Thông tin cơ bản vềLiên Hiệp Quốc và quan hệ với Việt Nam

Tổ chức Liên hợp quốc đã chính thức được thành lập ngày 24/10/1945 với sự tham gia của 51 quốc gia sáng lập. Tên "Liên hợp quốc" do Tổng thống Mỹ Franklin D. Roosevelt sử dụng trong Tuyên ngôn của Liên hợp quốc (01/01/1942). Trước năm 1945 Trước sự yếu kém của Hội Quốc Liên và nguy cơ xảy ra chiến tranh thế giới thứ ba, và bảo đảm một thế cân bằng mới trong quan hệ quốc tế sau chiến tranh, ba cường quốc chính của phe Đồng minh là Anh, Mỹ và Liên Xô đã tiến hành hai hội nghị Thượng đỉnh quan trọng (Tê-hê-ran 11/1943 và I-an-ta 02/1945). Nội dung trao đổi chính giữa Trớc-trin, Xta-lin và Ru-dơ-ven bao gồm số phận châu Âu và tương lai của Liên hợp quốc. Việc Liên Xô tán thành thiết lập Tổ chức Liên hợp quốc tại Hội nghị I-an-ta mở ra khả năng hợp tác giữa các nước đồng minh trong việc xây dựng một trật tự thế giới mới sau chiến tranh. Tại I-an-ta, ba cường quốc trên đã thống nhất với nhau về một số điểm then chốt trong việc thiết lập tổ chức Liên hợp quốc: chấp nhận ghế thành viên riêng rẽ của U-cờ-rai-na và Bạch Nga (nay là Bê-la-rút), dành quyền phủ quyết cho các thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an, Liên hợp quốc có quyền giám sát việc tạo dựng trật tự châu Âu. Đến Hội nghị Pốt-xđam từ 17/7 đến 2/8/1945, ba cường quốc nhất trí thoả thuận thành lập cơ chế để giải quyết các vấn đề sau chiến tranh (bồi thường chiến tranh của Đức; xác định lại biên giới các quốc gia vv.). Hội đồng Ngoại trưởng 5 nước gồm Nga, Mỹ, Anh, Pháp và Trung Quốc được thành lập và trên cơ sở thoả thuận tại Hội nghị I-an-ta, đại biểu của 50 quốc gia đã tham dự Hội nghị Xan Phran-xít-xcô (Mỹ) tháng 4/1945 và dự thảo Hiến chương của Liên hợp quốc. Sự ra đời của Liên hợp quốc là một sự kiện quan trọng: Liên hợp quốc đã thay thế Hội Quốc Liên (hoạt động kém hiệu quả), trở thành một tổ chức quốc tế toàn cầu với mục tiêu hàng đầu là bảo đảm một nền hoà bình và trật tự thế giới bền vững.

docx35 trang | Chia sẻ: oanh_nt | Lượt xem: 1777 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Thông tin cơ bản vềLiên Hiệp Quốc và quan hệ với Việt Nam, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
THÔNG TIN CƠ BẢN VỀ LIÊN HIỆP QUỐC VÀ QUAN HỆ VỚI VIỆT NAM. (The United Nations – UN) I. SỰ HÌNH THÀNH CỦA LIÊN HỢP QUỐC 1. Thành lập: Tổ chức Liên hợp quốc đã chính thức được thành lập ngày 24/10/1945 với sự tham gia của 51 quốc gia sáng lập. Tên "Liên hợp quốc" do Tổng thống Mỹ Franklin D. Roosevelt sử dụng trong Tuyên ngôn của Liên hợp quốc (01/01/1942). Trước năm 1945 Trước sự yếu kém của Hội Quốc Liên và nguy cơ xảy ra chiến tranh thế giới thứ ba, và bảo đảm một thế cân bằng mới trong quan hệ quốc tế sau chiến tranh, ba cường quốc chính của phe Đồng minh là Anh, Mỹ và Liên Xô đã tiến hành hai hội nghị Thượng đỉnh quan trọng (Tê-hê-ran 11/1943 và I-an-ta 02/1945). Nội dung trao đổi chính giữa Trớc-trin, Xta-lin và Ru-dơ-ven bao gồm số phận châu Âu và tương lai của Liên hợp quốc. Việc Liên Xô tán thành thiết lập Tổ chức Liên hợp quốc tại Hội nghị I-an-ta mở ra khả năng hợp tác giữa các nước đồng minh trong việc xây dựng một trật tự thế giới mới sau chiến tranh. Tại I-an-ta, ba cường quốc trên đã thống