Áo dài và Hanbok tinh hoa trong nền văn hóa dân tộc Việt – Hàn

I. LỜI MỞ ĐẦU Từ ngàn xưa, ông cha ta đã nói”Người đẹp vì lụa”- tức là mỗi bộ trang phục đều có chức năng tô điểm và làm đẹp thêm cho con người. Và đó cũng chính là nhu cầu thiết yếu của mỗi chúng ta. Bởi vậy, trang phục luôn là một trong những yếu tố hàng đầu, phát triển cùng với mỗi bước đi của lịch sử. Nhưng dù có ở giai đoạn nào thì trang phục vẫn luôn gắn liền với con người và gắn với quan niệm về cái đẹp đương thời. Hay nói cách khác, trang phục là hiện thân rõ nét của cá tính, của nét đặc trưng, của tinh hoa mỗi dân tộc từ xưa đến nay. Và loại trang phục làm tốt nhiệm vụ ấy nhất chính là TRANG PHỤC TRUYỀN THỐNG. Kimono của Nhật Bản, bộ Xường xám duyên dáng của Trung Quốc, bộ Hanbok ấn tượng xứ Kim Chi Bạn có thể đã rất ngưỡng mộ khi nhìn thấy những bộ trang phục ấy nhưng chúng tôi tin chắc bạn cũng sẽ không bao giờ bạn thôi tự hào về tà áo dài Việt Nam. Đó đều là những nét đặc sắc, không chỉ thuộc về riêng một đất nước, một quốc gia nào mà là tinh hoa của toàn nhân loại.

pdf20 trang | Chia sẻ: thanhle95 | Lượt xem: 286 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Áo dài và Hanbok tinh hoa trong nền văn hóa dân tộc Việt – Hàn, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
3/2014 HỘI THẢO KHOA HỌC SINH VIÊN-KHOA TIẾNG HÀN QUỐC 127 ÁO DÀI VÀ HANBOK TINH HOA TRONG NỀN VĂN HÓA DÂN TỘC VIỆT –HÀN SVTH: Bùi Phương Anh, Nguyễn Thị Hồng Duyên, Nguyễn Linh Huệ, Phạm Thị Bích Ngọc 3H13 GVHD: Lê Thị Hương I. LỜI MỞ ĐẦU Từ ngàn xƣa, ông cha ta đã nói”Ngƣời đẹp vì lụa”- tức là mỗi bộ trang phục đều có chức năng tô điểm và làm đẹp thêm cho con ngƣời. Và đó cũng chính là nhu cầu thiết yếu của mỗi chúng ta. Bởi vậy, trang phục luôn là một trong những yếu tố hàng đầu, phát triển cùng với mỗi bƣớc đi của lịch sử. Nhƣng dù có ở giai đoạn nào thì trang phục vẫn luôn gắn liền với con ngƣời và gắn với quan niệm về cái đẹp đƣơng thời. Hay nói cách khác, trang phục là hiện thân rõ nét của cá tính, của nét đặc trƣng, của tinh hoa mỗi dân tộc từ xƣa đến nay. Và loại trang phục làm tốt nhiệm vụ ấy nhất chính là TRANG PHỤC TRUYỀN THỐNG. Kimono của Nhật Bản, bộ Xƣờng xám duyên dáng của Trung Quốc, bộ Hanbok ấn tƣợng xứ Kim Chi Bạn có thể đã rất ngƣỡng mộ khi nhìn thấy những bộ trang phục ấy nhƣng chúng tôi tin chắc bạn cũng sẽ không bao giờ bạn thôi tự hào về tà áo dài Việt Nam. Đó đều là những nét đặc sắc, không chỉ thuộc về riêng một đất nƣớc, một quốc gia nào mà là tinh hoa của toàn nhân loại. 1. Lý do chọn đề tài “Có tìm hiểu dĩ vãng của chính mình thì mới quý nó đƣợc, và có quý trọng dĩ vãng