Nghiên cứu ứng dụng E-Learning trong trường phổ thông

Đổi mới phương pháp dạy -học là một trong những mục tiêu lớn ngành giáo dục & đào tạo đặt ra trong giai đoạn hiện nay và được Nghị quyết TW2, khoá VIII ch ỉra rất rõ ràng và cụ thể: “Đổi mới mạnh mẽphương pháp giáo dục -đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luy ện thành nếp tư duy sáng tạo của người học. Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện vào quá trình dạy và học, bảo đả m điều kiện và thời gian tựhọc, tựnghiên cứu của học sinh, nhất là sinh viên đại học. Phát triển mạnh phong trào tựhọc, tựđào tạo thường xuyên và rộng khắp trong toàn dân, nhất là thanh niên”. Năm học 2008-2009 là “Năm học Công nghệ thông tin”của ngành giáo dục, Bộ GD-ĐT đã yêu cầu các đơn vị, cơ sở giáo dục cần triển khai ngay các phần mềm mã nguồn mởtrong công tác dạy học chính thức trong trường phổthông và trong công tác quản lý. Bên cạnh đó, việc khai thác và sử dụng phần mềm mã nguồn mởtrong các đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước là một chủ trương lớn của Nhà nước.

pdf32 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Lượt xem: 2158 | Lượt tải: 5download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Nghiên cứu ứng dụng E-Learning trong trường phổ thông, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Nguyễn Văn Nghiêm Sáng kiến kinh nghiệm 2009 Contact: www.chuyenquangtrung.com.vn – dainganxanh@hotmail.com – 0918.918 447 – 0651.3889 147 1 NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG E-LEARNING TRONG TRƯỜNG PHỔ THÔNG I. ĐẶT VẤN ĐỀ. Đổi mới phương pháp dạy - học là một trong những mục tiêu lớn ngành giáo dục & đào tạo đặt ra trong giai đoạn hiện nay và được Nghị quyết TW2, khoá VIII chỉ ra rất rõ ràng và cụ thể: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục - đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học. Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện vào quá trình dạy và học, bảo đảm điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu của học sinh, nhất là sinh viên đại học. Phát triển mạnh phong trào tự học, tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp trong toàn dân, nhất là thanh niên”. Năm học 2008-2009 là “Năm học Công nghệ thông tin” của ngành giáo dục, Bộ GD-ĐT đã yêu cầu các đơn vị, cơ sở giáo dục cần triển khai ngay các phần mềm mã nguồn mở trong công tác dạy học chính thức trong trường phổ thông và trong công tác quản lý. Bên cạnh đó, việc khai thác và sử dụng phần mềm mã nguồn mở trong các đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước là một chủ trương lớn của Nhà nước. Những phần mềm nguồn mở có thể ứng dụng trong trường phổ thông hiện nay có thể kể đến các phần mềm như hệ điều hành Linux Ubuntu, Hacao Linux; bộ phần mềm văn phòng OpenOffice; bộ gõ chữ Việt Unikey; Hệ quản trị CSDL MySQL; … và đặc biệt là hệ thông quản lý học tập trực tuyến Moodle. Chúng ta đều biết, việc đổi mới phương pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy-học