Phân tích các nhân tố tác động tới chi tiêu y tế hộ gia đình khu vực thành thị ở Việt Nam trong bối cảnh công nghiệp hóa

Tóm tắt: Nghiên cứu này tập trung phân tích các nhân tố tác động tới chi tiêu y tế hộ gia đình tại khu vực thành thị ở Việt Nam trong bối cảnh công nghiệp hóa, đô thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ. Với việc sử dụng dữ liệu điều tra mức sống hộ gia đình (VHLSS) từ năm 2010 đến 2016, kết hợp với việc sử dụng chỉ số khí thải đại diện cho mức ô nhiễm môi trường (CO2 emission), nghiên cứu đã tìm ra những nhân tố quan trọng đại diện cho yếu tố vùng, đặc điểm của hộ gia đình, chủ hộ và ô nhiễm môi trường có tác động tới chi tiêu y tế của các hộ gia đình.

pdf9 trang | Chia sẻ: thanhle95 | Lượt xem: 12 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Phân tích các nhân tố tác động tới chi tiêu y tế hộ gia đình khu vực thành thị ở Việt Nam trong bối cảnh công nghiệp hóa, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
170 PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI CHI TIÊU Y TẾ HỘ GIA ĐÌNH KHU VỰC THÀNH THỊ Ở VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CÔNG NGHIỆP HÓA ThS. Nguyễn Thị Tuyết Trường Đại học Thăng Long Tóm tắt: Nghiên cứu này tập trung phân tích các nhân tố tác động tới chi tiêu y tế hộ gia đình tại khu vực thành thị ở Việt Nam trong bối cảnh công nghiệp hóa, đô thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ. Với việc sử dụng dữ liệu điều tra mức sống hộ gia đình (VHLSS) từ năm 2010 đến 2016, kết hợp với việc sử dụng chỉ số khí thải đại diện cho mức ô nhiễm môi trường (CO2 emission), nghiên cứu đã tìm ra những nhân tố quan trọng đại diện cho yếu tố vùng, đặc điểm của hộ gia đình, chủ hộ và ô nhiễm môi trường có tác động tới chi tiêu y tế của các hộ gia đình. Từ khóa: chi tiêu y tế hộ gia đình, đô thị hóa, ô nhiễm không khí 1. Giới thiệu Chi tiêu y tế là một trong những yếu tố quan trọng giúp gia tăng sức khỏe của con người. Sức khỏe tốt hơn giúp cá nhân nâng cao được chất lượng cuộc sống, nâng cao hiệu quả học tập, vui chơi và tăng năng suất lao động của cá nhân. Suy rộng ra, khi cá nhân nâng cao được năng suất lao động sẽ nâng cao năng suất lao động của xã hội, góp phần gia tăng tổng thu nhập quốc dân. Trong những năm qua chi tiêu y tế của Nhà nước cũng như chi tiêu y tế từ tiền túi của các hộ gia đình cho các dịch vụ y tế không ngừng tăng. Chi tiêu y tế ở mức cao gây ra gánh nặng tài chính cho nhiều hộ gia đình. Chi tiêu y tế của mỗi gia đình chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố khác nhau bao gồm các nhân tố thuộc về đặc điểm của hộ, các nhân tố thuộc về yếu tố môi trường, kinh tế Không chỉ các khu vực nông thôn hiện nay đang chịu ảnh hưởng của chi phí y tế, mà ở các khu vực thành thị cũng đang đối mặt đối với vấn đề chi tiêu y tế gia tăng. Với tốc độ gia tăng mật độ dân số nhanh, đặc điểm dân số phức tạp, môi trường biến đổi nhanh chóng do sự phát triển của các ngành kinh tế và tốc độ đô thị hóa tăng nhanh, trước hết nó sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe và tiếp đến là ảnh hưởng đến mức độ chi tiêu y tế của các hộ gia đình ở khu vực thành thị. Cho đến nay, có khá