thì mới tìm đƣợc hƣớng đi cho tƣơng lai”– đó chính là lời của cố học giả Nguyễn Hiến Lê gửi tới những ai yêu thích và say mê với nền văn hóa dân tộc. Việt Nam là một trong những nƣớc có nền văn hóa cổ xƣa trên thế giới. Là những sinh viên khoa tiếng Hàn Quốc, chúng em muốn đi từ gốc rễ để tìm hiểu về văn hóa của đất nƣớc mình, và đồng thời cũng muốn tìm hiểu thêm đất nƣớc Hàn Quốc nhiều màu sắc, để từ đó có những đánh giá chính xác hơn về Việt Nam và Hàn Quốc. Trang phục là một trong những yếu tố thể hiện và phản ảnh văn hóa của mỗi quốc gia một cách rõ nét nhất nên chúng em quyết định chọn”Áo dài và Hanbok – Tinh hoa trong nền văn hóa dân tộc Việt - Hàn”làm chủ đề nghiên cứu. Từ việc tìm hiểu về trang phục, chúng ta có cơ hội cùng nhìn lại lịch sử để khám phá ra những nét văn hóa tiềm ẩn củ dân tộc mình, sống dậy tình yêu quê hƣơng đất nƣớc, từ đó thêm yêu thƣơng, trân trọng, kế thừa, tiếp thu và sáng tạo có hiệu quả nét văn hóa truyền thống. Đồng thời, việc tìm hiểu về văn hóa nƣớc bạn sẽ mang lại cho chúng ta cái nhìn mới mẻ hơn, đa chiều hơn về văn hóa nhân loại. 3/2014 HỘI THẢO KHOA HỌC SINH VIÊN-KHOA TIẾNG HÀN QUỐC 128 2. Mục đích nghiên cứu Việc thực hiện đề tài này góp phần giúp cho mọi ngƣời có một cái nhìn toàn diện về áo dài và Hanbok cũng nhƣ là vai trò quan trọng của nó trong nền văn hóa hai đất nƣớc Việt Nam và Hàn Quốc. Thêm vào đó, việc nghiên cứu này đƣợc thực hiện với mục đích hƣớng mọi ngƣời về với cội nguồn, với lịch sử dân tôc, từ đó thêm yêu, thêm tự hào về đất nƣớc mà cố gắng gìn giữ, phát huy. Đồng thời, việc đặt tƣơng quan với trang phục truyền thống Hàn Quốc sẽ mang lại cái nhìn đa chiều hơn về trang phục truyền thống và đặc biệt là mỗi quan hệ giữa trang phục truyền thống và văn hóa của mỗi quốc gia. 3. Phƣơng pháp nghiên cứu - Phƣơng pháp thu thập tài liệu  Thu thập thông tin về đề tài nghiên cứu thông qua sách vở, tài liệu và các công trình nghiên cứu liên quan.  Thông qua các tạp chí, trang web - Phƣơng pháp so sánh, đối chiếu và chứng minh II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1. Cơ sở lí luận 1.1. Khái niệm và các thuật ngữ liên quan 1.1.1. Khái niệm Trang phục hay y phục là những đồ để mặc nhƣ quần, áo, váy; để đội nhƣ mũ, nón, khăn và để đi nhƣ giầy, dép, ủng. Ngoài ra, trang phục còn có thêm thắt lƣng, gang tay, đồ trang sức. Chức năng thiết yếu nhất của trang phục chính là bảo vệ con ngƣời. Nói một cách khác, trang phục chính là một nhu cầu vật chất quan trọng trong đời sống mỗi con ngƣời. Với tính chất thực dụng nó là là một sản phẩm, nhƣng xét dƣới góc độ thẩm mỹ nó lại là một tác phẩm. Trong”Ngàn