nhất với nhau về một số điểm then chốt trong việc thiết lập tổ chức Liên hợp quốc: chấp nhận ghế thành viên riêng rẽ của U-cờ-rai-na và Bạch Nga (nay là Bê-la-rút), dành quyền phủ quyết cho các thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an, Liên hợp quốc có quyền giám sát việc tạo dựng trật tự châu Âu. Đến Hội nghị Pốt-xđam từ 17/7 đến 2/8/1945, ba cường quốc nhất trí thoả thuận thành lập cơ chế để giải quyết các vấn đề sau chiến tranh (bồi thường chiến tranh của Đức; xác định lại biên giới các quốc gia vv..). Hội đồng Ngoại trưởng 5 nước gồm Nga, Mỹ, Anh, Pháp và Trung Quốc được thành lập và trên cơ sở thoả thuận tại Hội nghị I-an-ta, đại biểu của 50 quốc gia đã tham dự Hội nghị Xan Phran-xít-xcô (Mỹ) tháng 4/1945 và dự thảo Hiến chương của Liên hợp quốc. Sự ra đời của Liên hợp quốc là một sự kiện quan trọng: Liên hợp quốc đã thay thế Hội Quốc Liên (hoạt động kém hiệu quả), trở thành một tổ chức quốc tế toàn cầu với mục tiêu hàng đầu là bảo đảm một nền hoà bình và trật tự thế giới bền vững. 2. Tôn chỉ và mục đích: LHQ hoạt động theo các mục tiêu và nguyên tắc qui định trong Hiến chương Liên hợp quốc. Điều 1 của Hiến chương nêu rõ bốn (04) mục tiêu cơ bản của Liên hợp quốc là: - (1) Duy trì hoà bình và an ninh quốc tế; - (2) Thúc đẩy quan hệ hữu nghị giữa các quốc gia trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc bình đẳng về quyền lợi giữa các dân tộc và nguyên tắc dân tộc tự quyết; - (3) Thực hiện hợp tác quốc tế thông qua giải quyết các vấn đề quốc tế trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hoá và nhân đạo trên cơ sở tôn trọng các quyền con người và quyền tự do cơ bản cho tất cả mọi người, không phân biệt chủng tộc, màu da, ngôn ngữ và tôn giáo; - (4) Xây dựng Liên hợp quốc làm trung tâm điều hoà các nỗ lực quốc tế vì các mục tiêu chung. Và 6 nguyên tắc hoạt động chủ yếu của Liên hợp quốc là: + (1) Bình đẳng về chủ quyền quốc gia; + (2) Tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ và độc lập chính trị quốc gia; + (3) Cấm đe doạ sử dụng vũ lực hoặc sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế; + (4) Không can thiệp vào công việc nội bộ các nước; + (5) Tôn trọng các nghĩa vụ quốc tế và luật pháp quốc tế; và + (6) Giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng biện pháp hoà bình. Các mục tiêu và nguyên tắc hoạt động trên của Liên hợp quốc mang tính bao quát, phản ánh mối quan tâm toàn diện của các quốc gia. Các quan tâm ưu tiên này thay đổi tuỳ theo sự chuyển biến cán cân lực lượng chính trị bên trong tổ chức này. Thời gian đầu khi mới ra đời, cùng với sự tăng vọt về số lượng thành viên, Liên hợp quốc tập trung vào các vấn đề phi thực dân hoá, quyền tự quyết dân tộc và chủ nghĩa phân biệt chủng tộc Apácthai. Trong thời kỳ gần đây Liên hợp quốc ngày càng quan tâm nhiều hơn tới các vấn đề kinh tế và phát triển. Hoạt động của Liên hợp quốc trong gần 60 năm qua cho thấy trọng tâm chính của Liên hợp quốc là duy trì hòa bình an ninh quốc tế và giúp đỡ sự nghiệp phát triển của các quốc gia thành viên. Đặc điểm bao trùm của Liên hợp quốc là tổ chức này không phải là một nhà nước siêu quốc gia. Liên hợp quốc là tổ chức đa phương toàn cầu đầu tiên có những hoạt động thực chất và đã