nhiều các nghiên cứu thực nghiệm ước lượng các nhân tố tác động tới cầu chăm sóc y tế hay chi tiêu cho y tế. David (1993) cho rằng các yếu tố về giới tính là nhân tố quan trọng nhất tác động tới chi tiêu y tế ở khu vực nông thôn của Liberia. Hjortsberg (1999) chỉ ra rằng các yếu tố nhân khẩu học như 171 tuổi, giới tính và nơi cư trú cùng với các đặc điểm của hộ có tác động tới mức chi tiêu y tế của hộ gia đình ở Zambia. Mocan (2000) đã nghiên cứu các nhân tố tác động tới cầu dịch vụ y tế ở khu vực thành thị và phát hiện ra rằng cầu dịch vụ y tế bị tác động bởi thu nhập, tình trạng sức khỏe và tình trạng việc làm của mỗi cá nhân trong hộ. Feng và Yangyang (2008) đã kiểm tra tác động của giáo dục đến cầu chăm sóc sức khỏe và chỉ ra mối quan hệ nhân quả và tích cực giữa giáo dục và sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Ở Việt Nam có khá nhiều các nghiên cứu về chi tiêu y tế. Hoàng Văn Minh và cộng sự (2013) nghiên cứu gánh nặng tài chính của các hộ gia đình do chi tiêu y tế ở Việt Nam có chỉ ra rằng đặc điểm kinh tế của hộ gia đình có ảnh hưởng đến quyết định chi tiêu y tế của hộ. Trong đó những hộ có thu nhập cao hơn sẽ quan tâm nhiều hơn sức khỏe và họ sẵn sàng chi tiêu nhiều hơn cho dịch vụ y tế. Nguyễn Hữu Dũng và cộng sự (2016) đã chỉ ra rằng 4 nhóm nhân tố bao gồm đặc điểm kinh tế hộ, điều kiện chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ từ bên ngoài và các biến nhân khẩu học của hộ có tác động đến chi tiêu y tế cho trẻ em. Các nghiên cứu trên đều chủ yếu tập trung phân tích các nhân tố thuộc về đặc điểm của hộ, chủ hộ tới chi tiêu y tế. Tuy nhiên các nghiên cứu về chi tiêu cho y tế của riêng khu vực thành thị ở Việt Nam còn chưa nhiều, đặc biệt là trong bối cảnh đô thị hóa mạnh mẽ như hiện nay. Vì vậy, mục tiêu của nghiên cứu này là chúng tôi sẽ xem xét ảnh hưởng của các nhân tố tác động tới chi tiêu y tế của hộ gia đình tại khu vực thành thị hiện nay. Bài viết bao gồm 4 phần. Phần tiếp theo là phương pháp nghiên cứu, phần 3 là dữ liệu và kết quả ước lượng và phần cuối cùng là kết luận. 2. Phương pháp nghiên cứu 2.1. Mô hình lý thuyết Lý thuyết kinh tế vi mô nói rằng các tác nhân kinh tế, bao gồm cả bệnh nhân hành xử tối ưu, tức là họ chọn các lựa chọn mà mang lại lợi ích cao nhất từ những thứ có sẵn cho họ (Varian, 2010). Điều này giả định rằng người tiêu dùng nhận thức được tất cả lựa chọn thay thế có sẵn và có thể đánh giá chúng. Trong kinh tế y tế, giả định rằng các cá nhân có thu nhập nhất định để tài trợ cho yếu tố sản xuất sức khỏe và các hoạt động tiêu dùng khác. Các mô hình cho rằng các cá nhân nhận được lợi ích từ việc tiêu dùng cả dịch vụ y tế và các hàng hóa khác (Santerre và Neun, 2010). Những người sử dụng đầu tiên của các mô hình này là Heller (1982) và Akin và cộng sự (1986). Những mô hình tiếp theo là phiên bản của mô hình tiêu thụ sản xuất sức khỏe của Grossman (1972), nơi người tiêu dùng tối đa hóa một lợi ích liên thời gian với ràng buộc về ngân sách cả một vòng đời. Các dịch vụ y tế đã được đưa vào hàm lợi ích một cách gián tiếp thông qua vốn sức khỏe. Ràng buộc ngân sách trong mô hình là thu nhập cả đời được chiết khấu. 172 Trong mô hình