Bài viết Vai trò của hậu phương đối với tuyền tuyến

Trong chiến tranh, bên nào có sức mạnh áp đảo thì bên đó giành thắng lợi. Muốn có sức mạnh thì ngoài yếu tố binh khí, kĩ thuật, tư tưởng, con người... còn phải kể đến một nhân tố có vai trò hết sức quan trọng là hậu phương của cuộc chiến tranh. Sự chi viện của hậu phương cho tiền tuyến là một yếu tố thường xuyên quyết định thắng lợi của cuộc chiến tranh, vì hậu phương là nơi xây dựng và dự trữ tiềm lực của chiến tranh về cả mặt chính trị, kinh tế, quân sự, văn hoá và khoa học kĩ thuật, là nơi chi viện nhân lực, vật lực, là chỗ dựa tinh thần cho tiền tuyến. Muốn đánh thắng địch ở tuyền tuyến thì phải có hậu phương vững mạnh về mọi mặt. Việc xây dựng hậu phương là một vấn đề có tính chất chiến lược và quyết định sống còn đối với thắng lợi của toàn bộ cuộc chiến. Đó là qui luật của các loại chiến tranh từ xưa đến nay. Nắm vững qui luật đó, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tranh thủ mọi thời gian, điều kiện vật chất để chuẩn bị hậu phương cho chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ tổ quốc. Vừa kháng chiến, vừa kiến quốc, vừa đánh giặc, vừa xây dựng chế độ mới, xây dựng căn cứ địa hậu phương là một chủ trương chiến lược đúng đắn, sáng tạo của Đảng, phản ánh một trong những đặc trưng của cách mạng Việt Nam. Việc xây dựng, củng cố hậu phương trong hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ luôn luôn được Đảng nhìn nhận một cách đúng đắn và đặt lên hàng đầu. Đảng đã xây dựng, củng cố hậu phương trong mọi tình huống của cuộc chiến, làm cho hậu phương có sức sống và phát triển trong hoàn cảnh gay go, khó khăn nhất, trong khi chính nó cũng phải trực tiếp chiến đấu quyết liệt với kẻ thù. Dân tộc ta thắng những kẻ thù mạnh hơn gấp nhiều lần bởi vì chúng ta có nhân dân anh hùng, có sự lao động sáng tạo, tài năng và trí tuệ của Đảng, có hậu phương lớn tập trung sức người, sức của, động viên tinh thần tuyến tuyến lớn đánh thắng kẻ thù. Do vậy, việc nghiên cứu chủ trương xây dựng hậu phương của Đảng, để qua đó rút ra những bài học kinh nghiệm, phục vụ cho công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước hiện nay dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong bối cảnh quốc tế và trong nước có nhiều thuận lợi cũng như khó khăn mới, sẽ góp phần đắc lực vào nhiệm vụ bảo vệ và xây dựng tổ quốc Việt Nam XHCN.

docx12 trang | Chia sẻ: oanh_nt | Lượt xem: 4555 | Lượt tải: 2download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Bài viết Vai trò của hậu phương đối với tuyền tuyến, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Vai trò của hậu phương đối với tuyền tuyến MỞ ĐẦU Trong chiến tranh, bên nào có sức mạnh áp đảo thì bên đó giành thắng lợi. Muốn có sức mạnh thì ngoài yếu tố binh khí, kĩ thuật, tư tưởng, con người... còn phải kể đến một nhân tố có vai trò hết sức quan trọng là hậu phương của cuộc chiến tranh. Sự chi viện của hậu phương cho tiền tuyến là một yếu tố thường xuyên quyết định thắng lợi của cuộc chiến tranh, vì hậu phương là nơi xây dựng và dự trữ tiềm lực của chiến tranh về cả mặt chính trị, kinh tế, quân sự, văn hoá và khoa học kĩ thuật, là nơi chi viện nhân lực, vật lực, là chỗ dựa tinh thần cho tiền tuyến. Muốn đánh thắng địch ở tuyền tuyến thì phải có hậu phương vững mạnh về mọi mặt. Việc xây dựng hậu phương là một vấn đề có tính chất chiến lược và quyết định sống còn đối với thắng lợi của toàn bộ cuộc chiến. Đó là qui luật của các loại chiến tranh từ xưa đến nay.  