và giá trị tâm linh, giá trị biểu tượng của linh vật Việt, đồng thời so sánh, phân biệt các linh vật lạ, thường gọi là ngoại lai, với linh vật Việt vốn đã xuất hiện ít nhất từ thời Lý - Trần, nhằm nâng cao sự hiểu biết của người dân, thợ thủ công, các nhà sản xuất, và thậm chí cả các cán bộ quản lý ở các di tích để không chế tác sản xuất, cũng như có cơ sở giải thích và không tiếp nhận việc cúng tiến, đưa vào các di tích những linh vật không phù hợp thuần phong mỹ tục Việt Nam. Trong khuôn khổ bài viết, chúng tôi chỉ giới thiệu một phần nhỏ là linh vật Việt trong các ngôi đình làng đã được xếp hạng di tích quốc gia ở Hà Nội. Như chúng ta đã biết, đình là ngôi nhà công cộng của cộng đồng làng xã Việt Nam, nơi đây thực hiện 3 chức năng: hành chính, tôn giáo và văn hóa. Vì vậy, có thể coi đình là một tòa thị chính, một nhà thờ họ và một nhà văn hóa của làng xã Việt Nam. Ngôi đình là biểu tượng cho cộng đồng làng xã Việt Nam, là một yếu tố hữu hình của văn hóa làng, một trong những nơi bảo tồn bền vững nhất của văn hóa làng Việt Nam. Đình xuất hiện ở Việt Nam từ bao giờ? Đây là một câu hỏi chưa có sự trả lời chắc chắn. Hiện nay, ở các làng quê Việt Nam còn tồn tại một số ngôi đình làng được cho là có niên đại sớm, ví dụ như: đình Lỗ Hạnh (huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang), đình Tây Đằng (huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội), đình Phù Lưu (xã Tân Hồng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh). Các ngôi đình này đều có niên đại thế kỷ XVI [2]. Như vậy, có thể nghĩ rằng, niên đại sớm nhất của các linh vật có trong khuôn viên các ngôi đình cũng chỉ ở vào khoảng thế kỷ XVI và không có linh vật nào ở các ngôi đình làng hiện nay có niên đại sớm hơn niên đại này. Tính đến năm 2015, thành phố Hà Nội có 499 ngôi đình được Nhà nước xếp hạng di tích cấp quốc gia, trong đó, 194 ngôi đình có linh vật Việt. Qua khảo sát thực tế, chúng tôi nhận thấy quận, huyện nào cũng có đình, trong đó đại đa số có linh vật Việt. 1. Khái niệm và đặc điểm linh vật Việt Linh vật, trong một khái niệm và phạm vi rộng, có thể hiểu là người, vật, hoặc con vật mà theo ngôn ngữ tiếng Việt thường được hiểu là vật và động vật mang đến sự may mắn, xua đi tai họa, hoặc có thể dùng để chỉ biểu tượng mang đến sự may mắn cho một sự kiện hoặc nhóm người. Và như vậy, linh vật Việt là những vật và con vật được cộng đồng người Việt Nam tin là mang đến may mắn, xua trừ tai họa, chúng là các con vật trong nghệ thuật tạo hình Việt Nam, do người Việt Nam sáng tạo nên hoặc qua giao lưu, tiếp biến từ các nền văn hóa bên ngoài, phản ánh sâu sắc đời sống tâm linh, văn hóa dân tộc với ý nghĩa mang đến may mắn, xua trừ hiểm họa. Có rất nhiều con thú (hiểu theo nghĩa rộng là cả chim và thú) xuất hiện trong các di tích tôn giáo - tín ngưỡng trên địa bàn thành phố Hà Nội, nhưng không phải tất cả chúng đều là linh vật Việt. Theo định nghĩa linh vật Việt, các con thú xuất hiện trong các di tích tôn giáo - tín ngưỡng được coi là linh vật khi và chỉ khi chúng chứa đựng niềm tin tâm linh của người Việt là mang đến may mắn, xua đi tai họa cho di tích và đem lại sự yên ổn, an bình cho những người đến với di tích. Linh vật Việt có những đặc điểm sau: Thứ nhất, đó phải là