Luận văn Cải cách tư pháp nhằm đảm bảo quyền con người là vấn đề ưu tiên hàng đầu của Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam

Tư pháp là nhánh quyền lực quan trong trong hệ thống tổ chức quyền lực nhà nước. Tư pháp là lĩnh vực hoạt động nhằm đảm bảo nền an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, đảm bảo quyền tự do của con người, do đó vấn đề CCTP luôn là ưu tiên hàng đầu trong quá trình hoàn thiện bộ máy nhà nước theo hướng dân chủ, minh bạch và hiệu lực. CCTP là một yêu cầu hết sức quan trọng trong quá trình xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước hiện nay. Không phải đến bây giờ chúng ta mới có chủ trương CCTP, tư pháp luôn được xem như là một bộ phận trọng tâm cần phải cải cách để hoạt động có hiệu lực, hiệu quả nhằm đảm bảo các quyền tự do của công dân. Nhận thức được vấn đề này, trong quá trình xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước, Đảng và Nhà nước luôn giành sự quan tâm đặc biệt đến công tác CCTP. Ngay từ khi giành được độc lập, chúng ta đã bắt tay vào xây dựng bộ máy tư pháp với tiêu biến bộ máy đó thành “một cơ quan trọng yếu của chính quyền” (Hồ Chí Minh), và chỉ sau một thời gian ngắn, bộ máy tư pháp đã được thiết lập trên phạm vi cả nước. Tư pháp đã giữ một vị trí quan trọng đối với thắng lợi của cách mạng Việt Nam, là công cụ đảm bảo trật tự, công bằng xã hội, bảo vệ quyền con người. Bước vào thời kỳ đổi mới, trước yêu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường, đảm bảo các quyền tự do, dân chủ của công dân, đòi hỏi bộ máy tư pháp phải cải cách một cách triệt để và đồng bộ. Nhận thực được yêu cầu này, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi trọng vấn đề CCTP, trong các văn kiện đại hội Đảng, vấn đề xây dựng bộ máy nhà nước, trong đó có CCTP được xem là một nhiệm vụ quan trọng. Hơn thế nữa, Đảng Cộng sản Việt Nam đã cụ thể hoá các chủ trương này thành các nghị quyết chuyên đề về hoàn thiện hệ thống pháp luật, cải cách tư pháp; đó là, Nghị quyết số 48-NQ/TW; ngày 24/5/2005 Về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, Nghị quyết số 08-NQ/TW, ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Nghị quyết số 49-NQ/TW; ngày 02/6/2005 Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020

pdf120 trang | Chia sẻ: ttlbattu | Lượt xem: 2049 | Lượt tải: 3download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn Cải cách tư pháp nhằm đảm bảo quyền con người là vấn đề ưu tiên hàng đầu của Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
LUẬN VĂN: Cải cách tư pháp nhằm đảm bảo quyền con người là vấn đề ưu tiên hàng đầu của Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài 1.1. Cải cách tư pháp nhằm đảm bảo quyền con người là vấn đề ưu tiên hàng đầu của Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam. Tư pháp là nhánh quyền lực quan trong trong hệ thống tổ chức quyền lực nhà nước. Tư pháp là lĩnh vực hoạt động nhằm đảm bảo nền an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, đảm bảo quyền tự do của con người, do đó vấn đề CCTP luôn là ưu tiên hàng đầu trong quá trình hoàn thiện bộ máy nhà nước theo hướng dân chủ, minh bạch và hiệu lực. CCTP là một yêu cầu hết sức quan trọng trong quá trình xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước hiện nay. Không phải đến bây giờ chúng ta mới có chủ trương CCTP, tư pháp luôn được xem như là một bộ phận trọng tâm cần phải cải cách để hoạt động có hiệu lực, hiệu quả nhằm đảm bảo các quyền tự do của công dân. Nhận thức được vấn đề này, trong quá trình xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước, Đảng và Nhà nước luôn giành sự quan tâm đặc biệt đến công tác CCTP. Ngay từ khi giành được độc lập, chúng ta đã bắt tay vào xây dựng bộ máy tư pháp với tiêu biến bộ máy đó thành “một cơ quan trọng yếu của chính quyền” (Hồ Chí Minh), và chỉ sau một thời gian ngắn, bộ máy tư pháp đã được thiết lập trên phạm vi cả nước. Tư pháp đã giữ một vị trí quan trọng đối với thắng lợi của cách mạng Việt Nam, là công cụ đảm bảo trật tự, công bằng xã hội, bảo vệ quyền con người. Bước vào thời kỳ đổi mới, trước yêu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường, đảm bảo các quyền tự do, dân chủ của công dân, đòi hỏi bộ máy tư pháp phải cải cách một cách triệt để và đồng bộ. Nhận thực được yêu cầu này, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi trọng vấn đề CCTP, trong các văn kiện đại hội Đảng, vấn đề xây dựng bộ máy nhà nước, trong đó có CCTP được xem là một nhiệm vụ quan trọng. Hơn thế nữa, Đảng Cộng sản Việt Nam đã cụ thể hoá các chủ trương này thành các nghị quyết chuyên đề về hoàn thiện hệ thống pháp luật, cải cách tư pháp; đó là, Nghị quyết số 48-NQ/TW; ngày 24/5/2005 Về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, Nghị quyết số 08-NQ/TW, ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Nghị quyết số 49- NQ/TW; ngày 02/6/2005 Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Nghị quyết số 49-NQ/TW Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã đặt ra nhiệm vụ CCTP, theo đó làm cho “các cơ quan tư pháp phải thật sự là chỗ dựa của nhân dân trong việc bảo vệ công lý, quyền con người”1. Đây là một yêu cầu nhiệm vụ quan trọng trong xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước theo hướng NNPQ của Đảng; chính vì vậy việc nghiên cứu cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng CCTP để đề ra phương hướng, giải pháp đẩy mạnh CCTP nhằm đảm bảo các quyền con người ở nước ta trong giai đoạn từ nay đến năm 2020 là hết sức cần thiết cả về lý luận và thực tiễn. Việc nghiên cứu này, một mặt là sự tổng kết, đánh giá một cách khách quan quá trình thực hiện Nghị quyết 08-NQ/TW, Nghị quyết 49-NQ/TW, mặt khác nó cung cấp luận cứ khoa học cho việc tiếp tục đẩy mạnh CCTP, bổ sung cương lĩnh của Đảng về xây dựng bộ máy tư pháp trong sạch, vững mạnh, nghiêm minh, dân chủ, bảo vệ các quyền con người. 1.2. Cải cách tư pháp nhằm đảm bảo các quyền con người là yêu cầu quan trọng trong xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta Nhà nước pháp quyền (NNPQ) là một mô hình tổ chức nhà nước chống lại sự lạm quyền, đề cao, bảo vệ và tôn trọng các quyền con người. Quá trình xây dựng NNPQ đòi hỏi chính quyền phải chịu sự kiểm soát của pháp luật. NNPQ yêu cầu chính quyền phải chịu sự ràng buộc bởi pháp luật để bảo vệ con người, tư pháp là lĩnh vực có chức năng đảm bảo cho pháp luật được thực hiện và bảo vệ con người. Do đó, việc xây dựng