này, chăm sóc y tế là một hàng hóa tiêu dùng vì cá nhân thu được lợi ích từ việc khỏe mạnh và hàng hóa đầu tư vì khỏe mạnh cho phép một cá nhân tham gia các hoạt động kinh tế và do đó tạo ra thu nhập cho họ. Chi tiêu cho các dịch vụ y tế của các cá nhân trong hộ chính là chi tiêu y tế của hộ. Giả sử rằng chăm sóc y tế là một hàng hóa tiêu dùng, thì hộ gia đình cũng chi tiêu cho các hàng hóa trên cơ sở tối đa hóa lợi ích: (1) Trong đó U là lợi ích có được từ việc tiêu dùng các hàng hóa khác nhau; Y là hàng hóa sức khỏe liên quan mang lại lợi ích cho người bệnh và cải thiện tình trạng sức khỏe; H là hàm sản xuất sức khỏe; Z là viết tắt của các yếu tố đầu vào sức khỏe như chăm sóc sức khỏe trong khi X đại diện cho tất cả hàng hóa và dịch vụ khác. Hàm lợi ích được tối đa hóa theo ràng buộc sau: (2) Giải quyết vấn đề tối đa hóa sinh ra một hàm cầu cho dịch vụ y tế như sau: (3) Trong đó Dh đề cập đến cầu dịch vụ y tế; B là ngân sách hoặc thu nhập; S là viết tắt của các biến nhân khẩu học xã hội; hs là thành phần hộ gia đình; và N0 là đặc điểm hộ gia đình không thể quan sát được. 2.2. Mô hình thực nghiệm Với tổng quan các nghiên cứu trước và cơ sở lý thuyết đưa ra, nghiên cứu sử dụng mô hình sau để nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến chi tiêu y tế của hộ gia đình tại khu vực thành thị, trong đó biến phụ thuộc là mức chi tiêu y tế của hộ trong 1 năm, các biến độc lập thể hiện các nhân tố đặc trưng cho đặc điểm của hộ, yếu tố vùng và môi trường: Tác giả sử dụng mô hình ước lượng cho dữ liệu mảng với dữ liệu VHLSS từ năm 2010-2016. Cụ thể, định nghĩa và mô tả các biến giải thích được sử dụng trong phân tích hồi quy của nghiên cứu như sau: Bảng 1: Định nghĩa và mô tả các biến số Biến số Định nghĩa Chi tiêu y tế của hộ Tổng chi tiêu cho y tế của tất cả các thành viên trong hộ trong 12 tháng (đơn vị 1000 đồng). Vùng Biến giả nhận các giá trị từ 1 đến 6 bao gồm: 1 là Đồng bằng 173 Biến số Định nghĩa sông Hồng; 2 là Trung du và miền núi phía Bắc; 3 Bắc Trung bộ và duyên hải miền trung; 4 là Tây Nguyên; 5 là Đông Nam Bộ và 6 là Đồng bằng sông Cửu Long. Quy mô hộ Số thành viên trong hộ (tính theo số người). Thu bình quân Thu nhập bình quân/người/tháng (đơn vị 1000 đồng). Số người già Số người trên 60 tuổi trong hộ Số trẻ con Số người nhỏ hơn 6 tuổi trong hộ Giới tính chủ hộ Biến giả (dân tộc Kinh và Hoa = 1; dân tộc thiểu số khác = 0) Tuổi của chủ hộ Tuổi của chủ hộ Giáo dục của chủ hộ Biến giả với 4 cấp độ: 0 nếu chưa từng đi học; 1 nếu đã từng đi học hoặc có bằng tiểu học; 2 nếu có bằng cấp THCS hoặc THPT; và 3 nếu có bằng cấp trên THPT. CO2 emission Tổng khí thải từ các nguồn tính trung bình tấn trên đầu người 3. Phân tích kết quả 3.1. Mô tả dữ liệu Nghiên cứu sử dụng bộ dữ liệu điều tra mức sống hộ gia đình ở Việt Nam (Viet Nam Household Living Standard Survey - VHLSS) trong các năm 2010, 2012; 2014 và 2016 kết hợp với bộ dữ liệu về chỉ số CO2 emission, nguồn từ World Bank. 0 1000 2000 3000 4000 5000 6000 2010 2012 2014 2016 Chi tiêu y tế trung bình hộ/năm Thu nhập bình quân/người/tháng Hình 1: Chi tiêu y tế trung bình của các hộ gia đình khu vực thành thị qua các năm Nguồn: Tổng