những tạo hình (tượng) của những con vật mà theo quan niệm của người Việt là con vật linh. Theo Đinh Hồng Hải, các con vật linh thường gắn với các huyền thoại, truyền thuyết và liên quan đến tôn giáo - tín ngưỡng gắn với đời sống văn hóa tinh thần của con người như rồng, hạc, nghê... Các con vật linh này có thể đã tồn tại trong văn hóa Việt Nam từ thời văn hóa Đông Sơn (như bò/ bò tót), hoặc được du nhập vào Việt Nam sau này như tỳ hưu nhưng đã được Việt hóa trở thành những biểu tượng đặc trưng trong văn hóa truyền thống Việt Nam [3]. Mặc dù hệ thống các con vật linh trong văn hóa truyền thống Việt Nam vô cùng phong phú, chưa có thống kê chính thức, tuy nhiên, với đặc điểm này cũng có thể xác định được ngay một số linh vật không phải là linh vật Việt. Ví dụ: Con chuột túi là linh vật đặc trưng của Úc, con gà Gô loa là linh vật biểu tượng của Pháp, con bướm là linh vật của Đan Mạch Thứ hai, tượng con vật đó phải được tạo tác theo phong cách, dáng vẻ được hình 7Số 32 (Tháng 6 - 2020) DI SẢN VĂN HÓA NGHIÊN CỨUVĂ N HÓA thành trong tâm thức của người Việt, phù hợp với thuần phong mỹ tục và bản sắc văn hóa Việt Nam. Ví dụ: Nhìn một tượng sư tử chúng ta phải nhận thấy được con sư tử trong tâm linh người Việt, chứ không phải gợi cho chúng ta đến một con sư tử dữ tợn của một đất nước khác. Cũng như vậy, rồng được coi là con vật linh của nhiều dân tộc, nhiều đất nước, tuy nhiên, do lối sống mỗi nước có những hình tượng con rồng khác nhau, nên chỉ những con rồng có phong cách tạo tác kiểu Việt Nam mới đích thực là con rồng Việt. Qua điều tra khảo sát thực tế, chúng tôi thấy số linh vật Việt hiện có ở các di tích chủ yếu là các con rồng, nghê, lân, voi, chó và một số con vật khác. Linh vật ngoại lai hiện có trong các di tích tôn giáo - tín ngưỡng trong thời gian gần đây chủ yếu là sư tử1. Số linh vật có mặt trong các di tích đình được xếp hạng cấp quốc gia không đều nhau, cả về số lượng, chủng loại linh vật và kiểu dáng. 2. Số lượng linh vật Việt trong các di tích đình ở Hà Nội Trên địa bàn của 30 đơn vị hành chính quận, huyện thị xã trên địa bàn thành phố Hà Nội tại 194 đình làng được xếp hạng di tích cấp quốc gia năm 2015 có hiện diện linh vật Việt với số lượng là 619 (không tính những linh vật là phù điêu, được trang trí trên trụ biểu, trên nóc mái, trong nội thất và trên các đồ thờ cúng). Như vậy, trung bình mỗi địa bàn quận, huyện có khoảng 23 linh vật Việt tại đình làng, trung bình mỗi đình có khoảng 3 - 4 linh vật Việt. Đình có nhiều linh vật Việt nhất là đình Tây Tựu (quận Bắc Từ Liêm) với 12 linh vật, các đình có từ 10 đến 11 linh vật là đình Hoàng Mai (quận Hoàng Mai) với 11 linh vật, đình Sài Đồng, đình Tư Đình (quận Long Biên) và đình làng Nhật Tân (quận Tây Hồ) cùng có mỗi đình 10 linh vật (Bảng 1). Qua Bảng 1, có thể thấy, trên địa bàn thành phố Hà Nội, các quận huyện Bắc Từ Liêm, Long Biên, Gia Lâm, Đống Đa, Thanh Trì,... có số lượng linh vật Việt trong các di tích đình làng cao nhất; các quận, huyện Bắc Từ Liêm, Đống Đa, Long Biên, Tây Hồ có tỷ lệ linh vật Việt/đình cao nhất. Những địa bàn ít di tích đình làng có linh vật Việt, cũng như ít linh vật Việt là các quận, huyện Ba Vì, Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng, STT Quận/Huyện Số lượng