Thực trạng công tác quản lý rác thải, nước thải trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

1.1. Về rác thải Tại Thành phố Hồ Chí Minh, tình hình phát sinh chất thải rắn trong những năm gần đây có nhiều chuyển biến phức tạp, thành phần chất thải rắn đô thị cũng đa dạng, ngày càng gia tăng về khối lượng. Ước tính tỷ lệ gia tăng chất thải rắn sinh hoạt mỗi năm khoảng 8 - 10%. Trong đó, bình quân 06 tháng đầu năm 2019, khối lượng chất thải rắn sinh hoạt được thu gom, xử lý là 9.583 tấn/ngày. Đây là khối lượng rất lớn, vì vậy việc phân loại thu gom và xử lý chất thải rắn rất quan trọng, đặc biệt là chất thải sinh hoạt để không làm ảnh hưởng đến chất lượng môi trường, mỹ quan của thành phố. Riêng chất thải nguy hại hiện phát sinh trên địa bàn ước khoảng 350 - 400 tấn/ngày và chất thải y tế nguy hại khoảng 21,4 tấn/ngày. Chất thải nguy hại có đủ thành phần ăn mòn, cháy nổ, hoạt tính và độc hại; trong đó, thành phần ăn mòn, cháy (không nổ) và độc hại chiếm tỷ lệ cao nhất, các chất hoạt tính rất ít.

pdf6 trang | Chia sẻ: thanhle95 | Lượt xem: 391 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Thực trạng công tác quản lý rác thải, nước thải trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
25NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 143 - tháng 9/2019 THÖÏC TRAÏNG COÂNG TAÙC QUAÛN LYÙ RAÙC THAÛI, NÖÔÙC THAÛI TREÂN ÑÒA BAØN THAØNH PHOÁ HOÀ CHÍ MINH UBND Thành phố Hồ Chí Minh 1. Thực trạng việc thu gom, xử lý rác thải, nước thải trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh 1.1. Về rác thải Tại Thành phố Hồ Chí Minh, tình hình phát sinh chất thải rắn trong những năm gần đây có nhiều chuyển biến phức tạp, thành phần chất thải rắn đô thị cũng đa dạng, ngày càng gia tăng về khối lượng. Ước tính tỷ lệ gia tăng chất thải rắn sinh hoạt mỗi năm khoảng 8 - 10%. Trong đó, bình quân 06 tháng đầu năm 2019, khối lượng chất thải rắn sinh hoạt được thu gom, xử lý là 9.583 tấn/ngày. Đây là khối lượng rất lớn, vì vậy việc phân loại thu gom và xử lý chất thải rắn rất quan trọng, đặc biệt là chất thải sinh hoạt để không làm ảnh hưởng đến chất lượng môi trường, mỹ quan của thành phố. Riêng chất thải nguy hại hiện phát sinh trên địa bàn ước khoảng 350 - 400 tấn/ngày và chất thải y tế nguy hại khoảng 21,4 tấn/ngày. Chất thải nguy hại có đủ thành phần ăn mòn, cháy nổ, hoạt tính và độc hại; trong đó, thành phần ăn mòn, cháy (không nổ) và độc hại chiếm tỷ lệ cao nhất, các chất hoạt tính rất ít. Về tỷ lệ được thu gom, xử lý chất thải sinh hoạt, chất thải y tế, chất thải nguy hại trên địa bàn Trong nhiều năm qua, Thành phố Hồ Chí Minh đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể trong phát triển kinh tế xã hội, góp phần quan trọng vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa chung của đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh sự phát triển kinh tế và sự gia tăng dân số nhanh chóng thì hệ quả không mong muốn là thành phố đang phải đối mặt với nhiều thách thức về ô nhiễm môi trường, trong đó dễ nhận thấy nhất là ô nhiễm môi trường do rác thải và nước thải. Để tập trung nguồn lực thực hiện có hiệu quả các giải pháp giảm ô nhiễm môi trường, Lãnh đạo Thành phố đã quan tâm chỉ đạo và triển khai nhiều chương trình, dự án, đề án bảo vệ môi trường, đặc biệt là Chương trình giảm ô nhiễm môi trường, một trong các Chương trình đột phá được Đại hội Đảng bộ Thành phố xác định thực hiện trong giai đoạn 2016 - 2020. Trong phạm vi bài viết, xin đề cập đến công tác quản lý rác thải, nước thải, đây cũng là 02 nhóm mục tiêu