Một số dạng của nitơ trong môi trường nước tại trang trại chăn nuôi lợn trên địa bàn Hà Nội

Các kết quả phân tích cho thấy, nồng độ của các hợp chất của Nitơ trong môi trường nước có sự khác biệt khá rõ theo mùa trong năm, cụ thể vào mùa mưa nồng độ các chất ô nhiễm thường thấp hơn so với trong mùa khô (Bảng 2, 3; Hình 2, 3). Đây được cho là kết quả của quá trình pha loãng chất ô nhiễm bởi nước mưa và tác động của yếu tố nhiệt độ đến sự bay hơi của các chất ô nhiễm trong nguồn thải. * Tnh hRmng bmi các tính chVt vZt lý cpa nRkc Theo lý thuyết các tính chất vật lý của nước như pH, Eh và nhiệt độ có ảnh hưởng khá lớn đến sự chuyển hóa và nồng độ của các dạng Nitơ trong môi trường nước. Tuy nhiên, qua phân tích tương quan cho thấy chỉ có t0 là có ảnh hưởng rõ nhất đến sự tồn tại của các dạng Nitơ trong cả nước thải sau biogas, nước mặt và nước ngầm; sự ảnh hưởng của pH và Eh đến các dạng Nitơ trong nước không được thể hiện rõ (Bảng 4).

pdf7 trang | Chia sẻ: thanhle95 | Lượt xem: 357 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Một số dạng của nitơ trong môi trường nước tại trang trại chăn nuôi lợn trên địa bàn Hà Nội, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tóm tắt Nghiên cứu được thựchiện tại 30 trang trạichăn nuôi lợn thuộc địa bàn thị xã Sơn Tây và huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội để đánh giá một số dạng Nitơ trong môi trường nước làm cơ sở tính toán dòng vận chuyển nitơ trong các trang trại chăn nuôi. Kết quả cho thấy, nồng độ trung bình của các dạng Nitơ (NO3 -, NH4 + và T-N) trong cả nước thải sau biogas, nước trong ao cá, kênh, mương tự nhiên và nước ngầm đều ở mức khá cao. Môi trường nước mặt và nước ngầm trong các trang trại đều đang bị ô nhiễm các hợp chất của nitơ do đó cần phải có biện pháp giảm thiểu ô nhiễm và tận dụng nguồn nitơ có trong phân thải cho sản xuất nông nghiệp. I. ĐẶT VẤN ĐỀ Kể từ khi Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị quyết 03/2000/NQ-CP ngày 02/2/2000 của Chính phủ về phát triển kinh tế trang trại, các trang trại chăn nuôi ở nước ta phát triển mạnh mẽ. Tính đến cuối năm 2012, nước ta có tổng số 8.133 trang trại chăn nuôi, trong đó số lượng trang trại chăn nuôi lợn chiếm tỷ lệ cao nhất (Tổng cục Thống kê, 2013). Thành phố Hà Nội có tổng số 911 trang trại chăn nuôi (chiếm 73,88% tổng số trang trại của toàn thành phố), trong đó các trang trại chăn nuôi lợn là 216 trang trại, chiếm 23,71% (Tổng cục Thống kê, 2013). Điều này cho thấy, tình hình phát triển các trang trại chăn nuôi lợn của Hà Nội diễn ra khá mạnh trong những năm qua. Các trang trại chăn nuôi lợn đang tác động mạnh mẽ tới chất lượng môi trường đất, nước, không khí do lượng chất thải phát sinh lớn lại không được xử lý triệt để. Phân lợn và nước thải chuồng trại được cho là những nguồn gây ô nhiễm nước mặt một cách nhanh chóng bởi có chứa nồng độ cao của nhiều chất ô nhiễm, trong đó có các hợp chất của nitơ. Hàm lượng N trong phân lợn là vào 0,30%; trong