Phương pháp nguyên cứu khoa học

Nhà vật lý thiên tài Albert Einstein có lần đã nói: “Điều khó hiểu nhất về Vũ Trụ là chúng ta có thể hiểu được một cách đơn giản về Vũ Trụ”. Thực tế, các ngành khoa học nói chung và vật lý học nói riêng ra đời và phát triển đều nhằm phục vụ cho mục đích duy nhất của con người, đó là giúp con người có thể hiểu được, nhận thức được những quyluật biến đổi và vận hành của tự nhiên để từ đó có sựtác động trở lại tự nhiên, cải tạo tự nhiên, đảm bảo sự sinh tồn và phát triển của loài người, giúp cho đời sống con người ngày càng được nâng cao, nền văn minh con người ngày càng tiến bộ. Tuy nhiên, các quy luật, các định luật, đặc biệt là trong vật lý học, mô tả và phản ánh sự vận hành của thế giới tự nhiên lại vô cùng đơn giản, thậm chí là “dễ hiểu”. Ta có thể dẫn chứng ra đây một vài ví dụ minh họa

pdf20 trang | Chia sẻ: tranhoai21 | Lượt xem: 1493 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Phương pháp nguyên cứu khoa học, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
PHƯƠNG PHÁP NGUYÊN CỨU KHOA HỌC  SWEET NOVEMBER VERSION 2010 1 PHƯƠNG PHÁP NGUYÊN CỨU KHOA HỌC Câu 1: Hãy nêu đặc tính của các định luật vật lý Đặc tính của các định luật vật lý (có 8 đặc tính): 1. Các định luật vật lý rất đơn giản Nhà vật lý thiên tài Albert Einstein có lần đã nói: “Điều khó hiểu nhất về Vũ Trụ là chúng ta có thể hiểu được một cách đơn giản về Vũ Trụ”. Thực tế, các ngành khoa học nói chung và vật lý học nói riêng ra đời và phát triển đều nhằm phục vụ cho mục đích duy nhất của con người, đó là giúp con người có thể hiểu được, nhận thức được những quy luật biến đổi và vận hành của tự nhiên để từ đó có sự tác động trở lại tự nhiên, cải tạo tự nhiên, đảm bảo sự sinh tồn và phát triển của loài người, giúp cho đời sống con người ngày càng được nâng cao, nền văn minh con người ngày càng tiến bộ. Tuy nhiên, các quy luật, các định luật, đặc biệt là trong vật lý học, mô tả và phản ánh sự vận hành của thế giới tự nhiên lại vô cùng đơn giản, thậm chí là “dễ hiểu”. Ta có thể dẫn chứng ra đây một vài ví dụ minh họa: + Khi quan sát sự chuyển động và đứng yên của mọi vật, nhà bác học người Ý Galileo Galilei đã phát biểu một quy luật mà sau này được gọi là “Nguyên lý tương đối Galileo”. Nội dung của nguyên lý khá đơn giản: “Một vật đang chuyển động sẽ chuyển động mãi mãi, một vật đứng yên sẽ đứng yên mãi mãi nếu nó không chịu tác dụng của bất kỳ lực nào khác bên ngoài”. Nguyên lý này có thể biểu diễn ngắn gọn dưới dạng toán học như sau: F = 0  v = const + George Simon Ohm, nhà vật lý người Đức, bằng thực nghiệm đã thiết lập được công thức liên hệ cũng khá đơn giản giữa các đại lượng chủ yếu trong một mạch điện, định luật Ohm: “Cường độ dòng điện (I) trong một đoạn mạch tỷ lệ thuận với hiệu điện thế giữa hai đầu đoạn mạch đó (V) và tỷ lệ nghịch với điện trở của đoạn mạch (R). R VI  Trong đó điện trở R là đại lượng đặc trưng