năm áo mũ”của Trần Quang Đức có đƣa ra một khái niệm về trang phục, đó là: “trang phục không chỉ là một nhân tố của sinh hoạt đời thƣờng mà trang phục đƣợc hiểu là một phần của văn hiến nƣớc nhà”. Truyền thống: chính là những đức tính, phong tục tập quán, tƣ tƣởng, lối sống... đƣợc truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác của mỗi quốc gia, dân tộc. Văn hoá: là khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác nhau, liên qua n đến mọi mặt về cả tinh thần, vật chất của con ngƣời. Có thể hiểu,”Văn hoá là toàn bộ các giá trị vật chất và tinh thần do con ngƣời sáng tạo để làm cho cuộc sống mỗi ngày một đẹp 3/2014 HỘI THẢO KHOA HỌC SINH VIÊN-KHOA TIẾNG HÀN QUỐC 129 hơn”. Bản chất của văn hoá là mang đặc trƣng của một cộng đồng ngƣời chính vì vậy văn hoá không có tính cá nhân riêng biệt. Bên cạnh đó văn hoá là kết tinh của thiên tính và cá tính nên nó có rất nhiều cung bậc. Cung bậc ở đây ta có thể hiểu một cách khái quát là: thanh âm, màu sắc, và cũng có thể là giai điệu. Tất cả đều đƣợc xƣớng lên từ cội nguồn sâu xa của vă hoá truyền thống. Theo nhƣ Trần Ngọc Thêm,”văn hóa”đƣợc cho là một hệ thống hữu cơ các giá trị vất chất và tinh thần do con ngƣời tạo ra, tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tƣơng tác giữa con ngƣời và môi trƣờng tự nhiên, xã hội. 1.1.2. Các thuật ngữ liên quan Áo dài là loại trang phục truyền thống của Việt Nam, che thân ngƣời từ cổ đến chân hoặc quá đầu gối, dành cho cả nam lẫn nữ. Áo dài thƣờng đƣợc mặc vào các dịp lễ hội trang trọng, hoặc nữ sinh mặc khi đi học. hễ nói đến phụ nữ Việt Nam thì không thể không nói đến áo dài. Hanbok – là trang phục truyền thống của Hàn Quốc, đại diện cho một trong những nét điển hình nhất trong văn hóa xứ Hàn. Cũng giống nhƣ trang phục truyền thống của Việt Nam. Hanbok là trang phục truyền thống của Hàn Quốc, không thể thiếu trong những lễ hội và đƣợc sử dụng trong những dịp quan trọng. Trang phục han-bok (한복)có đặc điểm là đƣờng may đơn giản, không có túi. Bộ han-bok cho phụ nữ gồm có một váy quấn và một áo vét kiểu bô-le-rô, thƣờng đƣợc gọi là ch''ima(치마)chogori (조고리).”Ch''ima”trong tiếng Hàn có nghĩa là”váy”còn”chogori”có nghĩa là”áo vét”. Bộ han-bok của nam giới thì gồm một áo vét ngắn và một chiếc quần, và đƣợc gọi là”paji”(바지). Thông thƣờng, han- bok nam rộng rãi và có viền ở gấu. Cả hai bộ y phục này đều có thể đƣợc mặc với một chiếc áo choàng dài có đƣờng nét tƣơng tự (gọi là turumagi) trùm ra bên ngoài. 