khi đó nước thải chuồng nuôi lợn cũng có nồng độ Nitơ tổng số cao dao động từ 1.500 – 15.200 mgN/l (Muder A., 2003). Quá trình phân hủy chất thải chăn nuôi lợn cũng phát sinh nhiều hợp chất khí của Nitơ như: NH3, NOXgây mùi khó chịu và góp phần gia tăng hiệu ứng nhà kính. MỘT SỐ DẠNG CỦA NITƠ TRONG MÔI TRƯỜNG NƯỚC TẠI TRANG TRẠI CHĂN NUÔI LỢN TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI Cao TrRlng SQn, Bùi Phùng Khánh Hòa, Hh Thd Lam Trà ĐSi hec Nông nghibp Hà Nji K^t quU nghiên cqu KHCN Taïp chí Hoaït ñoäng KHCN An toaøn - Söùc khoûe & Moâi tröôøng lao ñoäng, Soá 1,2&3-201440 Việc quản lý không tốt chất thải phát sinh từ các trang trại chăn nuôi lợn, đã và đang gây ra những vấn đề ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, đặc biệt là đối với môi trường nước xung quanh các khu vực chăn nuôi lợn tập trung (Hồ Thị Lam Trà và cộng sự, 2010; Phùng Đức Tiến và cộng sự, 2009). Kết quả quan trắc chất lượng nước mặt tại các trang trại chăn nuôi lợn trên địa bàn tỉnh Hưng Yên đã cho thấy nước mặt ở hầu hết các trang trại chăn nuôi lợn đều bị ô nhiễm ở các mức độ khác nhau (Cao Trường Sơn và cộng sự, 2014). Nghiên cứu của Ngô Ngọc Hưng và Huỳnh Kim Định (2008) đã chỉ rõ nước mặt xung quanh các trang trại chăn nuôi lợn ở khu vực miền Nam đều có nồng độ NH4+ vượt quá mức quy định của tiêu chuẩn môi trường Những nghiên cứu này đã chỉ rõ về ô nhiễm môi trường do các trang trại chăn nuôi lợn gây ra ở nước ta trong thời gian qua. Trên thực tế các chất dinh dưỡng, đặc biệt là Nitơ có trong chất thải chăn nuôi lợn có thể sử dụng để làm nguồn cung cấp chất dinh dưỡng hữu ích cho cây trồng hoặc các vật nuôi khác. Do đó, trên thế giới đã có nhiều nhà khoa học và tổ chức tiến hành nghiên cứu các vấn đề liên quan tới cân bằng chất dinh dưỡng nói chung và cân bằng nitơ nói riêng để tận dụng nguồn dinh dưỡng, quản lý, sử dụng chất thải và bảo vệ môi trường cho các trang trại như: Alfaro và các cộng sự (2009) đã tính cân bằng nitơ cho các trang trại chăn nuôi bò; Richard và các cộng sự (2005) đã nghiên cứu đánh giá hệ thống môi trường bằng cân bằng nitơ cho trang trại; Nghiên cứu cân bằng nitơ cho vùng Bắc Âu được Lauwers và các cộng sự thực hiện 2004; Ở nước ta, nghiên cứu về ô nhiễm nitơ trong nước mặt, nước ngầm trong khu vực canh tác lúa (Kurosawa và cộng sự, 2005), trên các khu vực chăn nuôi lợn tập trung (Hồ Lam Trà và cộng sự, 2008; Cao Trường Sơn và cộng sự, 2014) đã được tiến hành. Dự án hợp tác giữa trường Đại học Kyushu Nhật Bản và trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội tiến hành nghiên cứu vòng tuần hoàn Nitơ trên đồng ruộng (Kurosawa và cộng sự 2006, 2008). Nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước đã chỉ rõ hiện trạng ô nhiễm môi trường bởi các hợp chất nitơ, đặc biệt là tại các khu vực canh tác nông nghiệp và chăn nuôi tập trung. Các nghiên cứu này cũng chỉ ra phương pháp đánh giá sự vận chuyển của các dòng dinh dưỡng và áp dụng cân bằng chất