cho khả năng kháng lại dòng điện của vật dẫn, xuất phát từ va chạm giữa các electron đang chuyển động và các nguyên tử nút mạng của vật dẫn. SWEET NOVEMBER VERSION 2010 2 2. Các định luật vật lý thường được biểu diễn bằng toán học So với các ngành khoa học khác, vật lý sử dụng toán học rất nhiều, có thể nói là nhiều nhất. Các định luật vật lý, bên cạnh việc phát biểu bằng lời văn, còn có thể được biểu diễn dưới dạng biểu thức toán học. Điều này làm cho các định luật vật lý trở nên rõ ràng, ngắn gọn, súc tích, dễ nhớ, dễ áp dụng. Ví dụ: Tên định luật vật lý Phát biểu bằng lời văn Biểu diễn bằng toán học Định luật I Newton Một vật sẽ đứng yên hay chuyển động thẳng đều nếu không chịu một lực nào tác dụng, hoặc nếu các lực tác dụng vào nó cân bằng nhau. constvF    0 hay constvf i i   0 Định luật II Newton Gia tốc của một vật tỉ lệ thuận với lực tác dụng vào vật và tỉ lệ nghịch với khối lượng của nó. m Fa    Định luật III Newton Những lực tương tác giữa hai vật là hai lực trực đối, nghĩa là cùng độ lớn, cùng phương nhưng ngược chiều 2112 FF   Định luật vạn vật hấp dẫn của Newton Hai chất điểm bất kỳ hút nhau một lực tỉ lệ thuận với tích của hai khối lượng của chúng và tỷ lệ nghịch với bình phương khoảng cách giữa chúng. 2 21. r mmGFhd  Với G = 6,68.10-11 2 2. kg mN là hằng số hấp dẫn Định luật Gauss (dưới dạng tích phân) cho điện trường Trong trường tĩnh điện, thông lượng của vector điện trường E  qua một mặt kín S bất kỳ 0( ) . i i S q E dS       Với ε0 = 8,86.10-12C2/N2m2 là SWEET NOVEMBER VERSION 2010 3 bằng tổng đại số các điện tích phân bố trên mặt kín đó, chia cho ε0ε. hằng số điện môi tuyệt đối của chân không, ε là hằng số điện môi tương đối của môi trường. Định luật Gauss (dưới dạng tích phân) cho từ trường Từ thông (hay thông lượng cảm ứng từ) gửi qua một mặt kín bất kỳ bằng 0. ( ) . 0 S B dS   Ngoài ra, việc biểu diễn các định luật vật lý dưới dạng toán học còn góp phần không nhỏ vào việc mở rộng tính ứng dụng của các định luật vật lý. Ví dụ như phương trình định luật II Newton: .m a F  , nếu chỉ viết đơn giản như vậy thì có lẽ nó chỉ mô tả được những chuyển động thẳng biến đổi đều của các vật thể đơn giản như hòn bi, chiếc xe,... Nhưng nếu ta biểu diễn nó ở mức độ toán học cao hơn bằng việc thay 2 2 dv d ra dt dt     thì ta sẽ nhận được một phương trình vi phân cấp 2: 2 2. d rm F dt    (với  r r t  ), cho phép mô tả bất kỳ chuyển động của vật thể nào trong tự nhiên, dù cho chuyển động đó có phức tạp đến mấy. 3. Các định luật vật lý có tính chất phổ quát (phổ biến) Các định luật vật lý trong một phạm vi nhất định phải đúng cho mọi đối tượng, mọi hiện tượng. Nếu như trong phạm vi ứng dụng cho phép, có một đối tượng hoặc một hiện tượng nào đó mà định luật vật lý không mô tả đúng, không phản ánh đúng thực tế, thì định luật đó tất yếu sẽ bị đào thải. Như Albert Einstein, khi Thuyết tương đối của ông bị công kích bởi những người bài Do Thái, phân phát truyền đơn dưới tiêu đề “100 tác giả chống lại Einstein”, ông đã nói một câu rất nổi tiếng: “Cần gì phải đến 100? Nếu tôi thực sự sai, chỉ 1 là đủ!”