1.2. Vai trò, vị trí của trang phục truyền thống trong nền văn hóa dân tộc Theo nhƣ Các Mác, trang phục là đối tƣợng của thị giác, một trong hai giác quan dễ cảm nhận cái đẹp một cách tinh tế phải là một biểu hiện bên ngoài và một của nội dung bên trong mang đầy đủ những chuẩn mực lành mạnh, hài hòa, thanh lịch và thực tiễn. Nếu nhƣ”trang phục”chỉ đơn giản là đồ để mặc lên ngƣời có tác dụng bảo vệ và làm đẹp thì”trang phục truyền thống”lại là một khái niệm có ý nghĩa hơn bởi nó gắn trong mình hai chữ”truyền thống”tức là vừa phải đảm nhận chức năng của”trang phục”vừa phải gắn liền với yếu tố lịch sử và văn hóa của mỗi quốc gia. Và”trang phục truyền thống”có một vai trò không nhỏ trong nền văn hóa của mỗi quốc gia. Tại sao lại có thể nói nhƣ vậy? Bởi trang phục chính là sự phản ảnh của văn hóa, của lối sống, của phong tục tập quán mỗi dân tộc. Tù nghìn xƣa, khi đã có sự xuất hiện của trang phục thì ông cha ta đã chú trọng để tao ra những trang phục có độ linh hoạt trong việc sử dụng cao, để phù hợp với tính chất công việc con ngƣời. Bởi thế, lối sông ấy cũng 3/2014 HỘI THẢO KHOA HỌC SINH VIÊN-KHOA TIẾNG HÀN QUỐC 130 đƣợc thể hiện qua trang phục. Trang phục còn thể hiện thị hiếu của con ngƣời, qua đó biểu lộ những đánh giá, quan niệm của con ngƣời. Và đặc biệt với trang phục truyền thống thì nó lại mang một giá trị lâu bền hơn bao giờ hết vì từ lúc nó xuất hiện, trải qua biết bao những thăng trầm của lịch sử nó vẫn giữ đƣợc nét đẹp của mình, và quan trọng là nét đẹp ấy vẫn đƣợc cho là chuẩn mực ở mọi thời kì lịch sử. Trang phục truyền thống là biểu tƣợng của mỗi đất nƣớc, là hiện thân của nhân dân. Bởi những ý nghĩa của nó, ở bất kì quốc gia nào, trang phục truyền thống luôn xuất hiện trong những sự kiện mang quan trọng của gia bản thân, của gia đình và của cả đất nƣớc nữa. Có thể thấy, không có một đất nƣớc nào là không có trang phục truyền thống. Mỗi quốc gia hình thành đều có quá trình phát triển, và gắn liền với nhu cầu ăn mặc của con ngƣời, mỗi vùng, mỗi đất nƣớc còn có những trang phục đặc trƣng khác nhau. Chính bởi sự phản ánh của văn hóa lên trang phục, trang phục, đặc biệt là trang phục truyền thống là một phần không thể thiếu của văn hóa. Đó không chỉ là cá tính, là khí phách mà còn là niềm tự hào của mỗi dân tộc. 2. Áo dài - tinh hoa trong nền văn hóa Việt 2.1. Quá trình hình thành và phát triển “Cây có cội,nƣớc có nguồn”, để tìm hiểu về áo dài, hãy ngƣợc dòng thời gian để tìm về quá khứ, từ thời mà chiếc áo dài còn ở hình dáng sơ khai nhất. Cho đến nay vẫn chƣa ai có thể tìm rõ và xác định đƣợc nguồn gốc của áo dài nhƣng có ghi chép cho thấy thủy tổ của áo dài chính vốn làm bằng da thú và lông chim, xuất hiện vào thời Hai Bà Trƣng (năm 38-42 trƣớc Tây Lịch). Đó đƣợc coi là y phục xa xƣa nhất