Phát huy bền vững giá trị tài nguyên di sản khảo cổ học tiền, sơ sử lưu vực sông Thu Bồn

Tóm tắt Lưu vực sông Thu Bồn, theo nghiên cứu cho đến nay, là nơi tập trung đậm đặc nhất dấu tích của các cộng đồng cư dân sinh sống từ cách ngày nay trên 3.000 năm. Nhờ những nỗ lực của các bên: chính quyền - cộng đồng - nhà nghiên cứu mà những giá trị tiêu biểu của các di sản vật thể (di tích và di vật khảo cổ học Sa Huỳnh - Champa) đã và đang được bảo tồn, bảo vệ, sử dụng và phát huy khá hiệu quả. Tuy nhiên, quá trình phát triển với những tác động hai mặt của đô thị hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, biến đổi khí hậu và môi trường tự nhiên, đem lại những thách thức lớn đối với sự tồn vong của di sản vật thể nói chung và di sản khảo cổ nói riêng. Để phát triển và bảo tồn tương hỗ cho nhau, cần phải xây dựng những kế hoạch và chiến lược dài hơi dựa trên cơ sở pháp lý quốc gia, quốc tế, cơ sở khoa học liên ngành cùng những kinh nghiệm thực tiễn trong nước, ngoài nước về bảo tồn, sử dụng và phát huy di sản. Bài viết do đó tập trung vào vấn đề: Khái quát trữ lượng tài nguyên di sản; đánh giá giá trị di sản; phương hướng phát huy và sử dụng di sản bền vững.

pdf10 trang | Chia sẻ: thanhle95 | Lượt xem: 139 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Phát huy bền vững giá trị tài nguyên di sản khảo cổ học tiền, sơ sử lưu vực sông Thu Bồn, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
15Số 29 (Tháng 9 - 2019) DI SẢN VĂN HÓA NGHIÊN CỨUVĂ N HÓA PHÁT HUY BỀN VỮNG GIÁ TRỊ TÀI NGUYÊN DI SẢN KHẢO CỔ HỌC TIỀN, SƠ SỬ LƯU VỰC SÔNG THU BỒN LÂM THỊ MỸ DUNG CHU LÂM ANH Tóm tắt Lưu vực sông Thu Bồn, theo nghiên cứu cho đến nay, là nơi tập trung đậm đặc nhất dấu tích của các cộng đồng cư dân sinh sống từ cách ngày nay trên 3.000 năm. Nhờ những nỗ lực của các bên: chính quyền - cộng đồng - nhà nghiên cứu mà những giá trị tiêu biểu của các di sản vật thể (di tích và di vật khảo cổ học Sa Huỳnh - Champa) đã và đang được bảo tồn, bảo vệ, sử dụng và phát huy khá hiệu quả. Tuy nhiên, quá trình phát triển với những tác động hai mặt của đô thị hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, biến đổi khí hậu và môi trường tự nhiên, đem lại những thách thức lớn đối với sự tồn vong của di sản vật thể nói chung và di sản khảo cổ nói riêng. Để phát triển và bảo tồn tương hỗ cho nhau, cần phải xây dựng những kế hoạch và chiến lược dài hơi dựa trên cơ sở pháp lý quốc gia, quốc tế, cơ sở khoa học liên ngành cùng những kinh nghiệm thực tiễn trong nước, ngoài nước về bảo tồn, sử dụng và phát huy di sản. Bài viết do đó tập trung vào vấn đề: Khái quát trữ lượng tài nguyên di sản; đánh giá giá trị di sản; phương hướng phát huy và sử dụng di sản bền vững. Từ khóa: Di sản khảo cổ học, phát triển bền vững, Sa Huỳnh, Champa, sông Thu Bồn Abstract According to some researches up to present, the