. Tính chất phổ quát của các định luật vật lý có thể được minh chứng rõ ràng nhất ở phương trình định luật II Newton: F ma   . Phương trình này có thể áp dụng cho tất cả mọi vật chất vĩ mô chuyển động với vận tốc rất nhỏ hơn nhiều vận tốc ánh sáng dù cho các vật chất có khác nhau thế nào đi nữa về hình dạng, khối lượng, quỹ đạo chuyển động, v.v SWEET NOVEMBER VERSION 2010 4 4. Các định luật vật lý thường là không chính xác, chưa đầy đủ và luôn có thể hoàn thiện thêm. Đây là một trong những đặc điểm rất đặc trưng của các định luật vật lý. Nhìn lại quá trình phát triển của Vật lý học từ những ngày đầu, chúng ta sẽ thấy rằng đặc điểm này thể hiện rất rõ. Một định luật vật lý nào đó khi mới ra đời không phải là hoàn toàn chính xác. Sau quá trình thực nghiệm kiểm chứng, nghiên cứu lý thuyết, nó được chỉnh sửa, bổ sung rồi sau đó tiếp tục được thực nghiệm kiểm chứng, nghiên cứu lý thuyết. Mỗi lần như vậy, định luật vật lý lại càng chặt chẽ hơn, tính phổ quát cao hơn, chính xác hơn. Ví dụ như trước năm 1900, trong lĩnh vực nhiệt động học của vật lý cổ điển xuất hiện một vấn đề nan giải, gây nhiều tranh cãi và thậm chí khủng hoảng, mặc dù nó chỉ là một vấn đề nhỏ, dường như không quan trọng nhưng lại không thể nào bỏ qua được. Đó là việc giải thích sự phân bố theo bước sóng (hay tần số) của bức xạ được phát ra bởi các vật bị nung nóng, lý tưởng nhất là bức xạ của vật đen tuyệt đối bị nung nóng. Bằng lý thuyết sóng, Rayleigh-Jeans đã tìm ra biểu thức tính công suất bức xạ, tỷ lệ thuận với lũy thừa bậc 3 của tần số v:   32 8, Bu T k Tc    Với kB = 1,38.10-23j/K là hằng số Boltzmann Bên cạnh đó, Wilhelm Wien, nhà vật lý người Đức, bằng lý thuyết nhiệt động học, cũng tìm ra biểu thức tính công suất bức xạ có dạng:   3, Tu T A e       Công thức của Rayleigh-Jeans và Wien khi biểu diễn trên đồ thị thì thấy chỉ phù hợp một phần với đường cong thực nghiệm. Mãi đến vài năm sau, Max Planck, khi sử dụng mô hình lượng tử hóa năng lượng, đã đưa ra công thức bức xạ rất phù hợp với đường cong thực nghiệm, sau này được gọi là định luật bức xạ của Planck:   3 3 8, 1B h k T hvu T c e            SWEET NOVEMBER VERSION 2010 5 Định luật bức xạ của Planck ra đời đã phản ánh đầy đủ kết quả thực nghiệm, giúp hoàn thiện hai lý thuyết trước đó của Rayleigh-Jeans và Wien vốn còn thiếu sót. 5. Các định luật vật lý luôn luôn có liên hệ với nhau Vì các định luật vật lý ra đời luôn mang tính kế thừa, sự phát triển theo sau dựa trên nền tảng của cái có trước, nên giữa chúng luôn có mối quan hệ với nhau. Từ định luật vật lý này có thể suy ra định luật vật lý kia và ngược lại. Những mối quan hệ hỗ tương này hình thành nên một hệ thống tri thức vững chắc, lại là tiên đề cho những định luật vật lý