của ngƣời Việt, đƣợc xuất hiện trên mặt chiếc trống đồng Ngọc Lữ cách nay khoảng vài nghìn năm cho thấy hình phụ nữ mặc trang phục với hai tà áo xẻ. Có tƣơng truyền, vào trận đánh cuối cùng với quân nhà Hán, hai Bà trƣng đã mặc áo hai tà giáp vàng, che lọng vàng với trang sức lộng lẫy. Và để tƣởng nhớ đến Hai Bà Trƣng, ngƣời phụ nữ Việt Nam đã tránh mặc chiếc áo có hai tà bằng cách thay bằng bốn tà, tƣợng trƣng cho bốn bậc sinh thành nên hai vợ chồng. Có nghiên cứu khác lại cho rằng, ở thời đó, với điều kiện thô sơ và hạn chế, chỉ có thể dệt đƣợc thành những mảnh vải khổ nhỏ nên phải ghép bốn mảnh mới có thể tạo thành một chiếc áo hoàn chỉnh, quen gọi là áo tứ thân. Nói một cách khác, có thể cho rằng, chiếc áo tứ thân mộc mạc đƣợc ƣa chuộng trong các dịp lễ hội thời xƣa đƣợc coi là tiền thân của tà áo dài truyền thống. Vũ Vƣơng Nguyễn Phúc Khoát đƣợc xem là ngƣời có công khai sáng và định hình chiếc áo dài Việt Nam. Chịu ảnh hƣởng nặng của văn hóa Trung Hoa, cho đến thế kỷ XVI, lối ăn mặc của ngƣời Việt Nam vẫn thƣờng hay theo ngƣời phƣơng Bắc. Trƣớc làn 3/2014 HỘI THẢO KHOA HỌC SINH VIÊN-KHOA TIẾNG HÀN QUỐC 131 sóng xâm nhập mới này, để gìn giữ bản sắc văn hóa riêng, Vũ Vƣơng Nguyễn Phúc Khoát đã ban hành sắc dụ về ăn mặc cho toàn thể dân chúng xứ Đàng Trong phải theo đó mà thi hành. Trong sắc dụ đó, ngƣời ta thấy lần đầu tiên sự định hình cơ bản của chiếc áo dài Việt Nam, nhƣ sau: “Thƣờng phục thì đàn ông, đàn bà dùng áo cổ đứng ngắn tay, cửa ống tay rộng hoặc hẹp tùy tiện. Áo thì hai bên nách trở xuống phải khâu kín liền, không đƣợc xẻ mở. Duy đàn ông không muốn mặc áo cổ tròn ống tay hẹp cho tiện khi làm việc thì đƣợc phép). Về lễ phục, thì dùng áo cổ đứng tay dài, vải xanh chàm, vải đen, hoặc vải trắng. Còn các bức viền cổ và kết lót thì vẫn dùng nhƣ trƣớc....”(sách Đại Nam Thực Lục Tiền Biên). Vậy, bộ quần áo có nút thay thế cho váy, áo xẻ ngực thắt dây đã ra đời. và Căn cứ theo những chứng liệu này, có thể khẳng định chiếc áo dài với hình thức cố định đã ra đời và chính thức đƣợc công nhận là quốc phục dƣới triều chúa Nguyễn Vũ Vƣơng (1739- 1765). Sau một thời gian, thấy quần hai ống không hợp với thuần phong mỹ tục, Nguyễn Phúc Khoát giao cho triều thần, pha phối từ mẫu áo dài của ngƣời Chăm để che kín bớt quần hai ống. Và lúc này áo dài giống nhƣ áo của ngƣời Chăm, nhƣng có xẻ nách. Đến đời Gia Long – Minh Mạng, chiếc áo dài tứ thân đƣợc biến cải thành áo ngũ thân đi đôi với quần hai ống; rất phổ thông trong giới quyền quý và dân thành thị. Áo ngũ thân cũng đƣợc may nhƣ áo tứ thân, nhƣng vạt áo bên phải phía trƣớc chỉ đƣợc may bằng một thân