Thu Bon River basin is the most condensed traces of the communities living there more than 3,000 years ago. Thanks to the efforts of the government, the community and the researchers that the typical values of tangible heritages (archaeological relics of Sa Huynh - Champa) have been preserved, protected, used and promoted quite effectively. However, the development process of urbanization, industrialization, modernization, climate and the natural environment change... with the dual effects bringing about great challenges to the survival of the tangible heritage in general and archaeological heritage in particular. For mutual development and conservation, it is necessary to have long-term plans and strategies based on national and international legal, interdisciplinary scientific basis as well as practical experiences of domestic and abroad researchers on conservation, use and promotion of heritage. Therefore, the article focuses on overview the heritage resource reserves; assess the value of heritage; the directions to promote and use heritage sustainably. Keywords: Archaeological heritage, sustainable development, Sa Huynh, Champa, Thu Bon River Dẫn nhập Cho tới nay, theo văn liệu văn hóa học Việt Nam và thế giới, có nhiều loại hình di sản khác nhau. Tổ chức UNESCO đã đưa ra Sơ đồ phân loại di sản văn hóa (Sơ đồ 1). Di sản văn hóa Việt Nam cũng được phân loại chủ yếu dựa trên hệ thống này. Khái niệm “Di sản Khảo cổ học” (DSKCH) trong Luật Di sản văn hóa của nước CHXHCN Việt Nam được trình bày trong Chương 1, Điều 4.2. Di sản vật thể (bất động sản và động sản) là “sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia” [14]. Số 29 (Tháng 9 - 2019)16 NGHIÊN CỨUVĂ N HÓA Trong Hiến chương về Bảo tồn và Quản lý di sản khảo cổ học của Hội đồng Quốc tế về Di tích và Công trình (ICOMOS), Điều 1 xác định: “Di sản khảo cổ là một phần của di sản vật chất mà nhờ các phương pháp khảo cổ học để thu thập được thông tin chính. Di sản khảo cổ là tất cả các dấu tích về sự tồn tại của con người và bao gồm các địa điểm liên quan đến tất cả các biểu hiện của hoạt động của con người, các cấu trúc bị bỏ hoang và dấu tích của mọi thứ (bao gồm cả các địa điểm dưới đất và dưới nước), cùng với tất cả các di vật văn hóa liên quan” [10]. Tuy nhiên, DSKCH không chỉ là di sản vật thể (mặc dù trong các tài liệu pháp lý quốc gia và quốc tế dẫn ra trên đây chỉ chú trọng vào tính chất vật lý “sờ thấy được” và những chính sách cũng như chiến lược và phương pháp bảo tồn, bảo vệ, sử dụng và phát huy cũng chỉ ưu tiên những giá trị vật chất) mà còn chứa đựng khía cạnh phi vật thể “không sờ thấy được” (intangible) và “sống” (living), bao gồm những giá trị tinh thần và biểu tượng, những câu chuyện và ký ức, những kỹ thuật, kỹ năng bí truyền, những tri thức dân gian, những dấu ấn có thể cả tích cực và tiêu cực của quá trình