quan trọng mà Thành phố Hồ Chí Minh đã và đang thực hiện có hiệu quả trong giai đoạn 2016 - 2020. Từ khóa: Quản lý rác thải và nước thải. Current situation of waste and wastewater management in Ho Chi Minh city Over the years, Ho Chi Minh City has achieved remarkable achievements in socio-economic development, making an important contribution to the country’s industrialization and modernization. However, besides economic development and rapid population growth, the undesirable consequence is that the city is facing many challenges of environmental pollution, the most noticeable is environmental pollution due to waste and sewage. In order to focus resources to effectively implement solutions to reduce environmental pollution, City leaders have paid attention to directing and implementing many environmental protection programs, projects, especially the Environmental Pollution Reduction Progamme, one of the breakthrough programs identified by Party Congress of the City in the period 2016 - 2020. Within this article, the author would like to mention the management of waste and wastewater, these are also two important target groups that Ho Chi Minh City has been effectively implementing in the period of 2016 - 2020. key words: Waste and wastewater management. 26 QUAÛN LYÙ RAÙC THAÛI, NÖÔÙC THAÛI VÌ SÖÏ PHAÙT TRIEÅN BEÀN VÖÕNG VAØ VAI TROØ CUÛA KIEÅM TOAÙN NHAØ NÖÔÙC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁNSố 143 - tháng 9/2019 thành phố ước đạt khoảng 100%. Đối với việc áp dụng công nghệ xử lý, tổng khối lượng chất thải rắn sinh hoạt được thu gom, xử lý bằng công nghệ đốt, compost và tái chế chiếm tỷ lệ 31% (đốt chiếm 15%; làm compost và tái chế chiếm 16%); chôn lấp chiếm tỷ lệ 69%. 1.2. Về nước thải 1.2.1. Đối với nước thải đô thị Thành phố Hồ Chí Minh là địa phương có tốc độ phát triển kinh tế cao, dân số đông. Do đó, nhu cầu sử dụng nước ngày càng tăng nhanh, cùng với sự tăng trưởng của dân số thì lưu lượng và tải lượng các chất ô nhiễm cũng tăng theo gây ra tăng áp lực với môi trường. Theo ước tính, hiện nay lượng nước cấp trên địa bàn thành phố là khoảng 1.850.000 m3/ngày, bao gồm lượng nước thủy cục và lượng nước dưới đất (tương ứng lượng nước thải phát sinh khoảng 1.750.000 m3/ngày, trong đó nước thải từ sinh hoạt đô thị khoảng 1.579.000 m3/ ngày). Ngoài ra, hoạt động du lịch, dịch vụ, kinh doanh, thương mại và xuất nhập khẩu gây nên sức ép cho môi trường thành phố (cơ sở hạ tầng, chất lượng môi trường nước, không khí, phát sinh chất thải rắn). Từ đó, kéo theo lượng nước thải phát sinh cũng không ngừng tăng, gây ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên. Hiện Thành phố đang vận hành 03 nhà máy xử lý nước thải đô thị tập trung với tổng công suất 302.000 m3/ngày gồm: Bình Hưng giai đoạn 1 công suất 141.000 m3/ngày, Bình Hưng Hòa công suất 30.000 m3/ngày và Nhà máy Tham Lương - Bến Cát với công suất 131.000 m3/ngày. Nếu tính lượng nước thải được xử lý cục bộ tại khu dân cư mới, chung cư, công nghiệp, thương mại - dịch vụ (không bao gồm nước thải từ khu công nghiệp) là 199.624 m3/ngày thì đến nay tổng lượng nước thải thu gom xử lý của toàn thành phố là 370.624 m3/ ngày, đạt tỷ lệ 21,2%. 1.2.2. Đối với nước thải công nghiệp Đến tháng 5 năm 2019, thành phố có 4.335 cơ sở sản xuất công nghiệp, trong đó có 3.035 cơ sở bên ngoài khu công nghiệp và 1.300 cơ sở trong khu chế xuất-công nghiệp, khu công nghệ cao (gồm 17 khu chế xuất - công nghiệp, 01 khu công nghệ cao và 02 cụm công nghiệp). Trong đó, có 4.200/4.335 cơ sở đã thực hiện thu gom, xử lý nước thải công nghiệp đạt chuẩn QCVN 40:2011/BTNMT, chiếm tỷ lệ là 96% (các cơ sở chưa có hệ thống xử lý nước 27NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 143 - tháng 9/2019 thải hầu hết là các cơ sở có quy mô tương đối nhỏ, hoạt động từ lâu đời, xen cài trong các khu dân cư). 