dinh dưỡng để bảo vệ môi trường cho các trang trại. Do đó, nghiên cứu này được thực hiện nhằm: Chỉ rõ hiện trạng Nitơ trong môi trường nước (nước mặt và nước ngầm); và đưa ra các biện pháp điều chỉnh nồng độ Nitơ hợp lý cho các trang trại chăn nuôi lợn góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước và tận dụng nguồn Nitơ dinh dưỡng trong chất thải. II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1. Đối tượng nghiên cứu Các dạng của Nitơ (NH4 + , NO3 - và T-N) trong môi trường nước (nước mặt và nước ngầm) của các trang trại chăn nuôi lợn tập trung. 2.2. Phương pháp nghiên cứu * PhRQng pháp chen đi`m nghiên cqu Đề tài được thực hiện tại 30 trang trại thuộc thị xã Sơn Tây và huyện Ứng Hòa (2 địa phương có số lượng trang trại chăn nuôi lợn cao) của Hà Nội. * PhRQng pháp thu thZp sg libu thq cVp Thu thập số liệu thứ cấp từ các công trình nghiên cứu, các báo cáo, bài báo khoa học và các số liệu thống kê sẵn có từ các cơ quan chức năng như UBND huyện Ứng Hòa, thị xã Sơn Tây, phòng Chăn nuôi thuộc sở Nông nghiệp thành phố Hà Nội... * PhRQng pháp đi_u tra bUng hfi Thiết kế bảng hỏi để tiến hành điều tra đối với các chủ trang trại về các thông tin tình hình chăn nuôi lợn của các trang trại Quá trình điều tra bảng hỏi được tiến hành tại 30 trang trại trên địa bàn nghiên cứu. * PhRQng pháp lVy mYu phân tích Để theo dõi, đánh giá dòng Nitơ trong môi trường nước của các trang trại chăn nuôi lợn, chúng tôi đã tiến hành lấy các mẫu nước như sau: K^t quU nghiên cqu KHCN 41Taïp chí Hoaït ñoäng KHCN An toaøn - Söùc khoûe & Moâi tröôøng lao ñoäng, Soá 1,2&3-2014 Nước mặt: Được lấy ở độ sâu 20 cm tại một số khu vực như: Nước ao nuôi cá (15 mẫu); nước ao, kênh, mương tự nhiên xung quanh các trang trại (10 mẫu) và nước thải sau khi qua hệ thống Biogas trong các trang trại (05 mẫu). Nước ngầm: Được lấy tại 30 giếng khoan đang sử dụng trên các trang trại chăn nuôi lợn. Quá trình lấy mẫu nước được tiến hành 2 lần, vào mùa mưa và mùa khô năm 2013. Quy trình lấy mẫu nước mặt tuân thủ theo quy định của TCVN 5994-1995; nước ngầm tuân thủ theo TCVN 6000-1995. * PhRQng pháp phân tích Các thông số như: pH, Eh, nhiệt độ trong nước mặt và nước ngầm được đo ngay sau khi lấy mẫu bằng máy đo pH/Eh/t0 cầm tay. Các thông số: NH4 +, NO3 - và T–N (Nitơ tổng số) được phân tích trong phòng thí nghiệm theo thủ tục quy định hiện hành của Bộ Tài nguyên và Môi trường, cụ thể: NH4 + phân tích theo TCVN 6179-1996; NO3 - phân tích theo TCVN 7323-2: 2004; và T-N phân tích theo TCVN 6638:2000. * PhRQng pháp so sánh Chúng tôi tiến hành so sánh các kết quả phân tích với QCVN 08:2008/BTNMT-Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước mặt và QCVN 09: 2008/BTNMT-Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước ngầm; QCVN 40: 2011/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về nước thải công nghiệp. * PhRQng pháp xr lý sg libu Các số liệu, kết quả của đề tài được xử lý trên phần mềm Excel 2007. III. KẾT QUẢ 