NNPQ không thể tách rời với quá trình xây dựng, cải cách nền tư pháp, hướng tới một nền tư pháp công minh, độc lập, hiệu quả, bảo vệ các quyền con người. Chính vì vậy, để xây dựng thành công NNPQ ở Việt Nam, chúng ta cần phải đẩy mạnh CCTP nhằm đảm bảo tốt hơn các quyền con người- một giá trị không thể thiếu của NNPQ. Công cuộc CCTP trong bối cảnh xây dựng NNPQ đang đặt ra nhiều vấn đề cần phải giải quyết trên phương diện chính trị - pháp lý. Quá trình này đòi hỏi phải tôn trọng và bảo 1 Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết của Bộ Chính trị "Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020", (Nghị quyết số 49-NQ/TW), xem tại: www.cpv.org.vn/tulieu/vankien/adj/%123. vệ các quyền tự do của con người với tính chất là các giá trị xã hội cao quí, được thừa nhận chung của nền văn minh nhân loại, nếu như không được bảo vệ bằng hệ thống toà án công minh, độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, thì khó có thể xây dựng thành công NNPQ. Chính hoạt động CCTP sẽ góp phần làm cho: (1) cơ sở của quyền lực nhà nước thực sự là ý chí của nhân dân; (2) đảm bảo tính tối thượng của Hiến pháp và pháp luật trong tổ chức và hoạt động của bộ máy công quyền; (3) các quyền tự do của con người được đảm bảo thông qua những cơ chế pháp lý và hệ thống pháp luật. Xuất phát từ những bình diện đã phân tích trên cho thấy rằng việc CCTP nhằm đảm bảo các quyền con người ở Việt Nam là vấn đề cần được nghiên cứu một cách kỹ càng cả về lý luận và thực tiễn. 1.3. Xuất phát từ hoạt động của các cơ quan tư pháp, vấn đề cải cách tư pháp nhằm đảm bảo các quyền con người là yêu cầu bức thiết hiện nay. Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị, ngày 02/6/2005 Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã chỉ ra những hạn chế của công tác CCTP: “Chính sách hình sự, chế định pháp luật dân sự và pháp luật về tố tụng tư pháp còn nhiều bất cập, chậm được sửa đổi, bổ sung. Tổ chức bộ máy, chức năng nhiệm vụ, cơ chế hoạt động của các cơ quan tư pháp còn bất hợp lý… Vẫn còn tình trạng oan, sai trong điều tra, bắt, giam giữ, truy tố, xét xử”1. Những bất cập, hạn chế đó thể hiện cụ thể trong tổ chức và hoạt động tư pháp trên các mặt sau: - Sự tổ chức bất hợp lý của Toà án đã dẫn tới tình trạng quá tải trong việc xét xử các vụ án dân sự, hình sự, kinh tế, lao động ở các thành phố lớn. Qua các số liệu thống kê về thực tiễn xét xử của TAND các cấp cho thấy ở một số quận thuộc các thành phố lớn hàng năm số lượng các vụ án cần xét xử bao gồm: hình sự, kinh tế, dân sự, lao động, hành chính nhiều hơn số lượng các vụ án tương ứng ở một số tỉnh. Ở các quận này, trung bình một Thẩm phán một năm phải xét xử tới cả trăm vụ án, trong khi ở một số Tòa án thuộc các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa, mỗi năm mỗi Thẩm phán chỉ xét xử dăm bảy vụ án. Cũng với cách tổ chức tòa án như hiện nay, các Tòa chuyên trách được tổ chức ở 1 Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết của Bộ Chính trị "Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020", (Nghị quyết số 49-NQ/TW), xem tại: www.cpv.org.vn/tulieu/vankien/adj/%123 TAND tối cao và tất cả các TAND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nhằm mục