đình có linh vật Việt Số lượng linh vật Việt Tỷ lệ trung bình linh vật Việt/ đình 1 Ba Đình 5 14 2,8 2 Ba Vì 2 5 2,5 3 Bắc Từ Liêm 15 65 4,4 4 Cầu Giấy 4 10 2,5 5 Chương Mỹ 6 14 2,3 6 Đan Phượng 9 25 2,8 7 Đông Anh 10 24 2,4 8 Đống Đa 5 30 6,0 9 Gia Lâm 11 43 3,9 10 Hà Đông 4 8 2,0 11 Hai Bà Trưng 1 4 4,0 12 Hoài Đức 12 30 2,5 13 Hoàn Kiếm 4 8 2,0 14 Hoàng Mai 8 30 3,7 15 Long Biên 8 38 4,7 16 Mỹ Đức 2 4 2,0 17 Nam Từ Liêm 6 20 3,3 18 Phú Xuyên 8 20 2,5 19 Phúc Thọ 5 18 3,6 20 Quốc Oai 8 30 3.7 21 Sóc Sơn 1 2 2,0 22 Tây Hồ 4 18 4,5 23 Thạch Thất 6 14 2,3 24 Thanh Oai 13 31 2,4 25 Thanh Trì 14 45 3,2 26 Thanh Xuân 6 14 2,3 27 Thường Tín 8 24 3.0 28 Ứng Hòa 9 31 3,4 Tổng cộng 194 619 3,2 Bảng 1. Sự phân bố linh vật Việt tại các di tích đình theo địa bàn quận, huyện ở Hà Nội Số 32 (Tháng 6 - 2020)8 NGHIÊN CỨUVĂ N HÓA Hà Đông, Mỹ Đức, Sóc Sơn. Hai địa bàn không thấy có linh vật Việt tại đình làng (không tính đến các linh vật trong nội thất và đồ thờ cúng) là thị xã Sơn Tây và huyện Mê Linh. 3. Cơ cấu linh vật Việt trong các di tích đình ở Hà Nội Theo kết quả thống kê về phân bố các loại linh vật trên địa bàn Hà Nội [4], trong tổng số các di tích tôn giáo - tín ngưỡng trên địa bàn thành phố Hà Nội được xếp hạng cấp quốc gia tính đến năm 2015 có 419 di tích với 1.602 linh vật Việt thuộc 26 loại. Trong đó, di tích đình làng có số lượng 194, chiếm tỷ trọng 46% về số di tích tôn giáo - tín ngưỡng được xếp hạng cấp quốc gia năm 2015 có linh vật Việt, nhưng số lượng linh vật Việt trong các đình là 619, chỉ chiếm tỷ trọng 38%, và số lượng chủng loại chỉ có khoảng một nửa so với tổng số các chủng loại có mặt tại các di tích tôn giáo - tín ngưỡng (Bảng 2 và Biểu đồ 1). Căn cứ số liệu từ các Bảng 1, 2 và Biểu đồ 1, có thể thấy rằng, linh vật trong các đình làng chủ yếu là các loài vật được hình thành trong tưởng tượng, như rồng và rồng cách điệu 247 con, nghê và kỳ lân 186 con. Ngược lại, những con vật bình thường, hiền lành và gần với đời thường như chó, gà, cóc, khỉ, lợn, mèo, chuột, trâu, hươu rất ít, thậm chí hầu như vắng bóng trong các di tích đình làng. Phải chăng do tính tôn nghiêm bởi chức năng việc làng của đình từ xa xưa mà người ta ngại đưa những con vật đời thường vào đây. 4. Chất liệu, kích thước, vị trí bài trí và niên đại linh vật Việt trong các di tích đình ở Hà Nội Chất liệu Khảo sát 619 linh vật Việt tại 194 di tích đình được xếp hạng cấp quốc gia cho thấy: 91% số linh vật (560 linh vật) là được làm bằng đá và xi măng, trong đó linh vật bằng đá chiếm 57%, bằng xi măng chiếm 34%. Có một đôi voi được làm bằng đá ong tại đình Trúc Động (huyện Thạch Thất). Loại hình bằng đá ong này hay bắt gặp tại khu vực Hà Tây cũ, có thể do cấu tạo địa chất nên vùng này có sẵn nguồn nguyên liệu đá ong. Số linh vật còn lại chưa đến 10% được làm bằng các nguyên liệu khác như đất, đất nện, gốm, sứ, gỗ Kích thước Các linh vật Việt có kích thước khác nhau, tuy nhiên đa số có kích thước không quá nhỏ, do là những linh vật được bài trí bên ngoài không gian nội thất của di tích. Linh vật rồng thành bậc có kích thước thông thường với chiều dài khoảng trên dưới 2m, chiều ngang khoảng 18 - 25cm và chiều cao khoảng 1m. Rất ít rồng có chiều dài trên 3m. Những rồng có kích thước chiều dài