có nhiều cố gắng trong việc phối hợp và điều tiết các mối quan hệ giữa các quốc gia độc lập có chủ quyền trên nguyên tắc tôn trọng chủ quyền bình đẳng của các quốc gia. Theo Điều 2 mục 7 của Hiến Chương, Liên hợp quốc không được can thiệp vào các vấn đề thuộc quyền tài phán nội bộ của các nước. Tất cả các quốc gia tham gia Liên hợp quốc theo nguyên tắc bình đẳng chủ quyền. Nguyên tắc này được phản ánh triệt để nhất trong cơ chế tham gia bỏ phiếu các quyết định và nghị quyết tại Đại Hội Đồng Liên hợp quốc (các quốc gia lớn nhỏ đều có một phiếu). Một đặc điểm nổi bật khác của Liên hợp quốc là tổ chức này phản ánh sự dàn xếp và cân bằng quyền lực giữa các cường quốc thắng trận. Thực tế này được thể hiện trong cơ chế hoạt động của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc - cơ quan chấp hành có thực quyền nhất của Liên hợp quốc và đảm nhiệm trách nhiệm hàng đầu của Liên hợp quốc là duy trì hoà bình và an ninh quốc tế. Chỉ các quyết định của Hội đồng Bảo an mới có tính cưỡng chế thực hiện. Các nghị quyết tại các cơ quan chính khác của Liên hợp quốc như Đại hội đồng, Hội đồng Kinh tế–Xã hội, Hội đồng Quản thác, và cả Toà án Quốc tế chỉ có tính khuyến nghị, đạo lý và tạo sức ép dư luận. Để bảo đảm lợi ích và thu hút sự tham gia của cho các cường quốc, Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc là cơ quan duy nhất dành cho 5 cường quốc quyền phủ quyết (veto) khi thông qua các nghị quyết, quyết định của Hội đồng. Quyền hạn của Hội đồng Bảo an tập trung vào hai lĩnh vực hoạt động chính là giải quyết hoà bình các tranh chấp quốc tế và tiến hành các biện pháp cưỡng chế. So với Hội Quốc Liên, Liên hợp quốc chứng tỏ đầy đủ hơn tính chất toàn cầu (thành phần gồm hầu hết các quốc gia độc lập trên mọi châu lục) và đặc biệt là tính toàn diện của nó: chương trình nghị sự không bó hẹp vào vấn đề duy trì hoà bình, an ninh, mà bao gồm cả việc thúc đẩy hợp tác vì phát triển kinh tế–xã hội của cộng đồng các dân tộc; bản thân Liên hợp quốc bao gồm hàng loạt cơ quan, chương trình, quỹ, tổ chức chuyên môn tập trung vào mọi lĩnh vực của đời sống các quốc gia và quan hệ quốc tế ngoài lĩnh vực chính trị - quốc phòng, từ tiền tệ đến nông nghiệp, văn hoá, khoa học–kỹ thuật... Tổ chức Liên hợp quốc ra đời thực sự có ý nghĩa to lớn trong đời sống chính trị quốc tế trong gần 60 năm qua. Đây là sự kiện quan trọng đánh dấu sự xuất hiện của các hoạt động ngoại giao đa phương hiện đại, một bước ngoặt quyết định trong lịch sử phát triển của nền ngoại giao đa phương nói chung. Tuy nhiên, sự ra đời của Liên hợp quốc và bản thân Hiến chương Liên hợp quốc tất nhiên chưa đủ để bảo đảm sự bình đẳng hoàn toàn và triệt để giữa các quốc gia lớn nhỏ. Sự đóng góp của Liên hợp quốc đối với hoà bình an ninh quốc tế trong hơn 60 năm qua là rất đáng kể. Tuy nhiên, thực tế cho thấy trong nhiều vấn đề, nhiều sự kiện, Liên hợp quốc không thể hiện được vai trò của mình hoặc có thể nói Liên hợp quốc chưa làm tròn sứ mệnh của mình. Các siêu cường vẫn có vai trò lớn và nhiều khi giữ vai trò quyết định trong quá trình ra quyết định của Liên hợp quốc, đặc biệt là cơ cấu và cơ chế hoạt động của Hội đồng Bảo an, Hiến chương Liên hợp quốc và các cơ quan chuyên môn của Liên hợp quốc. II. CƠ CẤU VÀ NGUYÊN TẮC HOẠT ĐỘNG CỦA LIÊN HỢP QUỐC Liên hợp quốc gồm 6 cơ quan chính là: Đại hội đồng, Hội đồng Bảo an, Hội đồng Kinh tế–Xã hội, Hội đồng Quản thác, Toà án Quốc tế và Ban Thư ký. 1. Đại Hội đồng Liên hợp quốc: Các qui định của Hiến chương liên quan đến Đại hội đồng được đề cập trong chương IV (từ Điều 9 đến 22), đã xác định thành phần, chức năng quyền hạn, bầu cử và thủ tục. Những qui định khác liên quan đến Đại hội đồng còn được nêu ở một số điều khoản khác. 1.1. Thành viên Đại hội đồng là cơ quan đại diện rộng rãi nhất của Liên hợp quốc. Từ 51 thành viên ban đầu (những nướsc có đại diện dự Hội nghị tại Xan Phranxixcô hoặc đã ký Tuyên ngôn của Liên hợp quốc ngày 1/1/1942, và những nước đã ký và phê chuẩn Hiến chương Liên hợp quốc), số thành viên Liên hợp quốc cho đến nay là 192. Khác với Hội đồng Bảo an, các thành viên Đại hội đồng đều là các thành viên bình đẳng, không phân biệt quốc gia lớn hay nhỏ, mỗi quốc gia thành viên đều được 1 phiếu bầu. Các nước thành viên được chia theo nhóm khu vực để phân bổ vị trí khi bầu vào các cơ quan cơ chế Liên hợp quốc. Hiện nay có 5 nhóm khu vực: châu Á, châu Phi, Mỹ La-tinh và Ca-ri-bê, Đông Âu, Tây Âu và các nước khác.  1.2. Chức năng quyền hạn 1.2.1. Xem xét và kiến nghị về các nguyên tắc hợp tác trong việc duy trì hoà bình và an ninh quốc tế, kể cả những nguyên tắc liên quan đến giải trừ quân bị và các qui định về quân bị; 1.2.2. Bàn bạc về các vấn đề liên quan tới hoà bình và an ninh quốc tế, trừ trường hợp tình hình hoặc tranh chấp hiện đang được thảo luận tại Hội đồng Bảo an, và đưa ra các khuyến nghị về các vấn đề đó; 1.2.3. Bàn bạc và khuyến nghị về các vấn đề theo qui định của Hiến chương có tác động đến chức năng, quyền hạn của các cơ quan thuộc Liên hợp quốc; 1.2.4. Nghiên cứu và khuyến nghị để thúc đẩy hợp tác chính trị quốc tế, phát triển và pháp điển hoá luật pháp quốc tế; thực hiện các quyền con người và các quyền tự do cơ bản cho mọi người, và hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hoá, giáo dục và y tế; 1.2.5. Khuyến nghị các giải pháp hoà bình cho mọi tình huống có thể làm phương hại quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc; 1.2.6. Nhận và xem xét các báo cáo của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và các cơ quan khác thuộc Liên hợp quốc; 1.2.7. Xem xét, thông qua ngân sách Liên hợp quốc và phân bổ đóng góp của các nước thành viên; 1.2.8. Bầu các thành viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, các thành viên Hội đồng Kinh tế - Xã hội, các thành viên được bầu vào Hội đồng Quản thác, cùng Hội đồng Bảo an bầu các thẩm phán Toà án quốc tế, và bầu Tổng thư ký Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 5 năm) theo khuyến nghị của Hội đồng Bảo an. Theo nghị quyết "Đoàn kết vì hoà bình" (Uniting for Peace) thông qua tại Đại hội đồng tháng 11/1950, Đại hội đồng có thể hành động nếu Hội đồng Bảo an, vì không đạt được sự nhất trí giữa các thành viên, không thể có hành động trong một trường hợp có nguy cơ đe doạ hoà bình, phá vỡ hoà bình hoặc hành động xâm lược. Đại hội đồng được quyền xem xét vấn đề ngay lập tức để có khuyến nghị với các nước thành viên thực hiện các biện pháp tập thể, trong trường hợp phá