đích là chuyên môn hóa công việc của các Thẩm phán. Tuy nhiên, điều này lại đang làm nảy sinh một số bất hợp lý: Thứ nhất, vì ở nước ta, các vụ án hình sự (VAHS) vẫn chiếm một tỷ lệ cao so với các loại án khác nên các Thẩm phán của Tòa hình sự luôn luôn phải làm việc với cường độ cao hơn nhiều so với các Thẩm phán khác và để khắc phục tình trạng này, các TAND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương lẫn Toàn phúc thẩm, TAND tối cao trên thực tế đều phải tăng cường Thẩm phán ở các Tòa khác sang xét xử các vụ án hình sự, vì vậy, mục đích chuyên môn hóa công tác xét xử của các Thẩm phán đã không thực hiện được; Thứ hai, việc tổ chức ra các tòa chuyên trách không được tiến hành đồng bộ với việc phân định thẩm quyền thụ lý hồ sơ vụ việc giữa các tòa, nên có tình trạng khi người dân đến nộp hồ sơ khởi kiện thì họ không biết nộp ở tòa nào vì có những trường hợp các tòa đều cho rằng vụ việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình. Điều này có nghĩa là việc tồn tại các tòa chuyên trách như cách hiện nay đang gây những khó khăn cho người dân khi tham gia vào các quan hệ tố tụng, đây là một hiện tượng không mang tính pháp quyền đang diễn ra trong thực tiễn xét xử. Với cách tổ chức toà án như hiện nay thì nguyên tắc “khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” còn đang có nhiều vướng mắc. Mặc dù được coi là một ngành dọc nhưng sự tồn tại và hoạt động của các tòa phải diễn ra và bị quản lý về mặt lãnh thổ của một cấp chính quyền nên luôn bị ảnh hưởng ít nhiều bởi cấp chính quyền tương đương. - Việc đổi mới hoạt động của Viện Kiểm sát nhân dân (VKSND) đối với nhiệm vụ kiểm sát tư pháp vẫn còn khá nhiều vấn đề chưa rõ. Nếu tính từ thời điểm tiến hành cải cách tổ chức và hoạt động của hệ thống VKSND theo các quy định của Hiến pháp năm 1992 sửa đổi và luật Tổ chức VKSND năm 2002 thì vẫn nhận thấy sự chưa rõ ràng về vị trí, thẩm quyền của VKSND trong các hoạt động kiểm sát, đặc biệt là về hình thức thực hiện và giới hạn của hoạt động kiểm sát trong lĩnh vực tư pháp về kinh tế, dân sự, lao động. - Những bất cập của hệ thống cơ quan tư pháp cũng bộc lộ rất rõ ở tình trạng chưa rõ ràng trong quan hệ trách nhiệm và cơ chế phối hợp giữa các cơ quan điều tra; ở tính phức tạp, chồng chéo, nhiều đầu mối và không hiệu quả của hệ thống cơ quan thi hành án; ở cơ chế không mấy thuận lợi cho việc thực hiện chế độ tranh tụng và phát huy vai trò của Luật sư; ở những hạn chế trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan quản lý tư pháp và các cơ quan bổ trợ tư pháp… - Đội ngũ cán bộ tư pháp còn thiếu về số lượng, hạn chế về trình độ và năng lực nghiệp vụ, một bộ phận tiêu cực, thiếu trách nhiệm, thiếu bản lĩnh, sa sút về phẩm chất. Đó cũng là tình trạng cơ sở vật chất, điều kiện làm việc của các cơ quan tư pháp chưa đáp ứng được yêu cầu công tác, nhất là ở cấp huyện nhiều nơi trụ sở còn rất chật chội, phương tiện làm việc vừa thiếu vừa lạc hậu, chính sách đối với cán bộ tư pháp chưa tương xứng với nhiệm vụ và chức trách được giao. Thực trạng trên cho thấy, mặc dù đã có những nỗ lực rất lớn nhưng mô hình tổ chức và hoạt động hiện nay vẫn đang hạn chế đáng kể hiệu quả của hoạt động tư pháp. Trong bối cảnh xây dựng