mới ra đời. Ví dụ như trong điện từ học, định luật Coulomb và định luật Gauss (cho điện trường) là hai định luật tương đương nhau nên ta có thể suy ra định luật này từ định luật kia và ngược lại. Ở đây, ta sẽ suy ra định luật Coulomb từ định luật Gauss với một vài xem xét đối xứng. Giả sử khảo sát một điện tích điểm q và một mặt Gauss dạng cầu bán kính r có tâm là điện tích q. dS là diện tích vi phân trên mặt đó. SWEET NOVEMBER VERSION 2010 6 Theo định luật Gauss: 0( ) ( ) . . .S S qE dS E dS       Vì E tại mọi điểm trên mặt Gauss là như nhau nên ta có thể lấy E ra bên ngoài dấu tích phân: 0( ) .S qE dS    Dễ dàng tính được: 2 ( ) 4 S dS r . Suy ra: 2 2 0 0 1.4 . . 4 q qE r E r         Đây chính là biểu thức của định luật Coulomb. Một ví dụ khác: Nhà vật lý học người Mỹ Holly Compton khi nghiên cứu quá trình tán xạ của tia X trên các nguyên tử nhẹ, nhận thấy trên màn bao giờ cũng ghi nhận được hai vạch phổ, một vạch có bước sóng bằng với chùm tia X tới ban đầu, một vạch có bước sóng lớn hơn và giá trị bước sóng này phụ thuộc vào góc tán xạ θ. Từ đây, với giả thiết hạt bia là điện tử (electron), ông đã phát biểu một định luật gọi là “Hiệu ứng Compton”: λ’ = λ + λc.(1 – cosθ) (*) Với λc = 2,4.10-12m là bước sóng Compton của electron Thực ra, công thức (*) có thể dễ dàng suy ra từ hai định luật bảo toàn cơ bản, đó là định luật bảo toàn năng lượng và định luật bảo toàn động lượng: 2 2 ' ' c o p p p h m c h mc           6. Các định luật vật lý luôn luôn làm sáng tỏ một vấn đề trước đó còn bí ẩn và gợi mở những hướng tư duy mới. Nhận thức của con người là một quá trình đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, rồi từ tư duy trừu tượng tác động trở lại thực tiễn. Tương tự, đứng trước một hiện tượng tự nhiên còn bí ẩn, nhà vật lý trước hết quan sát, sau đó cố gắng tái hiện lại hiện tượng đó bằng (Định luật bảo toàn động lượng) (Định luật bảo toàn năng lượng) SWEET NOVEMBER VERSION 2010 7 thí nghiệm. Nhà vật lý tiến hành đo đạc, ghi chép và xử lý các kết quả thu nhận được. Rồi từ nhiều kết quả khác nhau, nhà vật lý tổng kết lại, rút ra những kết luận, những nguyên tắc có thể phát biểu bằng lời hoặc mô tả bằng toán học. Tiếp đó, những kết luận, những nguyên tắc này lại được kiểm chứng mức độ đúng đắn bởi những người khác và nếu thỏa mãn tất cả thì những kết luận, những nguyên tắc đó mới được thừa nhận là định luật. Như vậy, một hiện tượng tự nhiên lúc ban đầu còn bí ẩn, qua một quá trình thực nghiệm, tư duy và tính toán lý thuyết của nhà vật lý, nó trở nên sáng tỏ, trở nên có quy luật. Tuy nhiên, thế giới tự nhiên lại vô cùng vô tận, khi điều bí ẩn này được giải quyết thì bao giờ cũng xuất thêm nhiều điều bí ẩn khác, đòi hỏi nhà vật lý phải không ngừng đổi mới cách tư duy, cách nhìn nhận, phá vỡ khuôn mẫu cũ, xây dựng mô hình mới để giải thích, để làm sáng tỏ những bí ẩn mới. Một lần nữa, nhìn lại lịch sử phát triển của vật