3.1. Quy mô chăn nuôi và nguồn chất thải phát sinh Theo kết quả điều tra tại 30 trang trại trên địa bàn nghiên cứu, quy mô chăn nuôi của các trang trại là từ 70 – 3.000 con lợn thịt/trang trại; 5 – 450 con lợn nái/trang trại; tổng số lợn nuôi bình quân là 747 con/trang trại (Bảng 1). Với quy mô nói trên thì mỗi một trang trại lợn phát sinh gần 1,5 tấn phân thải và gần 300 m3 nước thải trong một ngày đêm. 3.2. Nồng độ của Nitơ trong môi trường nước trên các trang trại. Tại các trang trại chăn nuôi lợn, nguồn tiếp nhận dòng thải từ các chuồng nuôi thường là hệ thống các ao nuôi cá hoặc các ao, hồ, kênh, mương xung quanh. Có hai cách đưa chất thải vào các nguồn nước mặt: Trực tiếp (không qua xử lý); gián tiếp (Qua hệ thống xử lý thường là Biogas) (Hình 1). Sự di chuyển của Nitơ tại các trang trại chăn nuôi lợn vào môi trường nước được trình bày trong Hình 1. * NitQ trong nguhn thUi Theo Muder, A (2003) hàm lượng N trong phân lợn là 0,3% và trong nước thải là từ 1.500 – 15.200 mgN/l, như vậy theo quy mô trang trại chăn nuôi lợn của khu vực nghiên cứu (Bảng 1), mỗi ngày bình quân 1 trang trại chăn nuôi lợn sẽ tạo ra 4,5 kg N trong phân thải và từ 0,45 đến 4,54 tấn N trong nước thải. Đây có thể là nguồn N dồi dào để cung cấp cho sản xuất nông nghiệp nhưng cũng có thể là nguồn gây ô nhiễm nghiêm trọng đối với môi trường nếu như không được quản lý hiệu quả. * NitQ trong nRkc thUi sau xr lý Biogas Sau khi phân thải và nước thải được đưa vào bể biogas, nồng Vaät nuoâi (con) Giaù trò Lôïn thòt Lôïn naùi Toång Phaân thaûi (kg/ngaøy) Nöôùc thaûi (m3/ngaøy) Nhoû nhaát 70 5 80 70 5 Lôùn nhaát 3.000 450 3.000 3.000 450 Trung Bình 705 67 747 705 67 Toång 19.030 1.134 20.164 19.030 1.134 BUng 1: Quy mô chăn nuôi và nguhn chVt thUi phát sinh cpa các trang trSi *Định mức thải của Cục Chăn nuôi (phân thải: 2,0 kg/con/ngày và nước thải: 0,4 m3/con/ngày) K^t quU nghiên cqu KHCN Taïp chí Hoaït ñoäng KHCN An toaøn - Söùc khoûe & Moâi tröôøng lao ñoäng, Soá 1,2&3-201442 độ các hợp chất của Nitơ đã được giảm đi đáng kể do quá trình phân hủy yếm khí trong bể biogas, tuy nhiên, nồng độ của các hợp chất Nitơ trong nước thải sau Biogas vẫn ở mức rất cao, đặc biệt là mùa khô, nồng độ NH4 + cao nhất gấp hơn 3 lần nồng độ NH4 + cho phép. Tổng lượng Nito cao nhất trong nước vào mùa khô cao gấp 9 lần tổng lượng Nito cho phép (Bảng 2). * NitQ trong nRkc m]t Nồng độ các hợp chất của Nitơ trong nước mặt tại các trang trại chăn nuôi lợn được trình bày trong Bảng 3. Theo kết quả bảng 3, nồng độ NO3 - trong nước của các ao cá là khá thấp, trung bình là 0,22 mg/L và 0,80 mg/L trong mùa mưa và mùa khô; NH4 + và T-N có nồng độ khá cao. NH4 + trung bình là 0,17 mg/L trong mùa mưa và 1,36 mg/L trong mùa khô. Trong khi đó, T-N có nồng độ trung bình là 8,34 mg/L trong mùa mưa và 30,8 mg/L trong mùa khô. Nồng độ của các dạng Nitơ trong các kênh, mương, ao hồ tự nhiên có xu hướng khá tương đồng với nồng độ của chúng trong nước của các ao cá, nhưng