lớn thường là rồng thành bậc từ ngoài vào di tích, được tạo tác theo kiểu cách điệu là chỉ có họa tiết ở hai đầu, như rồng thành bậc lên tam quan ở đình So (huyện Quốc Oai) dài 8,9m, rồng cách điệu ở đình Mậu Hòa (huyện Hoài Đức) có chiều dài thành bậc xấp xỉ 10m, rồng thành bậc hay còn gọi là rồng trơn ở đình Kim Liên (quận Đống Đa) cũng có chiều dài trên 4m. Rồng có chiều dài khoảng 1m chỉ có 6 đôi, trong đó có 2 đôi rồng cách điệu ở chân nghi môn đình Chèm (quận Bắc Từ Liêm) có chiều dài 97cm, chiều rộng 15cm, chiều cao 35cm, có niên đại Lê Trung Hưng - Nguyễn. Các loại linh vật khác như: voi, hổ, chó, sư tử, nhất là những con bằng đá và xi măng, đa số có kích thước gần như con vật thật ở ngoài Số TT Tên linh vật Số lượng 1 Rồng 247 Trong đó rồng cách điệu 32 2 Nghê 184 3 Voi 84 4 Chó 17 5 Hổ 10 6 Ngựa 21 7 Rùa 12 8 Hạc 14 9 Sư tử 9 05 loại khác gồm 21 10 Cá chép 12 11 Cóc 4 12 Chuột 1 13 Kỳ lân 2 14 Sấu 2 Tổng cộng 619 Bảng 2. Cơ cấu linh vật Việt trong các di tích đình ở Hà Nội 9Số 32 (Tháng 6 - 2020) DI SẢN VĂN HÓA NGHIÊN CỨUVĂ N HÓA đời. Số những con vật có kích thước nhỏ dưới 50cm rất ít. Vị trí bài trí và niên đại Trong số các linh vật Việt hiện diện ở di tích đình, rồng là loại hay gặp nhất trên thành bậc lên đơn nguyên kiến trúc đầu tiên của đình, có những đôi niên đại sớm khá nổi tiếng như đôi rồng đá thời Lê ở đình Hà Hồi (huyện Thường Tín), đôi rồng đá đình Phương Quan (huyện Hoài Đức) có niên đại thế kỷ XVII - XVIII. Trên thành bậc hồ nước của đình, ngoài linh vật rồng, đôi khi còn bắt gặp linh vật cá chép thành bậc, như đôi cá chép thành bậc hồ nước ở đình Hào Nam (quận Đống Đa). Linh vật nghê chủ yếu được bài trí hai bên cửa hoặc hai bên lối vào di tích và phần nhiều là theo kiểu thức mặt quay hướng vào nhau như kiểu nghê đình Đông Khê và đình Đại Phùng (huyện Đan Phượng). Nghê cũng được bài trí vị trí thành bậc và có những đôi nghê rất đẹp và có giá trị về niên đại như đôi nghê đá thành bậc thế kỷ XIX ở đình Chàng Sơn (huyện Thạch Thất), nghê thành bậc đình Tây Tựu (quận Bắc Từ Liêm)... Nghê thường được bài trí theo kiểu ngồi chầu. Đáng chú ý có 3 đôi nghê cối cửa được làm bằng gỗ lim ở đình So và đình Ngô Sài (huyện Quốc Oai), đình làng Đông Ngạc (quận Bắc Từ Liêm), có niên đại cũ, thế kỷ XIX. Đôi nghê cối cửa ở đình Ngô Sài được bài trí nằm dọc theo cửa, mặt nhìn thẳng vào nhau, còn 2 đôi nghê ở đình So và đình làng Đông Ngạc bài trí nằm ngang cánh cửa, đầu hướng ra ngoài nhưng mặt vẫn ngoảnh vào nhau. Hai đôi nghê này có niên đại thế kỷ XIX và được tạo tác với dáng vẻ vui tươi rất sinh động. Có những loại linh vật thường được bài trí trong sân: voi đứng/ phủ phục chầu hai bên cổng hoặc trong sân đình như voi nằm phủ phục trong sân tại đình Trúc Động (huyện Thạch Thất); voi đứng chầu trong sân như đôi voi đình Ngô Sài (huyện Quốc Oai), hay đứng chầu hai bên cổng ở đình Khương Hạ (quận Thanh Xuân). Linh vật chó cũng được bài trí trong sân, nhưng khác với voi, chó thường đứng ở góc sân hay sát mép tường của sân như: chó đá ở đình Lai Xá (huyện Hoài Đức), chó đá đình Tình Quang (quận Long Biên), hoặc được bài trí ngay hai bên cổng lối vào di tích. Có những linh vật có giá trị về niên đại như: đôi chó đá cổ đeo chuông thế kỷ XVIII ngồi chầu hai