bất kỳ giai đoạn nào đều cần sử dụng tới công nghệ. Hiện nay, sản phẩm CNTT-TT phục vụ công tác giảng dạy và học tập ngày càng đa dạng, đa năng với sự tích hợp nhiều tính năng thông minh (đôi khi khá phức tạp) vì vậy đòi hỏi người dạy, người học cũng cần có kỹ năng nhất định để vận hành các phần mềm, thiết bị nhằm phục vụ hiệu quả cho việc dạy và học. “Ứng dụng E-Learning trong trường phổ thông” là một đề tài lớn; cần được nghiên cứu, triển khai và đúc kết kinh nghiệm trong nhiều năm. Vì vậy trong giới hạn của một sáng kiến kinh nghiệm này tôi xin phép chỉ đề cập tới việc nghiên cứu triển khai ứng dụng E-Learning bằng hệ thống quản lý học tập trực tuyến – Moodle, một trong những phần mềm mã nguồn mở vừa kể trên. Xin được nhắc lại rằng, phương tiện ứng dụng CNTT-TT trong giảng dạy và học tập là vô cùng phong phú, đa dạng, đa tính năng vì vậy để “làm chủ” được các phương Nguyễn Văn Nghiêm Sáng kiến kinh nghiệm 2009 Contact: www.chuyenquangtrung.com.vn – dainganxanh@hotmail.com – 0918.918 447 – 0651.3889 147 2 tiện này đòi hỏi mỗi chúng ta phải chịu khó tìm tòi, nghiên cứu, và mạnh dạn ứng dụng. Chuyên đề này được viết trên tinh thần chia sẻ nhiệt huyết và những kinh nghiệm đúc kết được trong quá trình tìm tòi, nghiên cứu E-Learning tại trường THPT chuyên Quang Trung – mong rằng có thể góp một phần công sức nhỏ bé vào việc đổi mới phương pháp giảng dạy – học tập của thầy và trò các trường phổ thông giáo dục tỉnh nhà. Nguyễn Văn Nghiêm Sáng kiến kinh nghiệm 2009 Contact: www.chuyenquangtrung.com.vn – dainganxanh@hotmail.com – 0918.918 447 – 0651.3889 147 3 II. NỘI DUNG CHÍNH. Trong những năm gần đây, E-learning thu hút được sự quan tâm ngày càng nhiều của các tổ chức giáo dục đào tạo, các đơn vị nghiên cứu triển khai công nghệ thông tin, đặc biệt là sự quan tâm của các trường đại học và các viện nghiên cứu. Nhiều nhà chuyên môn cho rằng E-learning được đánh giá là cuộc cách mạng trong giáo dục thế kỷ 21. Vậy E-learning là gì?, Xây dựng hệ thống E-learning cho trường phổ thông như thế nào?,... tôi sẽ cùng các bạn trả lời những câu hỏi vừa nêu trên. 1. E-Learning là gì? Có thể xem E-learning như một phương thức dạy học mới, bổ sung và hỗ trợ cho các phương thức đào tạo truyền thống, tạo ra thêm cơ hội được học cho đông đảo tầng lớp xã hội và đặc biệt góp phần hiện đại hóa và nâng cao chất lượng giảng dạy. E-Learning là hình thức đào tạo có ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông. Cụ thể hơn, E-Learning là hình thức đào tạo sử dụng các phương tiện như máy tính, mạng Internet, mạng vệ tinh ...; nội dung đào tạo được phân phối qua Website, đĩa CD, băng audio/video. Với hình thức đào tạo này, học viên có thể tương tác với nhau và với giáo viên qua mạng máy tính, mạng vệ tinh dưới các hình thức như e-mail, thảo luận trực tuyến (chat), diễn đàn (forum), hội thảo trực tuyến (audio/video conferencing),… E-learning cho phép học viên làm chủ hoàn toàn quá trình học của bản thân, từ thời gian, lượng kiến thức