lịch sử, chính sách văn hóa của mỗi thời kỳ, mỗi cộng đồng dân cư. Như vậy, việc đánh giá giá trị DSKCH để từ đó đưa ra chiến lược bảo tồn, sử dụng và phát huy sẽ cần đề cập tới cả hai khía cạnh vật thể và phi vật thể như sơ đồ dưới đây về các giá trị di sản (Sơ đồ 2). Và nếu coi di sản là tài nguyên thì giá trị của Sơ đồ 1. Phân loại di sản văn hóa của UNESCO (Nguồn: [8]) Sơ đồ 2. Các khối giá trị di sản khảo cổ học (Nguồn: [1]) 17Số 29 (Tháng 9 - 2019) DI SẢN VĂN HÓA NGHIÊN CỨUVĂ N HÓA tài nguyên DSKCH theo chiều thời gian gồm giá trị quá khứ, giá trị hiện tại và giá trị tương lai. Giá trị của tài nguyên DSKCH theo nguồn gốc và tính chất gồm giá trị tự thân được kế thừa, giá trị tái tạo, giá trị sáng tạo của cộng đồng chủ nhân hay sở hữu di sản và giá trị chia sẻ cho và với các cộng đồng khác. 1. Loại hình và giá trị tài nguyên di sản khảo cổ học Tiền, Sơ sử lưu vực sông Thu Bồn 1.1. Loại hình Loại hình DSKCH văn hóa Sa Huỳnh (từ 2.400 năm đến thế kỷ I TCN) Cho tới nay, lưu vực sông Thu Bồn cùng các chi lưu là nơi tập trung đậm đặc nhất các di tích văn hóa Sa Huỳnh và có thể xác định những cụm di tích lớn tại vùng thượng lưu, trung lưu và hạ lưu các sông Thu Bồn, sông Vu Gia Điển hình là cụm từ Hội An đến Điện Bàn với những khu mộ chum lớn Hậu Xá I, Hậu Xá II, An Bang, Lai Nghi, cụm Gò Mả Vôi - Gò Miếu Ông - Thôn Tư; Gò Dừa, ở Duy Xuyên; cụm di tích tại các huyện Đại Lộc, Tiên Phước; cụm di tích huyện Hiệp Đức Đặc biệt là những khu mộ địa giàu có của những cộng đồng thu gom sản vật núi rừng Quế Lộc, Đại Lãnh, Bình An, Gò Đình, hay khu mộ địa của cộng đồng thương nhân Lai Nghi, Hậu Xá, cửa sông ven biển. Trong số đó có An Bang và Lai Nghi, những khu mộ địa giàu có nhất, nhiều khả năng là của cộng đồng thương nhân Sa Huỳnh buôn bán tại cảng thị sơ khai tiền thân của Đại Chiêm Hải khẩu Lâm Ấp Phố sau này. Ví dụ như Lai Nghi với 63 mộ chum lớn (trên diện tích khai quật 192m²), chum quan tài chủ yếu hình trụ có kích thước rất lớn với nắp đậy hình nón cụt, hình lồng bàn hoặc đáy của một chum khác. Đồ chôn theo người chết giàu có và phong phú cả về số lượng cũng như chất lượng, phân bố không đồng đều cho thấy mức độ phân hóa của cải và xã hội cao trong nhóm cư dân này. Tỉ lệ của cải cho người chết trên đầu chum quan tài cao nhất so với tất cả những mộ địa đã biết. Đồ đồng tùy táng ở Lai Nghi chủ yếu có niên đại muộn, cận kề Công nguyên và nhiều đồ nghi lễ bằng đồng như gương, đỉnh, chậu, bát mang phong cách đồ đồng Hậu kỳ Tây Hán, Sơ kỳ Đông Hán và những hàng hóa có nguồn gốc từ Ấn Độ [5, tr.80-83]. Gò Dừa cũng là một khu mộ địa đặc biệt, lần đầu tiên trong văn hóa Sa Huỳnh phát hiện được một quần thể mộ chum lồng dạng “trong quan, ngoài quách”, đồ chôn theo cũng cho thấy thân phận cao quý của chủ nhân các ngôi mộ và mối quan hệ với thế giới Trung Hoa, Ấn Độ Có nhiều khả năng đây là khu