1.2.3. Đối với nước thải y tế Đến tháng 06 năm 2019, thành phố có 121 bệnh viện (gồm 67 công lập và 54 ngoài công lập). Kết quả đạt được đến nay, 100% bệnh viện đều có hệ thống xử lý nước thải với tỷ lệ nước thải được thu gom, xử lý đạt quy chuẩn QCVN 28:2010/BTNMT là 98,94% (tỷ lệ chưa đạt còn lại do có 02 bệnh viện đang triển khai đầu tư nâng cấp hệ thống xử lý nước thải là Bệnh viện Truyền máu Huyết học và Bệnh viện quận Bình Tân). 2. Công tác quản lý nhà nước về xử lý rác thải, nước thải Trong thời gian qua, thành phố đã chỉ đạo sở, ngành thành phố và các đơn vị liên quan, tập trung, huy động tối đa nguồn lực thực hiện nhiều giải pháp khả thi để kiểm soát ô nhiễm môi trường do rác thải và nước thải, cụ thể như sau: 2.1. Việc tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia giữ gìn vệ sinh, phân loại rác tại nguồn, bảo vệ môi trường và ứng phó biến đổi khí hậu đã được triển khai trên toàn thành phố một cách đồng bộ, thống nhất và thường xuyên với sự tham gia của cả hệ thống chính trị, chính quyền các cấp và các tổ chức chính trị xã hội, góp phần tạo chuyển biến tích cực về vệ sinh môi trường, giảm đáng kể các điểm ô nhiễm do rác thải trên địa bàn thành phố. Để tạo động lực phấn đấu cho cá nhân, tập thể thực hiện tốt công tác bảo vệ môi trường, thành phố đã nâng cấp hình thức khen thưởng của Giải thưởng môi trường thành phố từ áp dụng cho đối tượng doanh nghiệp, sau đó mở rộng đến các đối tượng trong xã hội, kết nối với Giải thưởng môi trường Quốc gia. Bên cạnh đó, cũng đã tổ chức các sự kiện môi trường thường niên thu hút đông đảo người dân tích cực tham gia, hưởng ứng, từ đó chia sẻ những giải pháp, sáng kiến thiết thực về bảo vệ môi trường. 2.2. Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong công tác bảo vệ môi trường, tập trung giải quyết đối với các nguồn thải công nghiệp chưa có hệ thống xử lý nước thải, khí thải; tiến hành triển khai lắp đặt hệ thống quan trắc tự động đối với các nguồn thải có lưu lượng từ 1.000 m3/ngày trở lên; buộc khu công nghiệp, cụm công nghiệp có chủ đầu tư đã đi vào hoạt động phải lắp đặt hệ thống quan trắc chất lượng nước thải tự động và thiết lập đường truyền dữ liệu. Đến nay, 100% khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, cụm công nghiệp (có chủ đầu tư cơ sở hạ tầng) trên địa bàn thành phố đều có hệ thống xử lý nước thải tập trung và hệ thống quan trắc nước thải tự động có đường truyền dữ liệu về Sở Tài nguyên và Môi trường để kiểm tra, giám sát. Đối với nguồn xả thải lưu lượng lớn ngoài khu công nghiệp, đã hoàn thành việc kết nối truyền nhận dữ liệu quan trắc nước thải tự động liên tục đối với 5 Bệnh viện và 14 cơ sở công nghiệp để theo dõi, giám sát. Thành phố tiếp tục huy động mọi nguồn lực triển khai các dự án nhà máy xử lý nước thải đô thị tập trung. Dự báo, trong điều kiện cuối năm 2020, nếu hoàn thành 03 nhà máy (Nhà máy Bình Hưng giai đoạn 2: 469.000 m3/ngày đêm; Nhà máy Nhiêu Lộc Thị Nghè: 480.000 m3/ngày đêm; Hệ thống cống thu gom Nhà máy Tham Lương Bến Cát: 131.000 m3/ngày đêm) thì 80% lượng nước thải sinh hoạt đô thị của thành phố sẽ được thu gom, xử lý. Ngoài ra, thành phố cũng chú trọng kêu gọi xã hội hóa đầu tư nhà máy xử lý nước thải tập trung tại 04 lưu vực gồm nhà máy Tây Sài