NNPQ XHCN đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục đẩy mạnh CCTP nhằm mục tiêu đảm bảo một cách tốt nhất các quyền con người. Từ những luận giải trên cho thấy, CCTP nhằm đảm bảo các quyền con người cần phải được tiếp tục nghiên cứu một cách toàn diện cả về lý luận lẫn hoạt động thực tiễn. Đây là một việc làm hết sức cấp bách và cần thiết, đòi hỏi chúng ta phải có sự nghiên cứu đầy đủ về vấn đề này, qua đó cung cấp luận cứ khoa học cho việc đẩy mạnh cải cách tư pháp, đưa ra những phương hướng và giải pháp đẩy mạnh hoạt động CCTP nhằm đảm bảo quyền con người trong giai đoạn hiện nay. 2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 2.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài Kể từ khi xuất hiện xã hội giai cấp, ý tưởng và mong muốn về một xã hội tự do, bình đẳng, được bảo vệ và tôn trọng các quyền con người luôn là ước mơ cháy bỏng của nhân loại. Những ý tưởng này, thoạt nhiên ban đầu chưa được thể chế hoá thành luật pháp, nó chỉ tồn tại trong văn học thành văn và truyền miệng, hay trong các triết lý tôn giáo. Khởi đầu của sự phân chia giai cấp là sự ra đời của xã hội chiếm hữu nô lệ và Nhà nước chiếm hữu nô lệ, với bản chất giai cấp là công cụ duy trì sự thống trị, đàn áp của giai cấp chủ nô đối với nô lệ. Nô lệ, khi ấy hoàn toàn không được coi là con người, chỉ là “công cụ lao động biết nói”, vì vậy cũng không thể nói có quyền con người. Và nói như V.I. Lenin: “Nhà nước chủ nô bao giờ cũng là một bộ máy đem lại cho chủ nô quyền lực và khả năng cai trị tất cả những người nô lệ… là một bộ máy để duy trì những người nô lệ trong địa vị phụ thuộc và cho phép một bộ phận này của xã hội (giai cấp chủ nô) cưỡng bức và đàn áp bộ phận kia (giai cấp nô lệ)”1, còn nói theo Jean Jacques Rousseau thì: “quyền nô lệ là con số không, chẳng những nó không chính đáng, mà còn mơ hồ, vô nghĩa lý. Chữ nô lệ và chữ quyền là hai chữ mâu thuẫn nhau, bài trừ lẫn nhau. Nói quyền nô lệ của một người đối với một người hay của một người đối với một dân tộc đều là nói điều vớ vẩn”2. So với xã hội nô lệ, địa vị của người nông dân trong xã hội phong kiến có khác hơn, nhưng “trên thực tế địa vị của người nông dân chỉ khác rất ít địa vị của nô lệ trong xã hội chiếm hữu nô lệ”, bởi lẽ “ở đâu người nông dân đều bị đối xử như là một đồ vật, như là một súc vật thô hoặc còn tồi tệ hơn nữa”, và cũng như nhà nước chiếm hữu nô lệ, nhà nước phong kiến với các thiết chế tổ chức và pháp luật phải bảo vệ chế độ sở hữu của địa chủ phong kiến, duy trì các hình thức bóc lột phong kiến, trấn áp nông dân và các tầng lớp lao động khác. Cùng với nhà nước là nhà thờ với các thiết chế tôn giáo hà khắc đã vi phạm các quyền con người một cách nghiêm trọng, điều này đã dẫn tới sự phản kháng của các tầng lớp bị áp bức, song những sự phản kháng này cũng nhanh chóng bị dẹp tan. Ý tưởng đề cao các giá trị nhân văn, nhân bản, các quyền tự do chỉ phát triển một cách mạnh mẽ ở thời kỳ Khai sáng. Đây là thời kỳ xuất hiện các trào lưu tư tưởng đề cao tính pháp quyền, quyền tự do của công dân phát triển một cách hết sức mạnh mẽ, nó trở thành ngọn cờ của giai cấp tư sản kêu gọi đông đảo những người bị áp bức chống lại các giai cấp tầng lớp đối lập với lợi ích của giai cấp tư sản. Trong thời kỳ này, đã xuất hiện nhiều tác phẩm cổ vũ quyền tư do cá nhân, đòi nhà nước phải pháp lý hoá các quyền con người và đảm bảo thực hiện trên thực tế. Ở giai đoạn này có thể kể đến các công trình nghiên cứu tiêu biểu như: Những thành tố của pháp luật 1 V.I. Lenin (1905), Toàn tập, tiếng Việt, Nxb. Tiến bộ, Mat-cơ-va, 1978, tr. 85. 