cần học cũng như thứ tự học các bài, đặc biệt là cho phép tra cứu trực tuyến những kiến thức có liên quan đến bài học một cách tức thời, duyệt lại những phần đã học một cách nhanh chóng, tự do trao đổi với những người cùng học hoặc giáo viên ngay trong quá trình học. Xét về cấu trúc nền, nhìn chung, hệ thống E-Learning bao gồm các thành phần sau (1): 1) Hệ thống quản lý học tập (LMS - Learning Management System) giúp xây dựng các lớp học trực tuyến hiệu quả. 2) Hệ thống quản lí nội dung học tập (LCMS - Learning Content Management System) cho phép tạo và quản lý nội dung học tập. 3) Các công cụ làm bài giảng (authoring tools) một cách sinh động, dễ dùng, và 1 Theo Cục Công nghệ thông tin - Bộ Giáo dục và Đào tạo. Nguyễn Văn Nghiêm Sáng kiến kinh nghiệm 2009 Contact: www.chuyenquangtrung.com.vn – dainganxanh@hotmail.com – 0918.918 447 – 0651.3889 147 4 cho phép chèn nhiều đối tượng khác nhau như hình ảnh, âm thanh, phim, …. 4) Điều quan trọng hơn là E-Learning đã được thế giới chuẩn hoá nên các bài giảng có thể trao đổi với nhau trên toàn thế giới cũng như giữa các trường học ở Việt Nam. Để giúp hiểu rõ hơn khái niệm này chúng ta có thể tham khảo các định nghĩa của một số nhà khoa học, công ty trên thế giới về e-learning:  e-Learning là sử dụng các công nghệ Web và Internet trong học tập (William Horton).  e-Learning là một thuật ngữ dùng để mô tả việc học tập, đào tạo dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông ( Compare Infobase Inc).  e-Learning nghĩa là việc học tập hay đào tạo được chuẩn bị, truyền tải hoặc quản lý sử dụng nhiều công cụ của công nghệ thông tin, truyền thông khác nhau và được thực hiện ở mức cục bộ hay toàn cục ( MASIE Center).  Việc học tập được truyền tải hoặc hỗ trợ qua công nghệ điện tử. Việc truyền tải qua nhiều kĩ thuật khác nhau như Internet, TV, băng đĩa video, các hệ thống giảng dạy thông minh, và việc đào tạo dựa trên máy tính (CBT) (Sun Microsystems, Inc). 2. Lựa chọn phần mềm. Hiện nay, có nhiều phần mềm có thể đáp ứng các yêu cầu nói trên của một hệ thống E-Learning. Trong số đó có thể kể đến các sản phẩm thương mại như BlackBoard, WebCT, Docent…, hay các sản phẩm mã nguồn mở như Moodle, Sakai, LRN, ILIAS, Atutor… Việc đầu tiên để xây dựng hệ thông E-Learning là lựa chọn một phần mềm thích hợp. Sau một thời gian tìm hiểu và tham khảo ý kiến của một số chuyên gia E- Learning tôi quyết định chọn Moodle để nghiên cứu và triển khai. 3. Tính năng của Moodle. Moodle là hệ thông quản lý học tập có đầy đủ các thành phần theo yêu cầu của một cấu trúc hệ thống E-learning. Vì vậy trong khuôn khổ SKKN này tôi chỉ xin giới thiệu khái quát một vài tính năng cơ bản của Moodle. Bạn đọc quan tâm có thể tham khảo thêm tại trang web chính thức của Moodle (www.moodle.org). Hệ thống E-learning được xây dựng bởi Moodle có thể đáp ứng từ một lớp học nhỏ đến các trường đại học lớn trên 50.000 sinh viên như đại học Open PolyTechnique của Newzealand, Open University of UK, Athabasca University.... là