cục Thống Kê 174 Hình 1 cho thấy mức thu nhập bình quân/người/tháng ở khu vực thành thị có xu hướng gia tăng từ năm 2010 đến 2016. Năm 2010, thu nhập bình quân đầu người của các hộ gia đình ở khu vực này là 2,338 triệu đồng/tháng, tới năm 2016, chỉ tiêu này tăng lên 4,148 triệu/ người/tháng. Có thể thấy thu nhập bình quân đầu người tăng gần gấp đôi sau 6 năm. Điều này một phần là do sự tăng trưởng kinh tế, thu nhập của người dân cũng tăng lên. Cùng với xu hướng đó, chi tiêu y tế trung bình của hộ gia đình tại khu vực thành thị Việt Nam cũng không ngừng tăng qua các năm. Năm 2010, chi tiêu y tế trung bình của các hộ ở khu vực thành thị là 3,3612 triệu đồng/ năm và chỉ số này tăng nhanh lên 5,519 triệu đồng/ hộ/năm vào năm 2016. Như vậy chi tiêu y tế trung bình của các hộ tăng lên hơn 1,5 lần trong khoảng thời gian nghiên cứu. Điều này có thể hiểu là khi thu nhập tăng thì người dân cũng gia tăng chi tiêu cho các dịch vụ y tế. Tuy nhiên, ngoài yếu tố thu nhập, còn nhiều nhân tố khác tác động làm cho chi tiêu y tế của các hộ gia đình khu vực thành thị tăng qua các năm. Trong khoảng thời gian này, đặc biệt là ở các khu đô thị với tốc độ đô thị hóa diễn ra nhanh chóng, sự phát triển của nhiều khu công nghiệp, sự gia tăng nhanh của các phương tiện giao thông, tốc độ xây dựng giao thông, nhà ở ở mức cao dẫn tới không khí ô nhiễm nặng nề ảnh hưởng lớn tới sức khỏe của người dân từ đó gia tăng các khoản chi tiêu cho dịch vụ y tế. Ngoài ra, đặc điểm về nhân khẩu học, đặc điểm về hộ gia đình ở khu vực thành thị cũng có đặc trưng khác biệt so với khu vực khác mà do đó cũng có tác động tới chi tiêu y tế của các hộ gia đình ở khu vực này. Mức chi tiêu y tế gia tăng ở mức cao cũng là gánh nặng đối với nhiều hộ gia đình ở thành thị hiện nay. Theo dữ liệu này, tác giả cũng ước tính chi tiêu y tế trung bình của các hộ đang chiếm khoảng 9,86% trong tổng chi tiêu của các hộ gia đình. 3.2. Kết quả ước lượng và thảo luận Tác giả sử dụng phần mềm Stata 14 để tiến hành hồi quy dữ liệu mảng để đánh giá ảnh hưởng của các nhân tố tới chi tiêu y tế của các hộ gia đình ở khu vực thành thị. Với nguồn dữ liệu được lựa chọn là từ năm 2010 đến 2016, kết quả ước lượng được thể hiện trong bảng sau: Bảng 2: Ảnh hưởng của các nhân tố tới chi tiêu y tế tại khu vực thành thị Các biến độc lập Mô hình tác động cố định (FE) Mô hình tác động ngẫu nhiên (RE) Vùng 2 0 -1045.23*** (377.731) 3 -728.56** (323.154) 175 Các biến độc lập Mô hình tác động cố định (FE) Mô hình tác động ngẫu nhiên (RE) 4 -78.94545 (455.815) 5 -1694.04*** (332.204) 6 -470.8498 (354.700) Thu bình quân 0.366*** 0.584*** (0.1002) (0.03770) Quy mô hộ 98.2170 379.302*** (191.138) (77.4108) Số người già 351.889 818.20*** (542.560) (196.100) Số trẻ con 829.45* 814.79*** (445.74) (199.898) Giới tính chủ hộ 0 -60.61259 (223.898) Tuổi của chủ hộ 59.346* 60.34*** (32.714) (10.3025) Giáo dục của chủ hộ 136.135 173.398* (307.894) (102.479) CO2 emission -114.6378 1336.13* (1328.73) (745.891) Số quan sát 11033 11033 Hausman Test P-value =0.2901>0.05 Ghi chú: Kí hiệu ***/**/* cho biết các tham số ước lượng có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa tương ứng là 