Nắm vững qui luật đó, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tranh thủ mọi thời gian, điều kiện vật chất để chuẩn bị hậu phương cho chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ tổ quốc. Vừa kháng chiến, vừa kiến quốc, vừa đánh giặc, vừa xây dựng chế độ mới, xây dựng căn cứ địa hậu phương là một chủ trương chiến lược đúng đắn, sáng tạo của Đảng, phản ánh một trong những đặc trưng của cách mạng Việt Nam. Việc xây dựng, củng cố hậu phương trong hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ luôn luôn được Đảng nhìn nhận một cách đúng đắn và đặt lên hàng đầu. Đảng đã xây dựng, củng cố hậu phương trong mọi tình huống của cuộc chiến, làm cho hậu phương có sức sống và phát triển trong hoàn cảnh gay go, khó khăn nhất, trong khi chính nó cũng phải trực tiếp chiến đấu quyết liệt với kẻ thù. Dân tộc ta thắng những kẻ thù mạnh hơn gấp nhiều lần bởi vì chúng ta có nhân dân anh hùng, có sự lao động sáng tạo, tài năng và trí tuệ của Đảng, có hậu phương lớn tập trung sức người, sức của, động viên tinh thần tuyến tuyến lớn đánh thắng kẻ thù. Do vậy, việc nghiên cứu chủ trương xây dựng hậu phương của Đảng, để qua đó rút ra những bài học kinh nghiệm, phục vụ cho công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước hiện nay dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong bối cảnh quốc tế và trong nước có nhiều thuận lợi cũng như khó khăn mới, sẽ góp phần đắc lực vào nhiệm vụ bảo vệ và xây dựng tổ quốc Việt Nam XHCN.  NỘI DUNG I. VỊ TRÍ, VAI TRÒ VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA HẬU PHƯƠNG TRONG CHIẾN TRANH. Hậu phương hiểu theo nghĩa nghĩa hẹp: “là nơi đối xứng với tiền tuyến, có sự phân biệt rạch ròi bằng yếu tố không gian, là lãnh thổ ngoài vùng chiến sự, phía sau chiến tuyến, có dân cư và tiềm lực mọi mặt, nhất là về nhân lực, vật lực. Là nơi xây dựng và huy động sức người, sức của, đáp ứng nhu cầu của lực lượng vũ trang ngoài tiền tuyến” {14.Tr. 231}.  Theo nghĩa rộng, đây là chỗ dựa để tiến hành chiến tranh, nơi cung cấp sức người, sức của cho chiến tranh, không phân biệt rạch ròi với tuyền tuyến về mặt không gian. Như vậy, có thể thấy ngay rằng trong các cuộc chiến tranh, hậu phương là một trong những điều kiện cơ bản quyết định thắng bại, được thua của hai bên tham chiến. Chiến tranh phải dựa vào hậu phương hùng mạnh. Quân đội nào tách khỏi hậu phương thì không thể giành thắng lợi trong chiến tranh, không thể tồn tại được. Trong lịch sử quân sự, các nhà quân sự lỗi lạc và những người thầy vĩ đại của cách mạng vô sản – Mác, Ăng ghen, Lê-nin đều nhấn mạnh đến vai trò của hậu phương vững chắc, có tổ chức. Ăng ghen đã viết: “Toàn bộ việc tổ chức và phương thức chiến đấu của quân đội và do đó thắng lợi, thất bại đều tỏ ra là phụ thuộc vào những điều kiện vật chất, nghĩa là điều kiện kinh tế, vào chất liệu của con người và của vũ khí, nghĩa là vào chất lượng và số lượng của cư dân và của cả kĩ thuật” {6.Tr. 242} Còn Lê-nin thì cho rằng: “ Trong chiến tranh, ai có nhiều lực lượng hậu bị hơn, ai có nhiều nguồn lực, ai kiên trì đi sâu vào quần chúng nhân dân hơn, thì người đó thu được thắng lợi”{1.Tr.84} Và: “ Muốn tiến hành chiến tranh một cách thực sự, phải có một hậu phương có tổ chức vững chắc, một đội quân giỏi nhất, những người trung thành nhất với sự nghiệp cách mạng cũng đều lập tức bị kẻ thù tiêu diệt, nếu họ không được vũ trang, tiếp tế lương thực và huấn luyện đầy đủ” {2.Tr. 497}.  Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng cho rằng: “khi có chiến tranh, phải huy động và tổ chức tất cả các lực lượng trong nước để chống giặc” {4.Tr. 474}. Ngoài ra, đề cập đến những yếu tố cụ thể quyết định sức mạnh của hậu phương, Mác và Ăngghen, Lê-nin, đều đã đánh giá cao nhân tố chính trị-tinh thần, đồng thời cũng nhấn mạnh đến yếu tố trang bị vũ khí. Xtalin khi bàn đến sự thử thách khắc nghiệt của chiến tranh đã nói: “lịch sử chiến tranh dạy rằng, chỉ có những nước nào mạnh hơn đối phương của mình về mặt phát triển và tổ chức kinh tế, về kinh nghiệm, tài nghệ và tinh thần chiến đấu của quân đội, về tinh thần kiên cường và đoàn kết của nhân dân trong suốt cả quá trình chiến tranh thì mới chịu đựng được sự thử thách đó” {17.Tr. 113}. Một tiêu chuẩn quan trọng nữa quyết định sự vững mạnh của hậu phương, đó là yếu tố kinh tế. Theo đồng chí Lê Duẩn, “một hậu phương vững mạnh là một hậu phương có tiềm lực kinh tế và quốc phòng hùng hậu, có nguồn dự trữ dồi dào để cung cấp lương thực, súng đạn, sức người, sức của đầy đủ cho tiền tuyến”{8.Tr.28}. Đồng chí Trường Chinh cũng coi một trong những nhân tố thường xuyên của thắng lợi trong một cuộc chiến tranh nhân dân ở thời đại của chúng ta là “hậu phương chiến tranh nhân dân được củng cố, nguồn cung cấp nhân tài, vật lực cho chiến tranh dồi dào, chỗ dựa của các lực lượng vũ trang vững mạnh” {9. Tr. 54} Nhìn chung, vai trò của hậu phương đều được các nhà chiến lược, các nhà quân sự đánh giá cao và yêu cầu những người lãnh đạo quốc gia, những người cầm quân phải quan tâm thường xuyên trong thời chiến cũng như thời bình. Bởi lẽ, chiến tranh là sự thử thách toàn diện đối với mỗi bên tham chiến, trong đó hết thảy lực lượng đều bị thử thách, bị tiêu hao, nên đòi hỏi phải được bổ sung, phát triển, nhằm đè bẹp đối phương để chiến thắng. Cơ sở vật chất của đất nước mạnh hay yếu, dồi dào hay thiếu thốn là một điều kiện quan trọng, quyết định và có tác động rất lớn đến thắng hay bại của chiến tranh. Tuy nhiên, sức mạnh của hậu phương không chỉ dựa trên những chỉ số kinh tế, trên mức sống, trình độ hiểu biết khoa học kĩ thuật của con người, cũng như vũ khí và trang bị kĩ thuật của quân đội, mà còn dựa trên nhiều yếu tố khác nhau nữa. Bởi vì, mặc dù hậu phương có một vai trò quan trọng trong việc quyết định thắng lợi hay thất bại của chiến tranh, song so sánh lực lượng hậu phương của hai bên, giải quyết vấn đề hậu phương, xây dựng và phát huy sức mạnh của hậu phương như thế nào, lại không phải là một vấn đề đơn thuần của số học. Hậu phương có thể chuyển hoá từ yếu sang mạnh, hoặc ngược lại. Cách huy động lực lượng của hậu phương là một vấn đề quan trọng. Nó phụ thuộc vào những yếu tố như: tính chất của chiến tranh, trình độ giác ngộ của con người, năng lực xử lý các vấn đề liên quan đến chiến tranh... Muốn để hậu phương động viên được sức người, sức của cho kháng chiến, đồng thời là nguồn cổ vũ mạnh mẽ về