vải, còn vạt áo bên trái đƣợc may bằng hai thân vải nhƣ vạt áo đằng sau. Ngoài ra, áo ngũ thân có khuy áo nhƣ áo đàn ông, lúc mặc có thể cài khuy nhƣ áo dài ngày nay hoặc thắt vạt nhƣ áo tứ thân. Về ý nghĩa, bốn thân áo chính tƣợng trƣng cho tứ thân phụ mẫu, và thân thứ năm (vạt con) tƣợng trƣng cho ngƣời mặc áo; năm chiếc khuy tƣợng trƣng cho đạo làm ngƣời theo quan niệm Nho gia: nhân, lễ, nghĩa, trí, tín. Bƣớc sang năm 1884, khi vƣơng triều Nguyễn không đủ khả năng kháng cự trƣớc sức mạnh xâm lƣợc của thực dân Pháp. Buộc phải ký hòa ƣớc Patenôtre chấp nhận sự cai trị của Pháp trên toàn cõi Việt Nam. Dƣới chính sách cai trị của Pháp, làn sóng văn hóa Âu Tây có điều kiện tràn vào Việt Nam, ảnh hƣởng lớn đến thị hiếu của dân Việt. Những ngƣời tƣ sản, tiểu tƣ sản, tầng lớp thanh niên thành thị với các phong trào”đã cụ, nghênh tân”: Sống mới, Vui khỏe, Trẻ trung Chiếc áo dài xƣa cũng theo xu thế chung đó, bắt đầu đƣợc thay đổi.Ngƣời mở đầu cho phong trào cách tân trong giai đoạn này là họa sĩ Nguyễn Cát Tƣờng với kiểu áo dài Lemur, năm 1934. Từ áo ngũ thân, Nguyễn Cát Tƣờng, ý tƣởng: Phần áo: “Từ bụng trở, ta nên thu hẹp lại cho mất vẻ lòe xòe. Nhƣng có một điều tôi muốn các bạn để ý theo hơn hết là nên bỏ hẳn chiếc vạt con và cho chùng thêm các vạt chính. Ngoài hai việc lau tay và hỉ mũi, ta để vạt con không những không có ích gì thêm nữa, mà nó lại còn bất tiện, vì về mùa rét ta mặc hai, ba áo kép một lúc thì những vạt con ấy chồng chất lên nhau sẽ làm cho ta khó chịu và ngƣời trông sẽ thành một bên phồng cộm, còn một bên lép kẹp. Còn các vạt chính, tôi khuyDên nên cho dài chút nữa” 3/2014 HỘI THẢO KHOA HỌC SINH VIÊN-KHOA TIẾNG HÀN QUỐC 132 Phần quần: “Nhƣng một ý tƣởng vụt qua làm tôi bàng hoàng sực nghĩ tới một thứ, một thứ mà đáng nhẽ ra phải nói ngay từ đầu, vì nó là phần đầu, phần chính, phần cốt yếu trong y phục. Nó là là nói ra sợ chẳng ai tin, nó là cái quần. Phải chính cái quầnPhụ nữ ta mới ít đƣợc biết bỏ cái màu đen di truyền, nó âm thầm buồn tẻ mà may bằng những thứ màu trắng Vậy quần của bạn gái tôi thiết tƣởng nên thay đổi theo cách sau: Từ cạp đến đầu gối nên thu hẹp bớt để vừa khít với thân hình, nhƣ thế những vẻ đẹp thiên nhiên của từng ngƣời mới lộ ra đƣợc. còn từ đầu gối trở xuống đến chân, hai ống quần lại phải may rộng dần ra để khi đi đứng cái dáng điệu của các bạn đƣợc tăng thêm vẻ nhẹ nhàng. Còn trên cạp thì có hai lối: lối thứ nhất (trong hai hình tròn) may mổ tựa nhƣ quần tây, nhƣng hai miếng hai bên phải rộng và dài hơn để có thể buộc khép vào với nhau đƣợc. Dải rút ta sẽ thay vào hai cái rải cùng thứ vải may quần dính vào hai đầu