Gòn, nhà máy Tân Hóa Lò Gốm, nhà máy Bắc Sài Gòn 1 và nhà máy Bình Tân; cải tạo, nạo vét, duy tu, bảo dưỡng hệ thống các kênh rạch được phân cấp quản lý góp phần khai thông dòng chảy, giảm ô nhiễm môi trường, gia tăng mỹ quan đô thị. Đối với nước thải y tế, thành phố đã thực hiện công tác quản lý chất thải y tế đảm bảo 100% cơ sở y tế xử lý (gồm thu gom, chuyển giao) chất thải rắn y tế theo quy định; triển khai đầu tư cải tạo, nâng cấp hệ thống xử lý nước thải y tế của các bệnh viện trực thuộc theo đúng tiến độ của các dự án cải tạo, nâng cấp hệ thống xử lý nước thải; Sở ngành và các đơn vị liên quan cùng phối hợp hiệu quả trong kiểm tra, giám sát công tác quản lý chất thải y tế tại các cơ sở y tế. 2.3. Triển khai đồng bộ, sâu rộng Chương trình phân loại rác tại nguồn trên địa bàn thành phố, kêu 28 QUAÛN LYÙ RAÙC THAÛI, NÖÔÙC THAÛI VÌ SÖÏ PHAÙT TRIEÅN BEÀN VÖÕNG VAØ VAI TROØ CUÛA KIEÅM TOAÙN NHAØ NÖÔÙC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁNSố 143 - tháng 9/2019 gọi đầu tư nhà máy xử lý chất thải rắn tiên tiến hiện đại, cụ thể: - Một là, 24 quận, huyện trên địa bàn thành phố triển khai thực hiện Chỉ thị số 19-CT/TU ngày 19 tháng 10 năm 2018 của Ban Thường vụ Thành ủy về thực hiện Cuộc vận động “Người dân Thành phố Hồ Chí Minh không xả rác ra đường và kênh rạch vì thành phố sạch và giảm ngập nước”; tổ chức sắp xếp lực lượng thu gom rác dân lập; đẩy nhanh tiến độ chuyển đổi phương tiện thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt và triển khai thực hiện phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn theo Kế hoạch ban hành theo Quyết định 1832/QĐ-UBND và Quyết định 44/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân Thành phố. Triển khai hướng dẫn giá tối đa công tác thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt theo Quyết định 38/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân Thành phố; quản lý điểm hẹn, trạm trung chuyển, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn quận, huyện; triển khai công tác đấu thầu công tác quét dọn, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt: (1) Triển khai Kế hoạch thực hiện đồng bộ phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn trên địa bàn 24 quận - huyện giai đoạn 2017-2020: Tiếp tục mở rộng phạm vi thực hiện phân loại rác tại nguồn (hiện có 238/322 (chiếm 74%) phường/xã/thị trấn được triển khai theo kế hoạch mở rộng của 24 quận, huyện). Đã tổ chức khảo sát, đánh giá thực tế công tác triển khai phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn trên địa bàn 8 quận, huyện (đợt 1) gồm: 2, 4, 5, 7, 9, 10, 12, Gò Vấp và tổ chức Đoàn làm việc với các quận như: 4, 5, 9, 10 về công tác quản lý chất thải rắn trên địa bàn. Ngoài ra, để công tác phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn được nhân rộng và hiệu quả, thành phố đã điều chỉnh một số loại chất thải trong danh mục phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn và gửi các quận huyện, đơn vị liên quan áp dụng và thực hiện; kiện toàn nhân sự Ban chỉ đạo và Tổ giúp việc chương trình phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn thành phố. (2) Đã tổ chức đấu thầu công tác quét dọn, thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt. Đến nay, đã có 14/24 quận - huyện (quận 4, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, Bình Thạnh, Bình Tân, Tân Phú, Thủ Đức, Hóc Môn, Củ Chi, Cần Giờ) đã lựa chọn được đơn vị trúng thầu; ngoài ra thành phố cũng xem xét ban hành văn bản chỉ đạo về đặt hàng cung ứng dịch vụ vệ sinh môi trường trong quá