một LMS phù Nguyễn Văn Nghiêm Sáng kiến kinh nghiệm 2009 Contact: www.chuyenquangtrung.com.vn – dainganxanh@hotmail.com – 0918.918 447 – 0651.3889 147 5 hợp với nhiều cấp học và hình thức đào tạo: phổ thông, đại học/cao đẳng, không chính quy, trong các tổ chức/công ty… Moodle viết bằng ngôn ngữ lập trình PHP, được tích hợp đầy đủ các thành phần theo cấu trúc nền của E-Learning và tương thích với hầu hết các hệ quản trị cơ sở dữ liệu như MySQL, PostgreSQL, Oracle, Microsoft SQL. Theo thống kê của những chuyên gia lập trình web thì để xây dựng một LMS như Moodle phải tốn khoảng 20 triệu USD trong khi Moodle lại được cung cấp miễn phí. Đây là một trong những ưu điểm để Moodle phát triển rộng rãi như hiện nay. 3.1. Các tính năng quản lý khóa học (các Module): Moodle được tích hợp sẵn các tính năng tạo lập và quản lý khóa học như: Giao – nộp bài tập; trao đổi trực tuyến giữa giáo viên và học viên, giữa các bạn học (chat), tạo lập các diễn đàn cho từng lớp học; bảng thuật ngữ (từ điển); nhật ký học viên; công cụ tạo bài học (dành cho giáo viên); công cụ tạo đề và làm bài kiểm tra (có tất cả các dạng đánh giá quen thuộc bao gồm trả lời đúng-sai, đa lựa chọn, câu trả lời ngắn, ghép câu, câu hỏi ngẫu nhiên, …); tài nguyên học tập; hội thảo... 3.2. Tính năng quản lý học viên. Bên cạnh chức năng tạo khóa học thì “Quản lý học viên” là một tính năng đặc biệt quan trọng của Moodle bao gồm: Kết nạp và theo dõi thông tin học viên trong một khóa học, chia học viên thành các nhóm (lớp học, khóa học), lên lịch các sự kiện của site hoặc khóa học…, áp dụng tỉ lệ cho các hoạt động khác nhau cho học viên, quản lí điểm, theo dõi lần truy cập của học viên và tải lên các file ở ngoài để sử dụng cho khóa học …. Giáo viên có thể phân quyền truy cập vào khóa học đối với từng nhóm đối tượng như: Khóa học cho mọi người, khóa học cho học viên, khóa học cho học viên có khóa truy cập (khóa truy cập là mật mã do giáo viên cung cấp). 3.3. Vai trò của các đối tượng người dùng. - Giảng viên (teacher) có thể là nhà tạo ra khóa học, nếu người quản trị cấp quyền, tùy theo từng khóa học mà giảng viên đó có thể tạo khóa truy cập hay không (mỗi lớp học có thể có một khóa truy cập, học viên khi tham gia vào khóa học đó bắt buộc phải có một khóa truy cập). Giảng viên là người trực tiếp quản lý lớp học như :nội quy, giáo trình, bài giảng, đề thi...đồng thời cũng là người quản lý các học viên của mình. - Học viên (student) nếu muốn tham gia vào một lớp học nào đó học viên đó phải là thành viên của lớp đó. Nếu lớp đó có yêu cầu một khóa truy cập học viên bắt buộc phải có khóa truy cập này. Khi học viên đăng nhập vào hệ thống hệ thống chỉ hiện lên những danh mục và các khóa học mà học viên đó tham gia. Học viên tham gia khóa học nào đều phải tuân thủ theo quy định của khóa học đó. Những quy định này có thể do giảng viên phổ biến. Nguyễn Văn Nghiêm Sáng kiến kinh nghiệm 2009 Contact: www.chuyenquangtrung.com.vn – dainganxanh@hotmail.com – 0918.918 447 – 