hoại hoà bình hoặc xâm lược, bao gồm biện pháp sử dụng vũ lực khi cần thiết, để duy trì và khôi phục hoà bình và an ninh quốc tế. 1.3. Các khoá họp và Cơ cấu: 1.3.1 Các khoá họp: Có các loại là khoá họp thường kỳ, khoá đặc biệt thường kỳ và khoá họp đặc biệt khẩn cấp của Đại hội đồng Liên hợp quốc. * Khoá họp thường kỳ: Theo Nghị quyết 57/301 (2002), Đại hội đồng quyết định khoá họp thường kỳ hàng năm của Đại hội đồng sẽ bắt đầu vào ngày thứ 3 của tuần thứ 3 của tháng 9, tính từ tuần đầu tiên có ít nhất một ngày làm việc. Nghị quyết cũng quy định buổi thảo luận chung của Đại hội đồng sẽ được tiến hành vào ngày thứ 3 sau khi khai mạc khoá họp thường kỳ và sẽ kéo dài liên tục trong 9 ngày. Các quy định này được áp dụng từ khóa họp thường kỳ thứ 58 của Đại hội đồng Liên hợp quốc. Các khoá họp sẽ được tổ chức tại trụ sở của Liên hợp quốc ở Niu Oóc, trừ khi tại khoá họp trước đó Đại hội đồng quyết định hoặc đa số các thành viên Liên hợp quốc yêu cầu tổ chức họp ở nơi khác. Mỗi khoá họp có một Chủ tịch chủ trì, do các nhóm khu vực luân phiên đề cử. Sau tuần đầu thống nhất chương trình nghị sự, Đại hội đồng sẽ tiến hành thảo thuận chung của các trưởng đoàn. Cấp tham gia thường ở cấp cao như Nguyên thủ quốc gia, Thủ tướng, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng, Thứ trưởng ngoại giao... Các nước thành viên bày tỏ lập trường quan điểm về những vấn đề quốc tế quan tâm. Sau đó, 6 Uỷ ban của Đại hội đồng bắt đầu nhóm họp song song với Đại hội đồng. Phần lớn các đề mục được thảo luận tại Uỷ ban trước khi đưa ra Đại hội đồng, một số được thảo luận thẳng tại Đại hội đồng. * Khoá đặc biệt thường kỳ: Do Tổng thư ký Liên hợp quốc triệu tập, theo yêu cầu của Hội đồng Bảo an hoặc đa số các nước thành viên Liên hợp quốc. Khoá họp đặc biệt thường kỳ sẽ được tổ chức trong vòng 15 ngày kể từ khi Tổng thư ký nhận được yêu cầu trừ khi Đại hội đồng đã ấn định ngày tổ chức khoá họp đặc biệt từ trước. Sau đó, Tổng thư ký sẽ thông báo cho các nước thành viên ít nhất 14 ngày trước khi khai mạc khoá họp đặc biệt, nếu không thì phải trước 10 ngày. Cho tới nay, đã có 27 khoá họp đặc biệt thường kỳ trong đó chủ yếu là theo yêu cầu của Đại hội đồng. Chủ đề của các khoá họp bao gồm các vấn đề chính trị, kinh tế, môi trường, xã hội. Từ năm 1990 trở lại đây, các khoá họp đặc biệt thường kỳ của Đại hội đồng chủ yếu xoay quanh các vấn đề như: hợp tác kinh tế quốc tế, ma tuý, dân số, môi trường, bình đẳng giới, HIV/AIDS. Điều này cho thấy rõ xu thế của của Liên hợp quốc sau chiến tranh lạnh là tập trung bàn về vấn đề phát triển. * Khoá họp đặc biệt khẩn cấp: Có thể được triệu tập trong vòng 24 giờ kể từ khi Tổng thư ký nhận được yêu cầu của Hội đồng Bảo an, hoặc yêu cầu hoặc thông báo của đa số các nước thành viên Liên hợp quốc. Khoá họp này phải được thông báo cho các nước thành viên ít nhất trước 12 giờ. Cho tới nay đã có 10 khóa họp đặc biệt khẩn cấp được triệu tập, trong đó đa số được triệu tập theo yêu cầu của Hội đồng Bảo an còn lại là của các nước đặc biệt quan tâm đến tình hình xung đột. Vì mang tính khẩn cấp nên chủ đề của các khoá họp này cũng có những nét khác so với các khoá họp đặc biệt thường kỳ ở chỗ các khoá họp đặc biệt khẩn cấp thường bàn về các vấn