trình tổ chức đấu thầu trên địa bàn Quận 1, Quận 8, huyện Nhà Bè. (3) Về chuyển đổi phương tiện thu gom vận chuyển: Ủy ban nhân dân các quận/huyện đang đẩy nhanh tiến độ chuyển đổi phương tiện. Thành phố đã hỗ trợ cho vay vốn từ nguồn vốn của Quỹ Bảo vệ môi trường đối với chủ các phương tiện dự kiến chuyển đổi và có nhu cầu vay vốn; đang tiếp tục phối hợp với SAMCO/Công ty Hiệp Hòa và một số lực lượng thu gom xây dựng kế hoạch và chuẩn bị cho công tác xây dựng định mức áp dụng cho các phương tiện chuyển đổi. (4) Quản lý điểm hẹn, trạm trung chuyển, vận chuyển trên địa bàn thành phố: Ủy ban nhân dân quận huyện xác định cự ly thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn theo hướng dẫn của Bộ Xây dựng; vận hành trạm trung chuyển, vệ sinh điểm hẹn và rà soát định mức dự toán công tác quản lý chất thải rắn đô thị Thành phố Hồ Chí Minh; ghi nhận tình hình điểm tập kết rác phát sinh ô nhiễm, điểm hẹn, trạm trung chuyển không bảo vệ sinh môi trường trong quá trình hoạt động trên địa bàn. - Hai là, rà soát cơ chế tổ chức quét dọn, thu gom, phân loại, vận chuyển, xử lý, tái chế rác: (1) Triển khai giá tối đa công tác thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn thành phố: Liên cơ quan Sở Tài nguyên và Môi trường - Sở Tài chính - Sở Tư pháp - Cục thuế Thành phố đã có công văn hướng dẫn thực hiện giá tối đa đối với dịch vụ thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt sử dụng ngân sách nhà nước và giá tối đa đối với dịch vụ xử lý chất thải rắn sinh hoạt sử dụng ngân sách nhà nước. Hiện các quận, huyện đang xây dựng mức giá và tổ chức lấy ý kiến các bên liên quan về mức giá áp dụng và tổ chức thực hiện. (2) Công tác quản lý rác dân lập: Thành phố phối hợp với ENDA triển khai Quyết định 543/ QĐ-UBND ngày 13 tháng 02 năm 2019 của Ủy ban nhân dân Thành phố về duyệt dự án tăng cường 29NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 143 - tháng 9/2019 tiếp cận an sinh xã hội và tái chế rác thải (rác thải nhựa) cho người thu gom rác dân lập tại thành phố. Vận động được 616 Tổ/đường dây rác dân lập gia nhập vào Hợp tác xã Vệ sinh môi trường hoặc chuyển đổi lên Công ty tư nhân (Thành phố hiện có 23 Hợp tác xã vệ sinh môi trường đang hoạt động (tăng thêm 11 Hợp tác xã so với năm 2016) và 160 Công ty tư nhân thu gom rác (tăng thêm 80 Công ty so với năm 2016). Có 8 quận, huyện hoàn thành việc chuyển đổi 100% Tổ/đường dây rác dân lập thành lập Hợp tác xã hoặc Công ty, đồng thời yêu cầu Liên minh Hợp tác xã thành phố và Ủy ban nhân dân quận, huyện rà soát, tăng cường tổ chức sắp xếp lực lượng thu gom rác dân lập trên địa bàn. - Ba là, đối với nhà vệ sinh và thùng rác công cộng trên địa bàn Thành phố: Hiện nay, Thành phố đang tiếp tục hoàn thiện Đề án mạng lưới nhà vệ sinh công cộng, thùng rác công cộng trên địa bàn (Công ty Cổ phần Công nghệ Môi trường Tiên Phong đang hoàn chỉnh đề án xây dựng hệ thống cabin vệ sinh công cộng TP-05 tự động, sử dụng năng lượng mặt trời với tiêu chuẩn APTS kết hợp kiosk đa năng theo phương thức xã hội hóa; Công ty Cổ phần Công nghệ xanh Goda đang tổng hợp và hoàn thiện về thùng rác công nghệ kèm quảng cáo). - Bốn là, Triển khai áp dụng công nghệ thông tin vào giám sát hoạt động cung ứng dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn trên địa bàn thành phố: Lắp đặt camera giám sát hoạt động tại tất cả các trạm trung chuyển, các nhà máy xử lý chất thải rắn và các phương tiện vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt đã lắp đặt GPS giám sát hành trình; triển khai thực hiện dự án “Xây dựng