1%,5% và 10% Sai số tiêu chuẩn đã được hiệu chỉnh trong ngoặc đơn Nguồn: ước lượng của các tác giả từ số liệu VHLSS Kết quả kiểm định Hausman cho thấy giá trị P-value lớn hơn 0, cho thấy mô hình tác động ngẫu nhiên là phù hợp. Các hệ số trong mô hình có ý nghĩa khá cao. 176 Biến thu bình quân của hộ có hệ số dương và có ý nghĩa thống kê ở mức 1% cho thấy hộ có thu nhập bình quân càng cao thì càng sẵn sàng tăng chi tiêu cho y tế. Ở các thành phố lớn, đặc biệt là ở các thành phố như Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh với sự xuất hiện của nhiều bệnh viện tư, bệnh viện quốc tế và các dịch vụ chữa bệnh cao cấp thì các hộ có thu nhập cao sẵn sàng lựa chọn khám chữa bệnh ở các bệnh viện này. Quy mô hộ có tác động dương tới chi tiêu y tế của hộ, điều này do số người trong hộ càng cao thì nhu cầu cho dịch vụ y tế càng lớn. Người già và trẻ em cũng là những đối tượng dễ bị tổn thương bởi sự thay đổi của thời tiết, và dễ mắc bệnh hơn so với các đối tượng khác. Khi xem xét đối tượng này kết quả cho thấy số người già và trẻ em trong hộ càng nhiều thì sẽ làm cho mức chi tiêu y tế của hộ càng cao. Các hệ số của vùng 1 đều mang dấu âm và có ý nghĩa thống kê cao. Vùng 1 là Đồng bằng sông Hồng. Kết quả này chỉ ra rằng chi tiêu y tế ở Vùng 1 đang cao nhất, các vùng như Trung du và miền núi phía Bắc, Bắc trung bộ và miền Trung có mức chi tiêu y tế thấp hơn. Như vậy yếu tố vùng, miền khác nhau cũng ảnh hưởng tới chi tiêu y tế. Do các vùng miền có nhiều đặc điểm khác nhau về khí hậu, địa hình, kinh tế, xã hội nên khả năng mắc bệnh ở các cá nhân ở các vùng là khác nhau từ đó cũng ảnh hưởng tới chi tiêu y tế, ngoài ra khả năng tiếp cận với các dịch vụ chất lượng cao không nhiều, vì vậy chi tiêu y tế của các hộ gia đình tại các vùng khác cũng thấp hơn khu vực đồng bằng sông Hồng. Khu vực đồng bằng sông Hồng có thời tiết 4 mùa rõ rệt, mật độ dân cư đông đúc, các khu công nghiệp phát triển với tốc độ rất nhanh trong những năm gần đây, khu vực thành thị được mở rộng, các vấn đề trên làm cho các dịch bệnh ngày càng phát triển, sức khỏe của người dân ngày càng bị đe dọa nhiều hơn bởi vậy mà chi tiêu y tế của các hộ gia đình trong vùng này cùng cao hơn so với các vùng khác. Chủ hộ thường là những người đưa ra các quyết định chính trong hộ. Vì thế đặc điểm của chủ hộ cũng ảnh hưởng đáng kể đến các khoản chi tiêu trong hộ trong đó có chi tiêu y tế. Hệ số của biến tuổi của chủ hộ và giáo dục của chủ hộ cũng có giá trị dương ở mức ý nghĩa lần lượt là 1% và 10%. Điều này có thể hiểu rằng các chủ hộ có tuổi càng cao và các chủ hộ có trình độ giáo dục càng cao thì họ càng quan tâm hơn đến sức khỏe của các thành viên trong hộ, khi các thành viên ốm đau, họ sẵn sàng chi tiêu cho các dịch vụ y tế nhiều hơn. Không thấy có bằng chứng cho thấy giới tính của chủ hộ có tác động tới chi tiêu y tế của hộ. Biến CO2 emission đại diện cho tác động của môi trường tới chi tiêu cho sức khỏe. Hệ số của biến này dương cho thấy rằng lượng khí thải càng cao thì chi tiêu y tế của các hộ gia đình ở khu vực thành thị càng lớn. Trong giai đoạn nghiên cứu có thể thấy sự phát triển của các khu công nghiệp tại các thành phố diễn ra rất mạnh