có giá trị nồng độ cao hơn trong cả mùa mưa và mùa khô. * NitQ trong nRkc ngWm Nồng độ của các dạng Nitơ trong nước ngầm của các trang trại chăn nuôi lợn trên địa bàn nghiên cứu được chỉ ra trong Hình 2. BUng 2: Nhng đj cpa các hnp chVt NitQ trong nRkc thUi sau Biogas tSi trang trSi chăn nuôi lnn trên đda bàn nghiên cqu Hình 1: St di chuy`n cpa NitQ tSi các trang trSi chăn nuôi lnn vào môi trRlng nRkc NO3- (mg/L) NH4+ (mg/L) T-N (mg/L) Giaù trò Muøa möa Muøa khoâ Muøa möa Muøa khoâ Muøa möa Muøa Khoâ Min 0.03 0.03 0.01 11.55 9.80 30.80 Max 1.70 1.93 1.45 16.42 25.20 190.40 Ave 0.76 1.13 0.51 14.48 16.10 110.60 n = 5 SD 0.80 0.84 0.65 2.07 7.63 73.10 QCVN 40* - 5,40 21,60 BUng 3: Nhng đj cpa các hnp chVt Nito trong nRkc m]t cpa các trang trSi chăn nuôi lnn trên đda bàn nghiên cqu NO3- (mg/L) NH4+ (mg/L) T-N (mg/L) Nguoàn nöôùc Giaù trò Thoáng keâ Muøa möa Muøa khoâ Muøa möa Muøa khoâ Muøa möa Muøa khoâ Nhoû nhaát 0,01 0,01 0,01 0,38 2,80 16,80 Lôùn nhaát 1,81 6,16 0,67 7,20 14,00 44,80 Trung bình 0,22 0,80 0,17 1,36 8,24 30,80 Nöôùc ao caù (n = 15) SD 0,50 1,46 0,21 1,59 3,09 6,86 Nhoû nhaát 0,01 0,04 0,04 0,77 2,80 14,00 Lôùn nhaát 1,23 1,56 4,05 14,93 44,80 72,80 Trung bình 0,23 0,68 1,33 10,00 12,44 40,42 Nöôùc keânh, möông ao, hoà töï nhieân (n = 10) SD 0,40 0,44 1,59 6,23 12,88 17,07 Ghi chú: *Giá trị Cmax tính theo hệ số kq = 0,6 và kf =0,9 K^t quU nghiên cqu KHCN 43Taïp chí Hoaït ñoäng KHCN An toaøn - Söùc khoûe & Moâi tröôøng lao ñoäng, Soá 1,2&3-2014 thải ra ngoài môi trường như quy định của QCVN40. Do đó, nước thải sau biogas khi thải ra môi trường vẫn có nguy cơ gây ô nhiễm cao cho các nguồn nước tiếp nhận. * NitQ trong nRkc m]t Kết quả so sánh nồng độ trung bình của NO3 - và NH4 + trong nước mặt với QCVN08/Cột A2 – Quy chuẩn chất lượng nước mặt bảo đảm đời sống thủy sinh cho thấy nồng đồ NO3 - vẫn còn ở mức thấp hơn nhiều so với ngưỡng cho phép, tuy nhiên, nồng độ NH4 + lại vượt quá mức cho phép nhiều lần, cụ thể NH4 + trong nước mặt tại các kênh, mương, ao, hồ tự nhiên vượt 6,7 lần trong mùa mưa và 50 lần trong mùa khô; đối với các ao nuôi cá mức độ ô nhiễm có phần thấp hơn, trong mùa mưa nồng độ NH4 + vẫn nằm dưới ngưỡng cho phép nhưng trong mà khô đã vượt quá 6,8 lần (Hình 3). Kết quả này cho thấy, hiện lượng Nitơ trong nước mặt đang quá nhiều cần phải có biện pháp điều chỉnh phù hợp. Bởi lẽ, dù nitơ là một chất dinh dưỡng cần thiết cho sinh vật nhưng nếu ở nồng độ quá cao sẽ làm ảnh hưởng xấu đến sự sinh trưởng, phát triển của các sinh vật thủy sinh. Mặt khác, nitơ trong nước mặt ở nồng độ cao sẽ thúc đẩy quá trình phú dưỡng gây suy thoái các thủy vực và làm chết các loài sinh vật sống trong nước. * NitQ trong nRkc ngWm Theo quy định của QCVN09/BTNMT (Quy chuẩn - Dữ liệu trong Hình 2 cho thấy, nồng độ trung bình của NO3 - trong nước ngầm là 1,19 mg/L trong mùa mưa và 1,14 mg/L trong mùa khô; NH4+ đạt giá trị bình quân 0,61 và 2,51 mg/L lần lượt cho mùa mưa và mùa khô. Trong khi đó