đề chính trị cụ thể như giải quyết xung đột khu vực hoặc trong bản thân một nước (vấn đề Trung đông 1956, Hungary 1956, Trung đông 1958, Congo 1960...). Khi muốn yêu cầu triệu tập một khoá họp đặc biệt, Hội đồng Bảo an phải có một quyết định chính thức về vấn đề này được 9 thành viên Hội đồng Bảo an bỏ phiếu ủng hộ. Mặc dù Hiến chương quy định các khoá họp đặc biệt được triệu tập theo yêu cầu của đa số thành viên Liên hợp quốc nhưng trên thực tế cho đến nay chưa có một yêu cầu nào được đưa ra và có chữ ký của đa số nước thành viên. Thay vào đó, một nước thành viên sẽ trình yêu cầu triệu tập khoá họp đặc biệt lên Tổng thư ký Liên hợp quốc. Tổng thư ký sẽ ngay lập tức thông báo các nước thành viên khác và hỏi ý kiến của họ về yêu cầu này. Nếu đa số các nước bỏ phiếu thuận trong vòng 30 ngày thì một khoá họp đặc biệt sẽ được triệu tập. * Kết quả của các khoá họp: thể hiện bằng các nghị quyết và quyết định được thông qua (các hình thức thông qua văn kiện được đề cập ở phần thủ tục hoạt động). Các nghị quyết và quyết định này không có giá trị ràng buộc pháp lý mà chỉ có giá trị khuyến nghị và đạo lý phản ánh ý chí, nguyện vọng chung của đông đảo các nước thành viên Liên hợp quốc. 1.3.2. Cơ cấu:  Có 6 Uỷ ban chính: + Uỷ ban 1: Giải trừ quân bị và An ninh quốc tế + Uỷ ban 2: Kinh tế - Tài chính + Uỷ ban 3: Văn hoá - Xã hội - Nhân đạo + Uỷ ban 4: Chính trị đặc biệt và Phi thực dân hoá + Uỷ ban 5: Hành chính - Ngân sách Liên hợp quốc + Uỷ ban 6: Luật pháp quốc tế Ngoài ra còn có các Uỷ ban sau được thành lập theo các nguyên tắc thủ tục của Đại hội đồng: * Các Uỷ ban thủ tục; * Các Uỷ ban thường trực; * Các cơ quan đặc biệt và phụ trợ. * Các Uỷ ban thủ tục + Uỷ ban chung Uỷ ban này gồm Chủ tịch Đại hội đồng, 21 phó chủ tịch và 6 chủ tịch các uỷ ban chính. Uỷ ban này xem xét chương trình nghị sự tạm thời và danh sách các vấn đề bổ sung, xem xét các đề nghị về việc bổ sung các đề mục vào chương trình nghị sự, bố trí sắp xếp các đề mục vào các uỷ ban và trình báo cáo lên Đại hội đồng để được phê duyệt. Uỷ ban này giúp Chủ tịch Đại hội đồng vạch ra chương trình nghị sự cho các cuộc họp toàn thể, quyết định các đề mục trọng tâm, phối hợp công việc giữa các Uỷ ban, và nói chung làm các việc của Đại hội đồng thuộc thẩm quyền của Chủ tịch. Uỷ ban cũng có thể đưa khuyến nghị cho Đại hội đồng về thời gian kết thúc của các khoá họp. Tuy nhiên, Uỷ ban không thể quyết định bất cứ vấn đề gì có tính chất chính trị. + Uỷ ban kiểm tra tư cách đại biểu Uỷ ban này gồm 9 thành viên được bầu ngay lúc bắt đầu mỗi khóa họp theo đề nghị của Chủ tịch. Uỷ ban xem xét và báo cáo về các uỷ nhiệm thư của các đại biểu. Nếu một đại diện bị một thành viên Uỷ ban phản đối sẽ tạm thời ngồi trong Đại hội đồng với các quyền như các đại diện khác cho tới khi Uỷ ban đã báo cáo và Đại hội đồng có quyết định về vấn đề đó. * Các Uỷ ban thường trực Có 2 Uỷ ban thường trực được thành lập, theo qui định thủ tục của Đại hội đồng, để giải quyết các vấn đề tiếp theo trong và giữa các khoá họp thường kỳ. + Uỷ ban tư vấn về các vấn đề hành chính và ngân sách: Uỷ ban này được thành lập tại phiên họp đầu tiên của Đại hội đồng theo Nghị quyết 14A(I)(1946). Uỷ ban có trách nhiệm kiểm tra và báo cáo về