mẽ. Tốc độ xây dựng đường sá, các tòa nhà cao tầng, các khu vực nông nghiệp 177 được thay thế bằng các khu đô thị tại các thành phố tăng nhanh. Dân cư đô thị gia tăng mạnh kéo theo các hoạt động giao thông đi lại cũng tăng Tất cả các hoạt động này làm gia tăng mức độ ô nhiễm không khí cho khu vực thành thị, đặc biệt là ở các thành thị lớn. Trong những năm qua có thể thấy rõ các dịch bệnh thường bùng phát và nghiêm trọng tập trung ở các thành phố lớn như dịch sốt xuất huyết, dịch sởi, viêm phổi, Điều này làm cho nhu cầu y tế của các cá nhân tăng cao từ đó làm gia tăng chi tiêu y tế của các hộ gia đình tại khu vực thành thị. 4. Kết luận Với các vấn đề được phân tích và thảo luận ở trên, nghiên cứu rút ra một số kết luận chính như sau: Thứ nhất, là chi tiêu y tế tại các hộ gia đình ở khu vực thành thị trong mẫu nghiên cứu ở mức cao và đang có xu hướng tăng mạnh qua các năm. Mức chi tiêu y tế của các hộ chiếm gần 10% tổng chi tiêu của các hộ. Điều này cho thấy nếu tỷ trọng này tiếp tục tăng có thể ảnh hưởng đáng kể tới đời sống của các hộ, đặc biệt là các hộ có mức thu nhập trung bình và thấp. Thứ hai, thu nhập bình quân ngày càng tăng cao thì hộ cũng sẵn sàng chi tiêu nhiều hơn cho các dịch vụ y tế. Vì vậy, nhà nước cần có các chính sách thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, gia tăng thu nhập bình quân đầu người để gia tăng khả năng tiếp cận dịch vụ y tế của người dân. Thứ ba, yếu tố vùng cũng ảnh hưởng tới chi tiêu y tế của hộ gia đình, hầu hết các vùng đều có mức chi tiêu y tế thấp hơn so với vùng đồng bằng sông Hồng. Với các vùng có mức chi tiêu y tế thấp hơn, nhà nước cần phát triển mạng lưới cơ sở y tế để tăng khả năng tiếp cận dịch vụ y tế cho người dân, còn ở vùng đồng bằng sông Hồng, nhà nước cần nghiên cứu đưa ra các chính sách cụ thể để giảm khả năng bệnh tật, từ đó góp phần giảm chi tiêu y tế của các hộ gia đình ở khu vực này. Thứ tư, tại các hộ có số người già và trẻ em nhiều hơn cũng có mức chi tiêu y tế cao hơn, nhà nước cầng tăng cường hỗ trợ chăm sóc sức khỏe cho trẻ em và người già để giảm gánh nặng chi tiêu y tế cho các hộ. Đặc biệt trong bối cảnh già hóa dân số hiện nay, vấn đề sức khỏe và chi tiêu y tế của người già cần được quan tâm nhiều hơn nữa. Thứ năm, chủ hộ có học vấn cao hơn cũng chi tiêu cho y tế nhiều hơn. Học vấn cao thể hiện sự hiểu biết, quan tâm chăm sóc hơn cho sức khỏe. Vì vậy nâng cao trình độ dân trí để bảo vệ tăng cường sức khỏe là rất cần thiết. Ngoài ra, công nghiệp hóa và tốc độ đô thị hóa tăng nhanh dẫn tới gia tăng lượng khí thải, ô nhiễm không khí cũng là nguyên nhân quan trọng gây ra các vấn đề sức khỏe khiến các hộ gia đình ở khu vực thành thị cũng phải chi tiêu cho y tế 178 nhiều hơn. Vì vậy trong quá trình phát triển kinh tế ở các khu vực thành thị, nhà nước cũng cần đặc biệt chú trọng tới vấn đề khí thải, ô nhiễm môi trường để giảm thiểu tác hại đến sức khỏe và chi tiêu y tế của người dân. Tài liệu tham khảo 1. Akin J. S., D. K. Griffin and B.M. Popkin (1986), The Demand for Primary Health services in The Bicol Region of the Philippines, Economic development and Cultural Change, 34(4):755-782. 2. David, S. (1993), “Health Exp