2 Jean Jacques Rousseau (1762), Bàn về khế ước xã hội, Nxb. Lý luận chính trị, Hà Nội, 2005, tr. 39. tự nhiên và chính trị (The Elements of Law Natural and Politic, 1649), Công dân (The Citizent, 1651), của T. Hobber; Chuyên luận thứ hai về chính quyền dân sự (The Second Treatise of Civil Government, 1690), Lá thư về sự khoan dung (The Letter on Toleration, 1692)… của J. Locke; Những lá thư Ba Tư (Lettres Persanes, 1721), Tinh thần pháp luật (The Spirit of the Laws, 1748),.. của C.L. Mongtesquier; Khế ước xã hội (The Social Contract, 1762), của J.J. Rousseau… Theo các nhà tư tưởng thời kỳ Khai sáng, con người đã trải nghiệm để tìm các phương thức và các thiết chế để đảm bảo, quyền lợi của mình. Trong xã hội phong kiến, khi mọi quyền hành nằm trọn vẹn trong tay một người - nhà vua, vua nắm quyền lực tối cao trong việc ban hành pháp luật, thi hành luật pháp và thực hiện việc xét xử, thì mọi biểu hiện của tự do, công lý và bình đẳng đều trở nên xa lạ. Quyền con người là những quyền tự nhiên, không thể bị tước đoạt bởi giai cấp thống trị, Locke đã chỉ ra rằng: “trong “trạng thái tự nhiên” con người có các quyền tự do, bình đẳng và tư hữu. Các quyền này bắt nguồn từ bản chất muôn đời và bất biến của con người và bởi vậy không ai có thể làm thay đổi được chúng”1. Montesquieu trong Tinh thần của pháp luật đã phát triển thêm tư tưởng của Locke về quyền tự nhiên và cho rằng “trong trạng thái tự nhiên, mọi người sinh ra bình đẳng”2 và sau này trong Bàn về khế ước xã hội, Jean-Jacques Rousseau nhà tư tưởng vĩ đại trong thời Khai sáng cũng đã viết: Người ta sinh ra tự do, nhưng rồi đâu đâu con người cũng sống trong xiềng xích3, vậy tự do và quyền con người là cơ sở tự nhiên, nhưng sự mất tự do, quyền con người chính là do chế độ nhà nước, chế độ xã hội. Sự xuất hiện khái niệm quyền con người trong thời kỳ cách mạng tư sản với nội dung ban đầu là quyền sống, quyền tự do, quyền bình đẳng và quyền tư hữu; tiếp đến chế định quốc tịch, quyền bầu cử của công dân được thiết lập và khẳng định, đó là các quyền tự nhiên, gắn với mỗi cá nhân. Các quyền tự nhiên đó của con người từ chỗ chỉ là yêu sách đến 1 Locke (1690), Chuyên luận thứ hai về chính quyền dân sự (The Second Treatise of Civil Government), bản dịch của Trần Tiễn Cao Đăng, Nxb. Tri thức, Hà Nội, 2003, tr.80. 2 C.L. Mongtesquier (1748), Tinh thần pháp luật (The Spirit of the Laws), bản dịch của Hoàng Thanh Đạm, Nxb. Lý luận chính trị, Hà Nội, 2005, tr.87. 