0651.3889 147 6 - Khách (guest) là những người có quyền hạn hạn chế nhất họ chỉ được vào những khóa học mà khóa học đó cho phép khách vào. 4. Nghiên cứu, Việt hóa và ứng dụng LMS Moodle. Nhận thức được sự ảnh hưởng tích cực của E-Learning trong giảng dạy và học tập, ngay từ những năm đầu về trường tôi đã bắt tay vào nghiên cứu triển khai ứng dụng E- Learning mà cụ thể là nghiên cứu, Việt hóa và ứng dụng phần mềm quản lý học tập trực tuyến Moodle. Đề tài nghiên cứu gồm 2 giai đoạn: 1. Giai đoạn nghiên cứu ứng dụng:  Các vấn đề chung về E-Learning;  Cài đặt Moodle trên máy cá nhân và Server trực tuyến;  Khai thác ứng dụng các tính năng hiện có của Moodle. 2. Giai đoạn nghiên cứu phát triển:  Dịch thuật (Việt hóa) Moodle sang tiếng Việt để xây dựng phiên bản MoodleViet;  Xây dựng website bằng chính MoodleViet nhằm phổ biến, tư vấn và hỗ trợ các tổ chức, cá nhân và trường học Việt Nam triển khai ứng dụng MoodleViet vào công tác giảng dạy và học tập;  Phát triển các module mới cho MoodleViet. Nguyễn Văn Nghiêm Sáng kiến kinh nghiệm 2009 Contact: www.chuyenquangtrung.com.vn – dainganxanh@hotmail.com – 0918.918 447 – 0651.3889 147 7 5. Ví dụ về quản lý của chủ nhiệm lớp qua hệ thông Moodle tại trang eSchool. Tại eSchool, Moodle được ứng dụng để tạo các trang thông tin và học tập cho từng lớp và mỗi lớp có một giáo viên (GV chủ nhiệm) chịu trách nhiệm cập nhật thông tin cho trang thông tin của lớp mình, trả lời những thắc mắc của phụ huynh, học sinh… Mỗi GVCN sẽ được cấp tài khoản với quyền truy cập và quản lý lớp. Mỗi khi có ý kiến thắc mắc của phụ huynh hay học sinh lập tức một email sẽ được gửi đến hộp thư của GVCN. Tương tự, khi GVCN trả lời hay có thông báo (VD. Mời họp PHHS), lập tức một email sẽ được gửi đến tất cả những tài khoản của lớp (phụ huynh và học sinh) mà không cần gửi email cho từng người. Giáo viên chủ nhiệm cùng các giáo viên bộ môn có thể tạo các bài học, đề thi trắc nghiệm, bài kiểm tra… để học sinh có thể học tập trực tuyến mọi lúc mọi nơi. Học sinh có thể trao đổi với thầy cô, với bạn học ngay trên diễn đàn của lớp hoặc trao đổi trực tuyến (chat) với thầy, với bạn nếu đăng nhập cùng lúc. Có thể truy cập eSchool theo địa chỉ: hoặc Click chọn eSchool từ trang CQT Online (www.chuyenquangtrung.com.vn) Nguyễn Văn Nghiêm Sáng kiến kinh nghiệm 2009 Contact: www.chuyenquangtrung.com.vn – dainganxanh@hotmail.com – 0918.918 447 – 0651.3889 147 8 Truy cập vào lớp: Các lớp được xếp theo từng khóa. Mỗi lớp có một giáo viên quản lý (GV chủ nhiệm) chịu trách nhiệm cập nhật thông tin, trả lời và liên lạc với phụ huynh học sinh. Ngoài ra giáo viên có thể tạo các bài giảng, bài kiểm tra, phiếu thăm dò… trên trang của lớp mình. Để truy cập vào trang của lớp, Click chuột vào lớp mình chủ nhiệm. VD: Chuyên Anh khóa 3. Sau khi click chọn lớp hệ thống sẽ yêu cầu đăng nhập. Đăng nhập hệ thống: Nhập tên đăng nhập, mật khẩu rồi Click “Đăng nhập” (Tên đăng nhập và mật khẩu được cấp theo danh sách đính kèm) Sau khi đăng nhập giáo