cạp rồi thắt chéo sang cạnh sƣờn. Nếu muốn cẩn thận hơn chút nữa, ta có thể thêm mấy cái khuy bấm ở bên cạnh mép (chỗ quần mổ) cài vào với nhau. Lối thứ hai thì cũng nhƣ cạp quần thƣờng, nhƣng có một điều nên (để) ý là đừng may rộng quá.”Cụ thể, áo dài Lemur, có cổ đứng cao từ 1cm đến 2 cm, tay thẳng, may liền vải, cổ tay hẹp, viền nhỏ. Có kiểu ở cửa tay, gấu, nẹp cài cúc đều viền vải khác màu thành đƣờng nẹp rộng khoảng 0,5cm gọi là áo lé nẹp, có loại gấu áo vê tròn lẳn.Điểm đáng chú ý nhất của áo dài Lemur là khuy áo đƣợc cài trên vai, áo thắt eo, nối vai, tay phồng đi với quần ống loa. Chất liệu vải dùng để may áo là vải Tây, sử dụng các màu sắc tƣơi sáng thay cho các tối: nâu, đen. Nhƣng trong lúc này, chiếc áo dài Lemur, chỉ đƣợc một số ít có”tƣ tƣởng Tây”mặc, phần còn lại không mấy hoan ngênh. Vì theo văn hóa Nho gia truyền thống, đề cao cộng đồng xã hội và gia đình. Phụ nữ không đƣợc xem là những cá thể, bổn phận của phụ nữ là việc”xó bếp”, nên không cần phải làm dáng, không cần phải quần quần, áo áo làm đẹp (theo nghĩa hiện đại); do vậy, áo Lemur”thắt lƣng, bó eo”–”khêu gợi”là điều tối kỵ, trái với quan niệm Nho phong, Lễ giáo. Chính vì những lẽ đó, áo dài Lemur đƣợc cách tân Trên cơ sở áo dài Lemur, một họa sĩ tên Lê Phổ: bỏ các điểm nhấn ở cổ áo, tay áo, phồng tay; đƣa thêm các yếu tố của áo tứ thân, ngũ thân vào. Tạo ra một kiểu áo vạt dài, cổ kín, cài nút bên phải, ôm sát thân ngƣời, trong khi hai vạt dƣới đƣợc tự do bay lƣợn, vẫn kết hợp với quần ống loa. Áo dài Lê Phổ đƣợc may bằng vải màu mặc với quần trắng kiểu áo này đƣợc nhiều ngƣời chấp nhận. Trong kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954), áo dài chỉ đƣợc phổ biến ở các thành phố do Pháp tạm chiếm. Còn các vùng khác, dƣờng nhƣ không đƣợc chú ý Ngay từ năm 1947 trong bối cảnh Việt Nam vừa tuyên bố độc lập; các phong trào”diệt giặc đói, giặc dốt”đang đƣợc phát động. Đồng thời, nhằm tiết kiệm hơn nữa, ngày 20 tháng 3 năm 1947, Hồ Chí Minh, trong”Đời sống mới”đã vận động ngƣời dân vùng tự do bỏ thói quen mặc áo dài vì mặc áo dài không mấy tiện cho việc đi đứng. Lại thêm, áo dài tốn vải, khoảng hai cái áo dài may đƣợc ba cái áo ngắn. Nên nếu chỉ mặc áo ngắn có thể dƣ đƣợc một khoảng tiền lớn trong năm. Cuộc vận động này dần dần đã đƣợc ngƣời 3/2014 HỘI THẢO KHOA HỌC SINH VIÊN-KHOA TIẾNG HÀN QUỐC 133 dân hƣởng ứng. Cho nên có một thời gian, áo dài không còn là trang phục thông dụng của phụ nữ Việt Nam ở bắc vĩ tuyến 17. Từ sau năm 1954, với hiệp định Giơ-ne-vơ đất nƣớc bị chia cắt thành 2 miền, chiến tranh chống Mỹ nổ ra sau đó. Ở miền bắc áo dài vẫn không thích hợp với