mộ của dòng họ có vị thế cao trong cộng đồng, khu mộ của dòng họ thủ lĩnh của một xã hội lãnh địa (chiefdom). Loại hình DSKCH Champa Lưu vực sông Thu Bồn cũng là địa bàn của các nhóm địa điểm cư trú, bến cảng, giếng, thành lũy, (bên cạnh đền - tháp) Champa qua nhiều thời kỳ khác nhau: Lâm Ấp (khoảng 192 - 758) và những tiểu quốc khác cùng thời Lâm Ấp - Hoàn Vương (khoảng 758 - 866) - Chiêm Thành (khoảng 866-1471). Tên Chiêm Thành phiên từ Champapura (thành phố của người Cham)1. Dựa vào mô hình một tiểu quốc Ấn Độ Bàlamôn giáo, một số nhà nghiên cứu giả định rằng mỗi tiểu vương quốc/mandala được thiết lập trên địa bàn miền Trung Việt Nam đã dựa vào 5 yếu tố phong thủy như: 1) Núi Thiêng (tượng trưng thần Siva); 2) Sông Thiêng (tượng trưng nữ thần Ganga, vợ thần Siva); 3) Cửa biển Thiêng (cảng - thị, nơi trao đổi hàng hoá, mậu dịch hải thương, là trung tâm kinh tế); 4) Thành phố Thiêng/Hoàng thành (nơi cư ngụ của vua và hoàng tộc hoặc lãnh chúa, là trung tâm vương quyền); 5) Đất Thiêng/Thánh đô (nơi thờ tự thần linh và tổ tiên, là trung tâm tín ngưỡng) [13]. Trong tất cả các lưu vực sông ở miền Trung, lưu vực sông Thu Bồn cho thấy rõ nhất cấu trúc của một tiểu quốc/mandala Champa với cấu trúc mô tả ở trên (Hình 1). Trần Kỳ Phương nhận định rằng tiểu quốc Amaravati, ở lưu vực sông Thu Bồn ngày nay, được hình thành dựa trên 5 yếu tố sau: Số 29 (Tháng 9 - 2019)18 NGHIÊN CỨUVĂ N HÓA 1) Núi Thiêng là Mahaparvata/Đại Sơn Thần/Thần Siva hay núi Mỹ Sơn/Răng Mèo; 2) Sông Thiêng là sông Thu Bồn; 3) Cửa biển Thiêng/Cảng - thị là vùng Cửa Đại/Hội An; 4) Thành phố Thiêng/Hoàng thành là Sim- hapura/Thành Sư Tử tại Trà Kiệu; 5) Đất Thiêng/Thánh đô là Srisanab- hadresvara tại Mỹ Sơn. Cho tới nay, ngoài lưu vực sông Thu Bồn - địa vực của tiểu quốc Amaravati, với cấu trúc đầy đủ như đã nêu trên, những lưu vực sông khác - những tiểu quốc khác chưa cho thấy một cách rõ ràng cấu trúc như vậy. Có một số lý do giúp giải thích hiện tượng này, đó là tiểu quốc Amaravati ở lưu vực sông Thu Bồn và một số lưu vực sông khác ở các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi hiện nay được thành lập sớm, kế thừa cơ sở vật chất của Lâm Ấp rồi Sa Huỳnh Bắc giàu mạnh trước đó. Cơ cấu hành chính, chính trị của Amaravati cho thấy những chuẩn Ấn Độ ban đầu được áp dụng một cách khá chặt chẽ và đầy đủ. Cơ cấu này mặc dù luôn được áp dụng ở những giai đoạn muộn hơn nhưng có lẽ với những thay đổi nhất định cho phù hợp với điều kiện địa hình và điều kiện xã hội, những yếu tố ngoại sinh dần được địa phương hoá. Một lý do khác nữa là Thánh đô Mỹ Sơn cùng với đền tháp Po Nagar đã đóng vai trò là trung tâm tín ngưỡng tôn giáo của vùng/vương quốc cũng hạn chế sự hình thành của những Thánh đô lớn ở thượng nguồn các sông khác. Và bên cạnh những thành lũy, đền tháp, tại đây, những làng cư trú Champa (nền tảng duy trì các tiểu