lý học, chúng ta sẽ thấy rõ đặc điểm này. Vào cuối thế kỷ 19, nhiều nhà vật lý đã cho rằng mọi bí ẩn của tự nhiên đều đã được khám phá tường tận. Họ ví vật lý học như một toàn nhà kiên cố với hai trụ chống vững chắc, một là cơ học cổ điển của Newton, hai là lý thuyết trường điện từ của Maxwell, đứng sừng sững giữa bầu trời thiên nhiên trong xanh. Tuy nhiên, cũng chính vào lúc đó, hàng loạt hiện tượng bí ẩn, đi ngược lại với niềm tin trong cộng đồng vật lý lúc bấy giờ, đã bắt đầu xuất hiện, giống như những đám mây đen che khuất bầu trời xanh. Một trong những “bí ẩn” nổi tiếng là cuộc “khủng hoảng vùng tử ngoại” khi các lý thuyết đã có đều thất bại trong việc giải thích phân bố công suất bức xạ của vật đen tuyệt đối theo bước sóng (như có đề cập ở trên). Trong lúc cộng đồng vật lý hoang mang, thì Max Planck, với hướng tư duy mới, cho rằng bức xạ phát ra từ vật đen tuyệt đối không phải liên tục như mọi người vẫn nghĩ, mà nó tồn tại dưới dạng những phần nhỏ mang một năng lượng nhất định gọi là “lượng tử”. Chính ý tưởng về năng lượng bị lượng tử hóa này, Planck đã giải quyết ổn thỏa bí ẩn về “khủng hoảng vùng tử ngoại”. Ý tưởng lượng tử của Planck đã làm tiền đề cho sự phát triển của một ngành vật lý mới sau này: Vật lý lượng tử. Vật lý lượng tử ra đời đã nhanh chóng phát triển và có những thành tựu rực rỡ. Hàng trăm vấn đề trước đây còn là bí ẩn của vật lý dần dần trở nên sáng tỏ hơn, dễ hiểu hơn và có quy luật hơn. Tuy nhiên, những bí ẩn của tự nhiên vẫn còn tiếp tục tồn tại, thậm chí ngày càng vượt ra ngoài các định luật vật lý đã biết, đòi hỏi và kích thích các nhà vật lý phải không ngừng đổi mới tư duy, phác họa những mô hình mới, những lý thuyết mới để giải quyết. SWEET NOVEMBER VERSION 2010 8 7. Các định luật vật lý luôn luôn gắn liền với thực nghiệm và thực tế Trong lịch sử phát triển của vật lý học, có rất nhiều định luật vật lý đã ra đời và hầu hết chúng đều được đúc kết từ thực nghiệm. Thực nghiệm chính là cơ sở, là nền tảng, là tiền đề để định luật vật lý có thể ra đời và cũng chính thực nghiệm là nơi để kiểm chứng định luật vật lý, là yếu tố quyết định tính đúng đắn của định luật vật lý. Dẫn chứng thể hiện rõ nét nhất vai trò vô cùng to lớn và không thể thiếu của thực nghiệm đối với định luật vật lý là 3 định luật nổi tiếng của Kepler. Từ thời xưa, con người vẫn quan niệm rằng Trái đất là trung tâm của Vũ trụ và các vì sao, trong đó có mặt trời, quay xung quanh Trái đất. Sau đó, Copernic, bằng quan sát thiên văn (thực nghiệm) đã đưa ra lý thuyết Nhật tâm (định luật vật lý): Trái đất không phải là trung tâm của Vũ trụ. Trái đất chỉ là một hành tinh trong hệ Mặt trời và nó chuyển động quay xung quanh Mặt trời. Tiếp đó, Johannes Kepler, nhà thiên văn học, cũng là nhà toán học người Đức, dựa trên lý thuyết nhật tâm của Copernic, đồng thời thừa kế từ Tycho Brahe một gia sản khổng lồ những dữ liệu thô về vị trí của các hành