3 J.J. Rousseau (1762), Khế ước xã hội (The Social Contract), bản dịch của Hoàng Thanh Đạm, Nxb. Lý luận chính trị, Hà Nội, 2005, tr.34. sự ghi nhận, bảo đảm bằng pháp luật của nhà nước do Nghị viện ban hành, và lúc đó sẽ nảy sinh việc phán xét các vi phạm quyền con người cũng như các thiết chế quyền lực để bảo vệ quyền con người, đó là các thiết chế tư pháp. Và chỉ đến lúc này mới xuất hiện yêu cầu cải cách, cải tổ các thiết chế quyền lực nhà nước để đảm bảo thực hiện tốt các quyền con người, trong đó có cải cách trên lĩnh vực tư pháp. Cải cách bộ máy nhà nước để quản lý xã hội một cách hiệu quả, đảm bảo việc thực hiện các quyền con người là yêu cầu đặt ra đối với sự phát triển dân chủ ở mỗi quốc gia. Cùng với đó, vào giữa thế kỷ XX, vấn đề quyền con người trở thành vấn đề mang tính toàn cầu, thu hút được sự quan tâm của nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế. Các công trình nghiên cứu về quyền con người ở giai đoạn này tập trung vào nhiều vấn đề như quyền dân sự, chính trị, văn hoá; quyền của các nhóm dễ bị tổn thương… Chúng ta thấy, có sự kết hợp chặt chẽ, sự giao thoa của hai vấn đề nghiên cứu, đó là cải cải tư pháp và quyền con người. Trong hoạt động thực tiễn, quyền con người chỉ được đảm bảo thực hiện nghiêm túc khi có sự đảm bảo bởi một nền tư pháp nghiêm minh, hiệu lực. Trong khuôn khổ nghiên cứu này, chúng tôi chỉ liệt kê, mô tả các công trình nghiên cứu cải cách tư pháp có liên quan đến việc đảm bảo quyền con người. Hoạt động tư pháp là hoạt động có tác động mạnh mẽ đến việc thực hiện quyền tự do, quyền dân chủ, quyền sống của con người, nó biểu hiện qua các hoạt động tư pháp như: khởi tố, điều tra, tạm giam, tạm giữ, xét xử, thi hành án… Các công trình nghiên cứu này thường được chia làm hai loại: (1) các công trình nghiên cứu của cá nhân; (2) các báo cáo, văn kiện của các tổ chức quốc tế. - Danh mục các công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài có liên quan đến đề tài: 1. Locke (1690), Chuyên luận thứ hai về chính quyền dân sự (The Second Treatise of Civil Government), bản dịch của Trần Tiễn Cao Đăng, Nxb. Tri thức, Hà Nội, 2003, tr.80. 2. Mongtesquier (1748), Tinh thần pháp luật (The Spirit of the Laws), bản dịch của Hoàng Thanh Đạm, Nxb. Lý luận chính trị, Hà Nội, 2005; 3. J.J. Rousseau (1762), Khế ước xã hội (The Social Contract), bản dịch của Hoàng Thanh Đạm, Nxb. Lý luận chính trị, Hà Nội, 2005; 4. Locke (1690), Chuyên luận thứ hai về chính quyền dân sự (The Second Treatise of Civil Government), bản dịch của Trần Tiễn Cao Đăng, Nxb. Tri thức, Hà Nội, 2003; 5. S. Ogourtsov (1985), Sự tham gia của RSS ở Biélorussie vào cuộc đấu tranh cho quyền con người Minsk : Ed. Belarus; 6. F.A. Hayek and Raymond plant / Joãn Carlos Espada (1996), Quyền dân sự xã hội MacMillan press Ltd St. Martin''s press, Inc; 7. Liên hiệp quốc (1992), Những quyết định được lựa chọn bởi Uỷ ban nhân quyền dưới dạng nghị định thư mang tính lựa chọn: Hội nghị quốc tế về quyền công dân và quyền chính New York Geneva : Vol.5 IV, 194p.; 8. Liên hiệp quốc (2004), Nghị định thư Istanbul: Ghi nhận về những điều tra và những bằng chứng dùng nhục hình và những sự hành hạ khác trong việc đối xử và trừng phạt con người Geneva New York: X, 75p:fing; 28cm (Professional traning series; No.8 / rev.1); 9. Liên hiệp quốc (2005) Quyền con người và tù nhân: Những ghi nhận về thực thi quyền con người của các giám thị nhà tù New York Geneva : United Nations, 2005-IX, 221p; 2.2. Tình hình nghiên cứu ở trong nước Nghiên cứu về CCTP, đảm bảo quyền con người là vấn đề được Đảng, Nhà nước cùng các nhà khoa h
Tài liệu liên quan