quốc) cũng đã được phát hiện, phần lớn trùng khớp với địa bàn văn hóa Sa Huỳnh trước đó. Những nhóm địa điểm Champa ở Hội An, ở Duy Xuyên trong thời gian từ thế kỷ I đến thế kỷ XII, XIII, với tính chất khác nhau, phản ánh đời sống chính trị, kinh tế và văn hóa của các cộng đồng cư dân hơn một thiên niên kỷ, từ khởi đầu của nhà nước Champa (Lâm Ấp) đến những thời kỳ cực thịnh. Và nếu so với những tiểu quốc Champa ở các lưu vực sông khác thì bên cạnh di tích đền tháp tại lưu vực sông Thu Bồn, những làng cư trú, hệ thủy (giếng), bãi bến, cảng, kho báu, thành lũy, cung điện, phản ánh đầy đủ và hệ thống mọi khía cạnh vật chất, tinh thần và tâm linh của các cộng đồng cư dân Champa ở lưu vực sông Thu Bồn cũng như mối quan hệ giao lưu văn hóa buôn bán trong, ngoài sôi động và mạnh mẽ. 1.2. Giá trị Giá trị lịch sử Các di tích khảo cổ học Tiền, Sơ sử ở lưu vực sông Thu Bồn có giá trị nổi bật về quá trình liên tục (kế thừa và phát triển) văn hóa; về những chuyển biến bước ngoặt về chính trị, tư tưởng, từ cách đây 3.500 năm đến hiện nay. (Chú thích: a. Mỹ Sơn; b. Trà Kiệu; c. Hội An; D. Cù Lao Chàm) Hình 1. Cấu trúc của một tiểu quốc/mandala Champa (Nguồn: Nhóm tác giả) 19Số 29 (Tháng 9 - 2019) DI SẢN VĂN HÓA NGHIÊN CỨUVĂ N HÓA Trong tất cả các lưu vực sông ở miền Trung Việt Nam, lưu vực sông Thu Bồn là nơi tìm thấy đầy đủ các loại hình di tích và di vật khảo cổ học Sa Huỳnh Champa. • Từ cách đây 3.500 năm (Văn hóa Tiền Sa Huỳnh): Bãi Ông (Cù Lao Chàm), Bàu Trám (Núi Thành) • Từ cách đây 2.300 năm đến cuối thế kỷ I Tr.CN (Văn hóa Sa Huỳnh): Hậu Xá I, II, Xuân Lâm, Thanh Chiếm, An Bang, Lai Nghi, Gò Mả Vôi, Gò Dừa, Gò Cấm (lớp dưới), Thôn Tư • Thời kỳ quận Nhật Nam thế kỷ I - II: Hồ Điều Hòa - Chùa Cầu, Hậu Xá I di chỉ (lớp dưới), Sưu tập Hậu Xá II, Gò Cấm, Trà Kiệu (lớp dưới cùng) • Thời kỳ Lâm Ấp thế kỷ III - V: Hồ Điều Hòa - Chùa Cầu, Hậu Xá I di chỉ (lớp dưới), Thanh Chiếm, Trảng Sỏi (lớp dưới), Trà Kiệu (lớp dưới), Ruộng Đồng Cao • Thời kỳ Champa từ thế kỷ V đến XII, XIII: Hậu Xá I di chỉ (lớp trên), Trảng Sỏi (lớp trên), Đồng Nà, Ruộng Đồng Cao, Trà Kiệu (lớp trên), Bãi Làng (Cù Lao Chàm) Bộ sưu tập vườn nhà ông Nguyễn Lư khu vực Hậu Xá, khối I, phường Thanh Hà, Hội An • Thời kỳ Đại Việt • Thời kỳ Việt Nam Giá trị văn hóa xã hội Những DSKCH cho thấy khả năng thích ứng bằng những phương thức/mô hình mưu sinh đa dạng với những điều kiện tự nhiên và môi trường sinh thái, những cộng đồng cư dân Sa Huỳnh - Champa ở đây đã mở rộng mạng lưới quan hệ trao đổi nội vùng, liên vùng và quốc tế, gia tăng mức độ ứng dụng và sản xuất công cụ, vũ khí kim loại và phát triển nông nghiệp (trồng lúa nước) để đạt được những thành tựu to lớn, tạo ra những chuyển biến sâu sắc trong đời sống kinh tế, xã hội. Kiểu tổ chức không gian xã hội và sự phát triển đa dạng phù hợp với điều kiện tự nhiên sinh thái cũng như