tinh được ghi chép một cách tỉ mỉ trong suốt 20 năm (thực nghiệm), đã phát biểu 3 định luật về chuyển động của các thiên thể (định luật vật lý): + Định luật quỹ đạo elip của các hành tinh: Các hành tinh chuyển động quanh Mặt trời theo các quỹ đạo hình elip, trong đó Mặt Trời nằm tại một tiêu điểm. + Định luật đồng đều về vận tốc diện tích: Đường nối một hành tinh với Mặt trời quét qua những diện tích bằng nhau trong những khoảng thời gian bằng nhau. Định luật này cho thấy vận tốc của hành tinh trên quỹ đạo của nó là không giống nhau. Khi một hành tinh gần mặt trời thì nó sẽ di chuyển nhanh hơn khi nó ở xa mặt trời + Tỉ số giữa bình phương chu kì quay và lập phương bán kính trục lớn của một hành tinh là hằng số cho mọi hành tinh quay quanh hệ mặt trời. Mặt khác, suy đến cùng, đời sống con người muốn duy trì và phát triển thì phải có hoạt động kinh tế, sản xuất. Hoạt động kinh tế, sản xuất càng phát triển thì đời sống con người ngày càng nâng cao, xã hội ngày càng văn minh tiến bộ. Muốn hoạt động kinh tế, sản xuất ngày càng phát triển thì nền khoa học kỹ thuật và công nghệ phải phát triển, mà chính nền khoa học kỹ thuật và công nghệ lại chính là thành tựu của vật lý. Như vậy có thể nói rằng vật lý học đóng góp một phần không nhỏ vào thực tế cuộc sống, là phương tiện gián tiếp để cải thiện và SWEET NOVEMBER VERSION 2010 9 nâng cao đời sống con người. Hơn nữa, khi hoạt động kinh tế, sản xuất phát triển, thì nó lại quay trở lại thúc đẩy nghiên cứu vật lý, nó tạo ra cơ sở vật chất, động lực và điều kiện để vật lý phát triển. Rõ ràng, giữa vật lý, hay nói cách khác là các định luật vật lý, và thực tế đời sống có mối liên hệ mật thiết với nhau. Chúng ta có thể dễ dàng dẫn ra một ví dụ minh họa: Khi cơ học lượng tử phát triển, ngành vật lý chất rắn có điều kiện để nghiên cứu các quá trình điện tử trong vật rắn mà hệ quả của nó là sự ra đời của các linh kiện vi điện tử, từ đó, máy tính điện tử mới xuất hiện và đến nay máy tính đã trở thành một thiết bị không thể thiếu trong mọi ngành khoa học, trong mọi lĩnh vực đời sống, bao gồm cả nền kinh tế sản xuất. Máy tính góp phần thúc đẩy đáng kể nền kinh tế sản xuất phát triển. Rồi khi kinh tế sản xuất phát triển lại kích thích các nhà vật lý chất rắn nghiên cứu sâu hơn, mở rộng hơn và tiếp tục cho ra đời những thế hệ máy tính tân tiến hơn, hiện đại hơn. Cuối cùng, thực tế đời sống con người ngày càng được nâng cao, nền văn minh của con người ngày càng tiến bộ. 8. Mỗi định luật vật lý đều có lịch sử riêng của nó. Một định luật vật lý ra đời bao giờ cũng là kết quả của một quá trình tư duy, lao động thực nghiệm miệt mài của các nhà vật lý, có thể kéo dài vài năm đến vài chục năm, thậm chí kéo dài qua nhiều thế hệ. Vì vậy, mỗi định luật vật lý đều có lịch sử riêng của nó, câu chuyện riêng của nó. Chẳng hạn khi nhắc đến nhà vật lý thiên tài người Anh Isaac Newton, người ta nghĩ ngay đến giai thoại