viên có toàn quyền cập nhật dữ liệu cho trang của lớp mình. Nguyễn Văn Nghiêm Sáng kiến kinh nghiệm 2009 Contact: www.chuyenquangtrung.com.vn – dainganxanh@hotmail.com – 0918.918 447 – 0651.3889 147 9 5.1. Cập nhật thông tin: 5.1.1. Thêm thông báo đến phụ huynh & học sinh: Nguyễn Văn Nghiêm Sáng kiến kinh nghiệm 2009 Contact: www.chuyenquangtrung.com.vn – dainganxanh@hotmail.com – 0918.918 447 – 0651.3889 147 10 Nhập “Tiêu đề” và “Nội dung thông báo”, sau đó Click “Gửi bài viết lên diễn đàn” Gửi thông báo đã hoàn tất. Để trở lại trang của lớp hãy click vào tên lớp: 5.1.2. Cập nhật các thông tin khác: Nguyễn Văn Nghiêm Sáng kiến kinh nghiệm 2009 Contact: www.chuyenquangtrung.com.vn – dainganxanh@hotmail.com – 0918.918 447 – 0651.3889 147 11 Bật chế độ chỉnh sửa: Giao diện web ở chế độ chỉnh sửa như sau: 5.1.2.1. Soạn thảo lời nói đầu: Nguyễn Văn Nghiêm Sáng kiến kinh nghiệm 2009 Contact: www.chuyenquangtrung.com.vn – dainganxanh@hotmail.com – 0918.918 447 – 0651.3889 147 12 Nên chọn font chứ Verdana: Nguyễn Văn Nghiêm Sáng kiến kinh nghiệm 2009 Contact: www.chuyenquangtrung.com.vn – dainganxanh@hotmail.com – 0918.918 447 – 0651.3889 147 13 Sau khi nhấn nút “Lưu những thay đổi”, màm hình sẽ trả về như hình dưới đây: 5.1.2.2. Thêm diễn đàn “Ý kiến của phụ huynh học sinh và học sinh của lớp” Diễn đàn này cho phép phụ huynh hoặc học sinh đăng bài trao đổi, thảo luận. Thông qua đó giáo viên có thể trả lời thắc mắc và những vấn đề liên quan khác. Nguyễn Văn Nghiêm Sáng kiến kinh nghiệm 2009 Contact: www.chuyenquangtrung.com.vn – dainganxanh@hotmail.com – 0918.918 447 – 0651.3889 147 14 5.1.2.3. Thêm kết quả học tập học kỳ. Nguyễn Văn Nghiêm Sáng kiến kinh nghiệm 2009 Contact: www.chuyenquangtrung.com.vn – dainganxanh@hotmail.com – 0918.918 447 – 0651.3889 147 15 Sử dụng chức năng “Link tới một file hoặc một website”, đây là chức năng cho phép giáo viên chia sẻ tài nguyên cho học viên và các thành viên khác trong lớp. - Bật chế độ chỉnh sửa. - Chọn “Soạn thảo tóm lược” Soạn Đề mục cho chủ đề sau đó Click “Lưu những thay đổi”: Thêm file: Kết quả học kỳ được soạn bằng Excel hoặc Word và lưu sẵn trên máy. Thực hiện thao tác thêm file như sau: Nguyễn Văn Nghiêm Sáng kiến kinh nghiệm 2009 Contact: www.chuyenquangtrung.com.vn – dainganxanh@hotmail.com – 0918.918 447 – 0651.3889 147 16 Cửa sổ soạn thảo xuất hiện (nhập nội dung những phần được khoanh): Cửa sổ làm việc mới xuất hiện, click đúp để mở thư mục 2007_2008: Chọn “Tải lên một file” Nguyễn Văn Nghiêm Sáng kiến kinh nghiệm 2009 Contact: www.chuyenquangtrung.com.vn – dainganxanh@hotmail.com – 0918.918 447 – 0651.3889 147 17 Chọn “Browse”: Chọn file cần tải lên  Open: Click “Tải file này lên”: Nguyễn Văn Nghiêm Sáng kiến kinh nghiệm 2009 Contact: www.chuyenquangtrung.com.vn – dainganxanh@hotmail.com – 0918.918 447 – 0651.3889 147 18 Sau khi tải lên, Click “Lựa chọn” file có trong danh sách: Chọn “Cửa sổ mới” rồi “Lưu những thay đổi”: Trở về trang của lớp, tắt chế độ chỉnh sửa