cách thức hội nhập phù hợp với bối cảnh chính trị - kinh tế khu vực của các cộng đồng cư dân văn hoá Sa Huỳnh đã được kế thừa và phát huy ở những giai đoạn sau. Cùng với sự chuyển dịch của dân cư từ bên ngoài vào, áp lực chính trị từ Trung Hoa, tiếp xúc với Nam Á và sự phát triển nội tại đã dẫn đến quá trình kết tinh và thể chế hóa kinh tế - chính trị từ sau Công nguyên dẫn đến sự hình thành của những nhà nước sớm, từ góc độ môi trường địa lý - sinh thái, những nhà nước Champa sớm đã cho thấy sự tái chọn lựa không gian chính trị xã hội của những lãnh địa thời Sa Huỳnh, những lãnh địa thời Sa Huỳnh là cơ sở nền tảng căn bản cho sự hình thành những tiểu quốc Lâm Ấp, liên bang giữa các tiểu quốc/ mandala Champa [4]. Những DSKCH ở lưu vực sông Thu Bồn, đặc biệt là vùng hạ lưu cho thấy rõ quá trình chuyển biến trong cả hạ tầng cơ sở và thượng tầng kiến trúc của những nhà nước ven biển được thành lập dựa trên những trung tâm buôn bán chợ thường tọa lạc ở cửa những hệ thống sông chính và duy trì mối quan hệ chặt chẽ với những làng trên thượng nguồn, đóng vai trò những điểm thu thập/mua bán sản phẩm rừng núi với miền xuôi “Tương tự như những người cai trị của những nền kinh tế chính trị ven sông quần đảo, quyền lực của một quốc vương Chàm (Cham) tập trung trong đồng bằng cửa sông của ông ta; bên ngoài cơ sở thành thị trung tâm cửa sông của mình chủ quyền của một quốc vương Chàm (Cham) phụ thuộc vào khả năng của ông ta kiến tạo một mạng lưới đồng minh với những thủ lĩnh của những cộng đồng dân cư ở thượng nguồn cũng như với thủ lĩnh của những cộng đồng cư dân Chàm (Cham) ở hệ thống sông biển Thời kỳ Hình thái tổ chức nhà nước Sa Huỳnh (Các) Lãnh địa Lâm Ấp (Các) Tiểu quốc Champa Liên minh/Liên bang của các tiểu quốc kiểu cấu trúc mandala Bảng 1. Những hình thái tổ chức nhà nước Champa qua các thời kỳ (Nguồn: Tác giả lập) Số 29 (Tháng 9 - 2019)20 NGHIÊN CỨUVĂ N HÓA khác” [7, tr.253-254]. Những di vật và di tích khảo cổ Sa Huỳnh, Champa ở lưu vực sông Thu Bồn mang những giá trị tiêu biểu giúp chúng ta hình dung về một cơ cấu kinh tế đa ngành, đa lĩnh vực theo thế chân vạc mà trong đó nông nghiệp và thủ công nghiệp đóng vai trò nền tảng, đảm bảo “an ninh lương thực” trong khi thương mại đường sông và đường dài trên biển tạo ra những thặng dư vật chất duy trì và thúc đẩy những khía cạnh đời sống tôn giáo phát triển mà chứng cứ là những khu mộ địa rộng lớn với những chum quan tài kích thước lớn, đồ tùy táng phong phú, giàu có thời Sa Huỳnh và thành lũy, đền tháp và điêu khắc Phật giáo và Hidu giáo thời Champa [5]. 