ngân sách thường của Liên hợp quốc và ngân sách của việc gìn giữ hoà bình và các tài khoản của Liên hợp quốc, và ngân sách hành chính của các cơ quan chuyên môn. Uỷ ban này cũng tư vấn cho Đại hội đồng về các vấn đề hành chính và tài chính khác. Số thành viên của Uỷ ban tăng lên nhiều lần, hiện nay có 16 thành viên (theo Nghị quyết 32/103(1977) của Đại hội đồng). Các thành viên của Uỷ ban được Đại hội đồng bầu ra theo khuyến nghị của Uỷ ban 5 trên cơ sở đại diện cho một khu vực địa lý rộng rãi, và có quyền tái cử. Phải có ít nhất 3 thành viên là các chuyên gia tài chính giỏi. Các chuyên gia tài chính này không được nghỉ hưu cùng một lúc. + Uỷ ban đóng góp Uỷ ban này được thành lập theo Nghị quyết 14(I)(1946) của Đại hội đồng nhằm tư vấn Đại hội đồng về mức đóng góp của các nước thành viên vào chi tiêu của Liên hợp quốc, định số tiền đóng góp của các nước thành viên mới, xem xét đề nghị của các nước thành viên về thay đổi mức đóng, xem xét việc áp dụng Điều 19 Hiến chương Liên hợp quốc trong các trường hợp chậm đóng niên liễm. Uỷ ban cũng được quyền khuyến nghị hoặc tư vấn về mức đóng góp cho một tổ chức chuyên môn nếu được tổ chức đó yêu cầu. Thành viên của Uỷ ban này được tăng lên nhiều lần, hiện nay có 18 thành viên (theo Nghị quyết 31/96 (1976) của Đại hội đồng). Các thành viên của Uỷ ban được Đại hội đồng chọn theo khuyến nghị của Uỷ ban 5 trên cơ sở đại diện cho một khu vực địa lý rộng rãi và có trình độ và kinh nghiệm. Nhiệm kỳ là 3 năm, và có quyền được bầu lại. Thêm vào đó, các cơ quan Hiệp định được thành lập bởi các Công ước quốc tế phải trình báo cáo lên Đại hội đồng về các hoạt động của họ. * Các cơ quan đặc biệt và phụ trợ + Các cơ quan liên chính phủ: Uỷ ban hoà giải cho Palestine (1948); Uỷ ban khoa học của Liên hợp quốc về đánh giá ảnh hưởng của phóng xạ nguyên tử (UNSCEAR) (1955); Uỷ ban về sử dụng hoà bình khoảng không vũ trụ (thành lập năm 1959); Uỷ ban đặc biệt về thực hiện Tuyên bố về Phi thực dân hoá-Uỷ ban 24 (1961); Uỷ ban đặc biệt về các hoạt động gìn giữ hoà bình (1965); Uỷ ban đặc biệt điều tra các hành động của Israel làm tổn hại các quyền con người của nhân dân Palestine và các nước Arập khác trên những lãnh thổ bị họ chiếm đóng (1968); Nhóm làm việc về chi tiêu cho các công việc cứu trợ của Liên hợp quốc và các cơ quan khác cho tị nạn Palextin vùng Cận Đông (UNRWA) (1970); Uỷ ban quan hệ với nước chủ nhà (1971); Uỷ ban đặc biệt về Ấn Độ Dương (1972); Uỷ ban thực hiện các quyền bất khả xâm phạm của nhân dân Palestine (1975); Uỷ ban đặc biệt về Hiến chương LHQ (1975); Uỷ ban thông tin (1978); Uỷ ban giải trừ quân bị (1978); Hội nghị giải trừ quân bị (1978); Uỷ ban về các hội nghị (1988); Tiến trình tham vấn mở không chính thức về đại dương và luật biển (1999); Uỷ ban đặc biệt Công ước quốc tế về bảo vệ và thúc đẩy các quyền và nhân phẩm của người tàn tật (2001), Nhóm làm việc đặc biệt của Đại hội đồng về các hoạt động tiến hành sau các hội nghị lớn của Liên hợp quốc và các cuộc họp thượng đỉnh trong lĩnh vực kinh tế-xã hội (2002). + Các nhóm làm việc mở: -Nhóm làm việc không chính thức về một chương trình nghị sự cho hoà bình, được thành lập tại Đại hội đồng khoá 47 và ngừng họp từ năm 1996. -Nhóm làm việc về đạ