những cuộc sống khó khăn của dân Việt; áo dài chỉ đƣợc tiếp tục phát triển ở miền nam. Đầu thập niên 1960, nhà may Dung ở phƣờng Đakao, Sài Gòn đƣa ra một kiểu áo dài mới, áo dài Raglan (giác lăng). Điểm mới của áo dài nhà may Dung: tay dài raglan tay áo và thân áo đƣợc nối xéo góc khoảng 45 độ, hai bên nách và vai không có những đƣờng nhăn (so với kiểu áo trƣớc đó) ôm sát ngƣời hơn. Áo đƣợc mặc với quần xéo. Quần may bằng vải mềm, đƣợc xếp xéo góc khi cắt, có hông ôm sát ngƣời và hai ống dài qua mắt cá chân. Thời gian khi hàng ni-lông tràn ngập miền nam, áo dài lại có một biến tƣớng khác, các kiểu áo dài mỏng xuất hiện, cổ khoét sâu xuống, cổ tròn, cổ vuông, cổ nhọn có loại không tay, may liền, thân áo có hoa văn. Sang những năm 1968, áo dài lại biến dạng, mở đầu cho loại áo của giai đoạn này là Trần Lệ Xuân với phong trào Phụ nữ liên đới, lấy kiểu áo tầm vông của ngƣời phụ nữ Khmer chƣa chồng, may cổ hở cho chiếc áo dài Việt. Đây là loại áo dài Mini Raglan, vốn là áo Raglan nhƣng đƣợc cắt may ngắn hơn: tà áo rất hẹp, vạt ngắn đến đầu gối, cổ cao, tay áo ngắn, có tay rộng, tà đƣợc xẻ cao. Kiểu Mini Raglan này đƣợc các nữ sinh Sài Gòn ƣa chuộng mãi cho đến cuối tháng 4 năm 1975. Trong giai đoạn gần đây, do có sự đa dạng về vải, chiếc áo dài nữ vẫn tiếp tục có những thay đổi. Nhƣng sự thay đổi không lớn, về bản chất kết cấu trƣớc đó vẫn đƣợc đảm bảo. Cổ áo, gấu áo, và eo áo: cổ áo thì lúc cao, lúc thấp, lúc rộng, lúc hẹp; gấu áo thì lúc vén cao, lúc hạ thấp; eo áo thí lúc nhỏ lúc to. Những thay đổi này đi đôi với những thay đổi nhỏ của chiếc quần: chân què qua đáy giữa, lƣng quần thắt giải rút rồi tới giây thung, gài nút, và sau cùng là dùng phẹc-mo-tuya (fermeture), ống quần thì lúc rộng lúc hẹp theo thị hiếu thẩm mỹ của từng giai đoạn Trong giai đoạn hiện nay, áo dài lại có nhiều biến tấu khác, từ tay áo, cổ áo, vạt áo đến cách kết hợp với kiểu quần Rất đa dạng, tùy theo sở thích, ý tƣởng của từng ngƣời. Trong xã hội hội nhập hiện nay, áo dài góp phần tạo nên nét riêng độc đáo trong các buổi trình diễn tuần lễ thời trang quốc tế và trong các cuộc thi hoa hậu trong và ngoài nƣớc, các festival trang trọng và bề thế. Nhiều nhà thiết kế Áo Dài Việt Nam đã đƣợc biết đến trên thị trƣờng quốc tế nhƣ Minh Hạnh, Sỹ Hoàng, Võ Việt Chung, La Hằng Tất cả đều góp phần làm rạng danh tên tuổi trang phục Áo dài – Biểu tƣợng văn hóa của Việt Nam. Để có sự phát triển nhƣ ngày hôm nay, nhìn lại quá khứ, chúng ta thấy chiếc áo dài quả thật có một lịch sử rất lâu đời 3/2014 HỘI THẢO KHOA HỌC SINH VIÊN-KHOA TIẾNG HÀN QUỐC 134 2.2. Các kiểu áo dài cơ bản 2.2.1. Áo dài nữ giới