nồng độ trung bình của T-N trong nước ngầm ở cả mùa mưa và mùa khô là khá cao với 4,76 mg/L trong mùa mưa và 16,89 mg/L trong mùa khô. Như vậy, có thể thấy có sự khác biệt khá lớn về nồng độ của các dạng nitơ trong nước ngầm giữa mùa khô và mùa mưa. IV. THẢO LUẬN 4.1. Đánh giá nồng độ của các dạng Nitơ trong môi trường nước *NitQ trong nRkc thUi sau Biogas Theo kết quả Bảng 2, mặc dù đã giảm nồng độ đáng kể so với trong nguồn thải ban đầu, tuy nhiên nồng độ của nitơ trong nước thải sau biogas vẫn còn rất cao và chưa đảm bảo yêu cầu để xả Hình 2: Nhng đj (mg/L) cpa các hnp chVt NitQ trong nRkc ngWm tSi các trang trSi chăn nuôi lnn trên đda bàn nghiên cqu Hình 3: So sánh Nhng đj trung bình cpa NO3 - và NH4 + trong nRkc m]t cpa các trang trSi vki QCVN08/A2 NO3 (mg/L) Mùa mưa NO3 NH4 K^t quU nghiên cqu KHCN Taïp chí Hoaït ñoäng KHCN An toaøn - Söùc khoûe & Moâi tröôøng lao ñoäng, Soá 1,2&3-201444 Các kết quả phân tích cho thấy, nồng độ của các hợp chất của Nitơ trong môi trường nước có sự khác biệt khá rõ theo mùa trong năm, cụ thể vào mùa mưa nồng độ các chất ô nhiễm thường thấp hơn so với trong mùa khô (Bảng 2, 3; Hình 2, 3). Đây được cho là kết quả của quá trình pha loãng chất ô nhiễm bởi nước mưa và tác động của yếu tố nhiệt độ đến sự bay hơi của các chất ô nhiễm trong nguồn thải. * Tnh hRmng bmi các tính chVt vZt lý cpa nRkc Theo lý thuyết các tính chất vật lý của nước như pH, Eh và nhiệt độ có ảnh hưởng khá lớn đến sự chuyển hóa và nồng độ của các dạng Nitơ trong môi trường nước. Tuy nhiên, qua phân tích tương quan cho thấy chỉ có t0 là có ảnh hưởng rõ nhất đến sự tồn tại của các dạng Nitơ trong cả nước thải sau biogas, nước mặt và nước ngầm; sự ảnh hưởng của pH và Eh đến các dạng Nitơ trong nước không được thể hiện rõ (Bảng 4). 4.3. Đề xuất một số biện pháp điều chỉnh nồng độ Nitơ trong môi trường nước. Các kết quả ở trên đã chỉ rõ Chất lượng nước ngầm) ngưỡng cho phép của nồng độ NO3 - và NH4 + lần lượt là: 15 mg/L và 0,1 mg/L. Như vậy, trong nước ngầm nồng độ NO3 - là khá thấp, tuy nhiên nồng độ của NH4 + lại ở mức cao vượt quá ngưỡng cho phép của QCVN 09/BTNMT 6,1 lần vào mùa mưa và 25 lần vào mùa khô, kết quả nghiên cứu này khá tương đồng với kết quả nghiên cứu về ô nhiễm nitơ trong nước ngầm tại một số khu vực chăn nuôi lợn tập trung tại Hải Dương và Hưng Yên (Hồ Thị Lam Trà và cộng sự, 2010, 2013; Cao Trường Sơn và cộng sự, 2012, 2013). Việc nước ngầm bị nhiễm NH4 + ở mức độ cao tiềm ẩn nhiều nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân. Khi nước ngầm được khai thác và sử dụng trong sinh hoạt, các dạng Nitơ sẽ được chuyển hóa thành NO3 - và có thể gây ra các bệnh ung thư dạ dày cho người lớn và bệnh trẻ xanh đối với trẻ nhỏ. Do đó, việc cảnh báo cho người dân và giảm thiểu nồng độ của các dạng nitơ trong nước ngầm cần phải được tiến hành. 4.2. Một số yếu tố ảnh hưởng đến nồng độ của Nitơ trong môi trường nước * Tnh hRmng theo mùa việc cần thiết phải giảm thiểu nồng độ của các