2. Phát huy giá trị di sản khảo cổ học Tiền, Sơ sử lưu vực sông Thu Bồn 2.1. Những yếu tố tác động đến di sản Cũng giống như các loại hình di sản khác, DSKCH có đời sống riêng của mình từ lúc hình thành, phá hủy, tái tạo và sống lại. Để di sản trở thành tài nguyên cho hiện tại, tương lai, mỗi di sản cần được quan tâm tìm hiểu chăm sóc duy trì và phát huy giá trị (Hình 2). Di sản chịu nhiều tác động của môi trường tự nhiên và môi trường nhân tạo, xã hội càng phát triển, sự tiêu tốn năng lượng càng lớn thì tác động tiêu cực đối với di sản càng lớn. Mỗi loại di sản chịu các tác động tự nhiên, con người khác nhau với mức độ gây hại khác nhau. Đối với DSKCH, đó là sự xuống cấp, huỷ hoại hoàn toàn hay từng phần do nhiều nguyên nhân, trong đó có những nguyên nhân khách quan như khí hậu, môi trường thời tiết khắc nghiệt, khó lường, chiến tranh, xung đột tôn giáo, tín ngưỡng, hoặc đứt gãy truyền thống do những quan điểm sai lầm của một giai đoạn lịch sử, nhiều công trình tôn giáo bị phá huỷ một cách cố ý. Bên cạnh đó, việc chưa có quy hoạch đồng bộ giữa cái cần bảo tồn và xây dựng mới dẫn đến mức độ hủy hoại DSKCH ngày càng nhanh hơn. Môi trường thiên nhiên truyền thống của một số khu di sản bị biến dạng, nhiều không gian hoạt động tại di sản văn hóa, không gian lễ hội bị phá vỡ, hoặc thu hẹp lại (đình, chùa bị phá hoại trong chiến tranh, các con đường hành lễ, các địa điểm sinh hoạt lễ hội, không gian văn hóa bị chia cắt do việc xây dựng mở mang các đô thị, khu công nghiệp). Thế hệ trẻ ngày càng ít quan tâm và không còn muốn sống trong những môi trường truyền thống, môi trường sống tại các đô thị hiện đại có lực hấp dẫn mạnh mẽ đối với họ. Con người ngày càng muốn sống trong các điều kiện hiện đại, có đầy đủ tiện nghi hơn, vì vậy, di sản văn hóa luôn đứng trước nguy cơ bị cải biến theo hướng hiện đại. Bên cạnh đó, bảo tồn không đúng cách dẫn đến làm mới di tích, hiện tượng hoành tráng hoá di tích làm mất di tích... Quan điểm bảo tồn trái ngược nhau, kinh phí bảo tồn ít và chi tiêu chưa hợp lý, thất thoát, lãng phí và có cả những trường hợp tham nhũng... Chưa có đội Hình 2. Vòng đời di sản (Nguồn: [17]) 21Số 29 (Tháng 9 - 2019) DI SẢN VĂN HÓA NGHIÊN CỨUVĂ N HÓA ngũ làm công tác trùng tu chuyên nghiệp và đồng bộ [6, tr.15-26]. Tại hội nghị của ICOMOS Dublin 2010, bốn vấn đề lớn về quan hệ giữa di sản với biến đổi xã hội hiện nay đã được đặt ra, đó là: 1) Di sản của những cộng đồng đang biến đổi, đang phát triển; 2) Di cư, di dân và di sản bản địa; 3) Di sản tôn giáo; 4) Các tác động xã hội của biến đổi khí hậu toàn cầu [11]. Trong những thảo luận xung quanh tính bền vững của di sản, Trung tâm Di sản Thế giới đã thực hiện thu thập và xây dựng một bộ dữ liệu hữu ích. Những phân tích các mối đe dọa đối với các di sản văn hóa (bất kể vị trí hoặc loại hình) đã chỉ ra rằng các vấn đề toàn cầu xuất phát từ các vấn đề quản lý, các dự án phát triển và du lịch đều nằm trong nhóm đầu tiên [16]. Do vậy, đối với công cuộc bảo tồn phát huy giá trị những nguồn tài nguyên DSKCH lưu vực sông Thu Bồn, chúng tôi cũng cho rằng vấn đề quản trị/ quản lý, các dự án phát triển và du lịch là ba vấn đề