nổi tiếng “Quả táo Newton”. Vào một ngày mùa thu năm 1669, Newton đang ngồi trên chiếc ghế trong vườn hoa đọc sách, bỗng nhiên một quả táo từ trên cây rơi xuống "bịch" một tiếng trúng đầu Newton. Ông xoa đầu, nhìn quả táo chín lăn xuống vũng bùn. Quả táo đã cho ông những ý nghĩ kỳ lạ: “Quả táo chín rồi, tại sao lại rơi xuống đất? Vì gió thổi chăng? Không phải, trong khoảng không rộng mênh mông, tại sao lại phải rơi xuống mà không bay lên trời? Như vậy phải có cái gì đã hút nó? Mọi vật trên Trái đất đều có sức nặng, hòn đá ném đi rốt cuộc lại rơi xuống đất, trọng lượng của mọi vật có phải là kết quả lực hút của Trái đất không?”. Chính câu chuyện quả táo này đã tạo nên ý tưởng cho Newton xây dựng Định luật Vạn vật hấp dẫn. Tương tự, câu chuyện của nhà bác học cổ đại Hy Lạp Archimedes khi khám phá ra Nguyên lý Archimedes cũng khá li kỳ. Vua Herong II giao vàng cho một người thợ kim hoàn SWEET NOVEMBER VERSION 2010 10 để đúc một chiếc vương miện. Khi đúc xong, nhà vua nghi ngờ người thợ đó đã bớt xén vàng bên trong và thay thế bằng một lượng kim loại khác có cùng khối lượng. Để kiểm chứng việc này, nhà vua đã giao phó cho Archimedes. Archimedes vô cùng băn khoăn và lo lắng không biết xoay xở thế nào. Thế rồi vào một buổi sáng, khi ông đang ngâm mình trong bồn tắm. Thấy nước trào ra ngoài, bỗng một ý nghĩ lóe lên trong đầu ông. Ông vui mừng chạy thẳng ra đường mà quên mặc quần áo, kêu to câu Hy Lạp "Ơ-rê-ca!" (nghĩa là "Tìm thấy rồi!"). Tất nhiên, trong cảnh ngộ nghĩnh ấy, mọi người trên phố được một trận cười no bụng. Nhưng quả thật, ông đã tìm ra lời giải cho bài toán của vua Herong II nhờ một nguyên lý mà sau này mang tên ông: “Mọi vật nhúng vào chất lỏng (hoặc khí) sẽ bị chất lỏng (hoặc khí) đẩy từ dưới lên với một lực có độ lớn bằng khối lượng của khối chất lỏng bị vật chiếm chỗ”. Câu 2: Hãy cho biết vai trò của toán học đối với vật lý và vai trò của vật lý đối với toán học. * Vai trò của toán học đối với vật lý Toán học có vai trò to lớn và vô cùng quan trọng đối với vật lý, thể hiện ở những đặc điểm sau: a) Toán học giúp ghi chép, xử lý các số liệu quan sát và thực nghiệm Đây là đặc điểm thể hiện rõ nét nhất vai trò không thể thiếu của toán học đối với tất cả các ngành khoa học nói chung, trong đó có vật lý. Bản chất của toán học không chỉ đơn thuần là khoa học mà nó còn là một loại ngôn ngữ giúp diễn đạt tư duy logic giữa con người với nhau. Từ những ngày đầu, toán học đã trở thành một phần không thể thiếu trong mọi hoạt động đời sống của con người, từ những con số, những phép đơn giản như cộng, trừ, nhân, chia, lũy thừa, lấy căn, đến những phép tính phức tạp như đạo hàm, vi phân, tích phân, Nhờ có những con số, những phép tính mà nhà vật lý khi làm thực nghiệm, khi đo đạc, khi quan sát mới có thể ghi chép lại những kết quả của mình, rồi từ đó mới có thể xử lý, rút ra kết luận và ở mức độ cao hơn là khái quát thành định lu