để xem kết quả: Nguyễn Văn Nghiêm Sáng kiến kinh nghiệm 2009 Contact: www.chuyenquangtrung.com.vn – dainganxanh@hotmail.com – 0918.918 447 – 0651.3889 147 19 Kết quả: Trên đây chỉ là một ví dụ về ứng dụng đơn giản của MoodleViet đang được triển khai tại trường THPT chuyên Quang Trung với mục đích công khai, hợp tác với gia đình trong việc giáo dục học sinh. Thông qua website này phục huynh học sinh có thể biết được những hoạt động của nhà trường, những thông tin về lớp và chi tiết hơn là kết quả rèn luyện – học tập của con em mình. Để mô tả chi tiết đầy đủ các ứng dụng của MoodleViet chắc chắn phải tốt nhiều thời gian và có thể viết thành nhiều tập sách chứ không thể chỉ dừng lại ở một chuyên đề như thế này. Các hướng dẫn sử dụng đã và đang được cập nhật trên trang MoodleViet tại địa chỉ hoặc website VinaWeb tại địa chỉ www.vinaweb.asia. III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ DỰ BÁO. 1. Kết quả nghiên cứu và triển khai tại trường THPT chuyên Quang Trung Hiện nay, đã cài đặt thành công và hoàn tất công việc Việt hóa phiên bản 1.8 trên nền bản Việt hóa của cộng đồng Moodle Việt (năm 2005) và đang tiến hành Việt hóa những Module mới bổ sung của phiên bản 1.94. Cùng với việc Việt hóa, tôi cũng đã Nguyễn Văn Nghiêm Sáng kiến kinh nghiệm 2009 Contact: www.chuyenquangtrung.com.vn – dainganxanh@hotmail.com – 0918.918 447 – 0651.3889 147 20 cài đặt hoàn chỉnh hệ thống và đưa vào hoạt động Moodle phiên bản 1.83 (đã được chỉnh sửa giao diện và viết thêm một số tính năng mới) tại địa chỉ với tên gọi eSchool. Năm 2008, tại hội Quốc gia CNTT trong giáo dục (ICT in Education), eSchool đã được Cục CNTT Bộ GDĐT đánh giá là một trong những website e-Learning tiêu biểu của các trường khối THPT. Ngày 08/02/2009, Cục trưởng cục CNTT Bộ GD&ĐT – ông Quách Tuấn Ngọc đã có đề nghị tiếp tục phát triển eSchool thành “mẫu hình tiêu biểu về website Moodle trong trường phổ thông”. Từ tháng 11 năm 2007, với sáng kiến “Xây dựng cộng đồng MoodleViet”, được sự tài trợ của “Chương trình giáo dục của Intel tại Việt Nam” tôi đã xây dựng và đưa vào hoạt động website MoodleViet tại địa chỉ www.moodle.dayhoc.vn với mục đích cung cấp miễn phí MoodleViet (phiên bản tiếng Việt của Moodle), tư vấn, hỗ trợ các tổ chức, cá nhân mà đặc biệt là các trường học Việt Nam triển khai ứng dụng LMS MoodleViet phục vụ giảng dạy vào học tập. 2. Dự báo tác động của việc triển khai e-Learning - Nâng cao tính nhân văn, dân chủ của nền giáo dục: Thông qua Website, ta có thể tổ chức đào tạo từ xa. Học sinh nếu hoạt động trong mạng máy vi tính thì có thể tham gia các course học, có thể tuỳ chọn chương trình học, có thể giao tiếp với nhiều giáo viên và học sinh ở những nới khác thông qua diễn đàn (forums). Khả năng thu thập thông tin không bị hạn chế, học sinh có thể truy cập vào các ngân hàng bài giảng khổng lồ của hệ thống Moodle. Như vậy, khoảng cách đã bị xoá bỏ, mọi học sinh thuộc mọi vùng miền, hoàn cảnh đều được quyền tiếp thu những chương trình học như