bên cổng ở đình thờ Quận công Nguyễn Đình Huấn (huyện Gia Lâm), đôi chó đá đình Hà Hồi (huyện Thường Tín). Linh vật ngựa thường được bài trí đứng trong sân như đôi ngựa đá đình Hoàng Mai (quận Hoàng Mai), đứng hai bên cổng như đôi ngựa đá ở đình Hòa Mỹ (huyện Phú Xuyên), đôi khi được bài trí đứng đối diện voi như ở đình Thuấn Nhuế Nội (huyện Phúc Thọ). Linh vật rùa thường được bài trí trong tư thế đội bia như rùa đội bia bài trí đứng bên cạnh rồng thành bậc ở đình Phương Bảng (huyện Hoài Đức) hoặc tư thế rùa đội hạc đứng chầu lư hương giữa sân đình ở đình Canh Hoạch (huyện Thanh Oai). Có rất ít rùa được tạo tác trong tư thế không đội gì như đôi rùa ở đình Động Phí (huyện Ứng Hòa) được bài trí trên trụ cạnh bia tưởng niệm. Linh vật sư tử ở đình chỉ có 9 con được bài trí hai bên cổng đình, tư thế nằm phủ phục chầu hướng vào nhau như 2 sư tử đá đình Đống Vũ (huyện Ứng Hòa), sư tử ở đình Nhị Châu, đình Nội thờ Chu Văn An (huyện Thanh Trì), tư thế ngồi chầu hướng vào nhau trên bệ vào bia tưởng niệm ở đình Đông Dương (huyện Ứng Biểu đồ 1. Cơ cấu linh vật Việt trong các di tích đình ở Hà Nội Số 32 (Tháng 6 - 2020)10 NGHIÊN CỨUVĂ N HÓA Hòa). Một con sư tử đá hiện đặt sát góc sân lên thềm tại đình Hoàng Mai (huyện Hoàng Mai) có niên đại Nguyễn muộn. Linh vật hổ có 10 con được bài trí chầu hai bên cửa vào di tích, hướng mặt vào nhau như hổ đình Rùa Hạ (huyện Thanh Oai), hổ một con đen một con vàng ở đình Phú Diễn (huyện Thanh Trì), hoặc bài trí trong vườn, bên gốc cây như hổ ở đình Mễ Trì Thượng (quận Nam Từ Liêm), đình Hạ Hiệp (huyện Phúc Thọ), hay bài trí trên ban thờ cạnh bát hương như hổ ở đình Linh Đàm (quận Hoàng Mai). Các linh vật khác có rất ít và được bố trí rải rác trong khuôn viên đình, có thể kể đến 4 con cóc bài trí tại bốn góc thành bờ hồ hay đôi sấu trên bậc thềm tòa đại đình ở đình Dương Hà (huyện Gia Lâm) Một số linh vật mới làm, trong đó rồng thường được làm theo phong cách Nguyễn và Nguyễn muộn2. 5. Một vài nhận xét Trên địa bàn thành phố Hà Nội có tổng số 499 di tích thuộc loại hình di tích đình làng được xếp hạng cấp quốc gia tính đến năm 2015. Trong số này, chỉ có 194 di tích đình làng có linh vật Việt, số đình còn lại (305 di tích) không có linh vật Việt. Số lượng linh vật Việt được bài trí ở 28 trên tổng số 30 quận huyện. Chỉ có 2 quận huyện không có linh vật Việt ở di tích đình làng là thị xã Sơn Tây và huyện Mê Linh. Tổng số linh vật Việt ở 194 di tích là 619. Như vậy, nếu tính trung bình, mỗi quận huyện có khoảng 23 linh vật Việt và mỗi đình có khoảng 3 - 4 linh vật Việt. Đình có nhiều linh vật Việt nhất là đình Tây Tựu (quận Bắc Từ Liêm) với 12 linh vật, các đình có từ 10 đến 11 linh vật là đình Hoàng Mai (quận Hoàng Mai) với 11 linh vật, đình Sài Đồng, đình Tư Đình (huyện Long Biên) và đình làng Nhật Tân (quận Tây Hồ) với 10 linh vật. Trong số linh vật được bài trí ở đình làng, linh vật rồng và rồng cách điệu là có số lượng lớn nhất. Chúng thường được bài trí ở những nơi trang trọng nhất trong các di tích (thường là trước cửa ra vào của các đơn nguyên kiến trúc đầu tiên và là thành bậc từ sân đình lên tòa đại đình. Trong kiến trúc đình làng, bao giờ tòa đại đình cũng là tòa nhà to nhất, đẹp nhất và do đó cũng là trang trọng nhất). Đứng sau l