hợp chất của Nitơ trong nước mặt và nước ngầm, một số biện pháp có thể thực hiện như: Phải giảm thiểu nguồn thải phát sinh tại các chuồng nuôi lợn bằng việc tăng cường sử dụng và quay vòng chất thải, các biện pháp có thể thực hiện: Thu gom phân thải để bán; tăng cường sử dụng hầm bio- gas; ủ phân compose để bón cho cây trồng Cần tính toán lượng chất thải đưa xuống các ao nuôi cá một cách hợp lý để tránh gây ô nhiễm ao nuôi, có thể cho phân thải vào các bao tải và dìm xuống đáy ao để phân thải phân giải từ từ và cá có thể sử dụng trong một thời gian dài. Hạn chế tối đa việc thải bỏ trực tiếp chất thải chăn nuôi lợn vào các nguồn nước tự nhiên, nếu xả thải phải tính đến khả năng tiếp nhận chất ô nhiễm của các nguồn nước. V. KẾT LUẬN Hàm lượng Nitơ có trong nguồn thải tại các trang trại chăn nuôi là rất lớn và chưa được quản lý hợp lý gây sức ép lớn cho môi trường nước. Hàm lượng Nitơ trong môi BUng 4: Hb sg tRQng quan (R) cpa các dSng NitQ vki mjt sg tính chVt vZt lý cpa nRkc Nöôùc thaûi sau Biogas Nöôùc ao caù Nöôùc ao, keânh, möông töï nhieân Nöôùc ngaàm NO3- NH4+ T- N NO3- NH4+ T- N NO3- NH4+ T-N NO3- NH4+ T- N to 0,19 -0,82 -0,57 -0,36 -0,36 -0,74 -0,43 -0,55 -0,60 -0,07 -0,35 -0,60 pH 0,60 -0,03 -0,11 0,09 -0,04 0,27 0,05 0,06 0,24 -0,37 0,34 0,24 Eh -0,61 -0,30 -0,30 -0,20 0,03 -0,29 0,17 0,09 0,08 0,33 -0,32 -0,29 K^t quU nghiên cqu KHCN 45Taïp chí Hoaït ñoäng KHCN An toaøn - Söùc khoûe & Moâi tröôøng lao ñoäng, Soá 1,2&3-2014 trường nước của các trang trại đều không phù hợp và ở mức độ cao khiến cho các thành phần môi trường nước đều bị ô nhiễm. Cần phải thực hiện các biện pháp điều chỉnh dòng Nitơ để giảm nồng độ các hợp chất của nitơ trong môi trường nước, bảo vệ môi trường, tận dụng nguồn nitơ phát sinh cho quá trình sản xuất nông nghiệp. TÀI LIỆU THAM KHẢO [1]. Kurosawa, K., Do Nguyen Hai, Nguyen Huu Thanh, Ho Thi Lam Tra, Tran Thi Le Ha, Nguyen Tat Canh and K. Egashira 2006. Temporal and spatial variations of inorganic nitrogen levels in surface and ground water around Ha Noi, Viet Nam. Communications in Soil Science and Plant Analysis 37: 403 – 415. [2]. Kurosawa, K., Do Nguyen Hai, Nguyen Huu Thanh, Ho Thi Lam Tra, Tran Thi Le Ha, Trinh Quang Huy and K. Egashira. 2008. Excessive lev- els of inorganic nitrogen in groundwater in farmed areas of northern Vietnam. Communications in Soil Science and Plant Analysis 39: 2053-2067. [3]. Lauwers, L., Lenders, S., Wustenberghs, H., Sanders, A., Vervaet, M., Carlier, P., Van Meensel, J. (2004). Contribution to a more trans- parent and high performance modelling system for deriving agri-environmental indicators. Studie uitgevoerd in opdracht van TAPAS 2002, Agri-enviro- mental indicators, Centrum voor Landbouweconomie, BrusselMurder A. (2003). The guest for sustaible nitrogen removal technologies. Wat. Sci Techbol. Vol 48, No 1, pp 67- 75. [4]. M. Alfaro, F.S. Salazar, O. Oenema, S. Iraira, N. Teuber, L.Ramirez and D. Villarroe. (2009) Nutrients