hệ thống kiểm soát và giám sát phương tiện vận chuyển chất thải trên địa bàn thành phố” theo Kế hoạch số 4631/ KH-STNMT-TTCNTT ngày 17 tháng 6 năm 2019 của Sở Tài nguyên và Môi trường về triển khai Đề án “Xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh trở thành đô thị thông minh giai đoạn 2017-2020, tầm nhìn đến năm 2025” năm 2019 trong lĩnh vực ngành tài nguyên và môi trường. - Năm là, Đẩy nhanh tiến độ triển khai thực hiện đối với 03 dự án đã được thành phố chấp thuận chủ trương1; chỉ đạo các nhà máy hiện hữu chuyển đổi công nghệ sang công nghệ đốt phát điện thu hồi năng lượng; thực hiện kêu gọi các nhà đầu tư có công nghệ xử lý chất thải rắn tiên tiến hiện đại. Ngày 28 tháng 8 năm 2019, Thành phố đã khởi công nhà máy đốt rác phát điện công suất 2.000 tấn/ngày (giai đoạn 1) của Công ty Cổ phần Vietstar. Trong tháng 10 năm 2019 sẽ tiếp tục khởi công 01 nhà máy đốt rác phát điện công suất 1.000 tấn/ngày. - Sáu là, Đẩy mạnh việc triển khai thực hiện cuộc vận động “chống rác thải nhựa” cùng với cả nước theo lời kêu gọi của Thủ tướng Chính phủ tại Thư ngỏ số 161/LĐCP ngày 25/4/2019 và Công văn số 5539/BTNMT-TCMT ngày 10 tháng 10 năm 2018 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về phát động phong trào “Chống rác thải nhựa” nhằm nâng cao nhận thức cộng đồng, thay đổi hành vi, cắt giảm sử dụng sản phẩm nhựa dùng một lần. Ủy ban nhân dân Thành phố đã ban hành Kế hoạch số 3098/KH-UBND ngày 29 tháng 7 năm 2019 về thực hiện phong trào “chống rác thải nhựa” trên địa bàn thành phố, tiến đến năm 2020, phấn đấu đạt chỉ tiêu giảm 65% túi ni lông khó phân hủy sử dụng tại các siêu thị, trung tâm thương mại, các chợ... và thu gom và tái chế 50% khối lượng chất thải túi ni-lông khó phân hủy phát sinh trong sinh hoạt mà Chương trình giảm ô nhiễm môi trường giai đoạn 2016 - 2020 đã đề ra. 3. Đầu tư, nâng cấp, mở rộng mạng lưới quan trắc các thành phần môi trường tiến đến phủ kín mạng lưới quan trắc trên toàn địa bàn thành phố để kịp thời đánh giá, dự báo diễn biến chất lượng môi trường cũng như đề ra giải pháp quản lý kiểm soát chất lượng môi trường hiệu quả và phù hợp. 4. Để tránh chồng chéo trong công tác kiểm tra, giám sát thành phố chủ động, sẵn sàng phối hợp với đơn vị, các tỉnh trong quá trình giải quyết các vấn đề môi trường ở vùng giáp ranh, lưu vực hệ thống sông Đồng Nai; triển khai Quy chế quản lý nhà nước trong lĩnh vực tài nguyên nước, tài nguyên 1Dự án đầu tư công nghệ khí hóa kết hợp phát điện của Công ty Trisun với công suất 1.000 tấn/ngày; dự án xử lý chất thải rắn sinh hoạt làm phân compost của Công ty Tasco với công suất 500 tấn/ngày và dự án xử lý chất thải nguy hại của Công ty Mộc An Châu, công suất 500 tấn/ngày. 30 QUAÛN LYÙ RAÙC THAÛI, NÖÔÙC THAÛI VÌ SÖÏ PHAÙT TRIEÅN BEÀN VÖÕNG VAØ VAI TROØ CUÛA KIEÅM TOAÙN NHAØ NÖÔÙC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁNSố 143 - tháng 9/2019 khoáng sản và bảo vệ môi trường và tranh thủ sự hợp tác quốc tế đặc biệt tổ chức JICA trong việc triển khai dự án trong lĩnh lực bảo vệ môi trường. 3. Những đề xuất, kiến nghị Trong giai đoạn tiếp theo 2020 - 2025, Thành phố Hồ Chí Minh sẽ tiếp tục nghiên cứu xây dựng kế hoạch, lộ trình thực hiện cụ thể hơn, nâng cao công tác quản lý nhà nước về xử lý nước thải, rác thải với mục tiêu ngăn ngừa kiểm soát ô nhiễm môi trường hiệu quả, đảm bảo môi trường cho người dân trong Thành phố, Thành phố kiến nghị một số các giải pháp như sau: 3.1. Kiến nghị Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ - Kiến nghị Chính phủ xem xét, rà soát, sửa đổi