chính trị, tinh thần cho các lực lượng chiến đấu trên chiến trường, phải trải qua một quá trình xây dựng, từng bước phát triển và củng cố hậu phương từ yếu thành mạnh. Trong quá trình đó, hậu phương phải thường xuyên tái tạo ra tiềm lực mới cả về vật chất lẫn tinh thần, để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của cuộc kháng chiến. II. NHẬN THỨC CỦA ĐẢNG VỀ VAI TRÒ HẬU PHƯƠNG TRONG CHIẾN TRANH NHÂN DÂN VIỆT NAM. Hậu phương của chiến tranh có những cấp độ và hình thức khác nhau. Có hậu phương chiến lược, có hậu phương tại chỗ, có những căn cứ du kích, lại còn có khái niệm hậu phương lòng dân. Dân bao bọc che trở, tạo điều kiện cho cách mạng xây dựng căn cứ của mình. Nhưng xét trên phương diện tổng quát nhất, thì lực lượng cách mạng muốn chiến thắng kẻ thù nhất định phải có hậu phương chiến lược, vì “không có một đội quân nào trên thế giới không có hậu phương vững chắc lại có thể chiến thắng được” {7.Tr.13}. Điều đó đã trở thành qui luật. Quan điểm trên của chủ nghĩa Mác-Lênin về vai trò của hậu phương trong chiến tranh đã khẳng định tầm quan trọng chiến lược của hậu phương. Thực tiễn đẫ chứng minh điều đó một cách hùng hồn. Trong chiến tranh thế giới thứ hai, Hồng quân Liên Xô chiến thắng Phát-xít Đức- Nhật trong một điều kiện vô cùng khó khăn vì họ có hậu phương chiến lược bao gồm các nước cộng hoà trong Liên bang rộng lớn, được củng cố và xây dựng để đủ sức đáp ứng mọi yêu cầu của chiến trường. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã hết sức coi trọng việc xây dựng hậu phương, xem đó là nhân tố hết sức quan trọng, quyết định thắng lợi của cách mạng. Trong những ngày đầu trứng nước vận động thành lập Đảng, Nguyễn Ái Quốc đã chú trọng xây dựng cơ sở trong dân- xây dựng cơ sở cách mạng trong cộng đồng những người Việt Nam ở Pháp, Thái Lan, đặc biệt là ở Trung Quốc. Những cơ sở bước đầu này thực sự là hậu phương của cách mạng, là chỗ dựa, sức mạnh giúp Đảng vượt qua khủng bố của kẻ thù, đứng vững, phát triển và hoàn thành xuất sắc sứ mạng lịch sử của mình. Đầu năm 1941, khi về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng, Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã bắt tay xây dựng Cao Bằng thành căn cứ địa của cách mạng Việt Nam. Người nói: “Căn cứ địa Cao Bằng sẽ mở ra triển vọng lớn cho cách mạng nước ta. Cao Bằng có phong trào tốt từ trước, lại kề sát biên giới, lấy đó làm cơ sở liên lạc quốc tế rất thuận lợi. Nhưng từ Cao Bằng còn phải phát triển về Thái Nguyên và thông xuống nữa mới có thể tiếp xúc với toàn quốc được. Có nối được phong trào với Thái Nguyên, với toàn quốc thì khi phát động đấu tranh vũ trang, lúc thuận lợi có thế tiến công, lúc khó khăn có thể giữ” {10.Tr. 38-39}. Thực hiện theo tư tưởng đó của Hồ Chí Minh, căn cứ địa cách mạng được mở rộng và phát triển thành khu giải phóng rộng lớn gồm 6 tỉnh thuộc Việt Bắc. Đây là nơi Đảng và Quốc dân Đại hội quyết định những vấn đề chiến lược của cách mạng, mà bước đi quan trọng, quyết định nhất là phát động Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám một phần lớn là nhờ có căn cứ địa vững chắc, bao gồm: căn cứ Việt Bắc, các căn cứ ở các khu, các tỉnh, các cơ sở ở các địa phương trong toàn quốc. Khi kháng chiến chống Pháp bùng nổ, Việt Bắc lại trở thành căn cứ địa. Ngoài ra, ta còn có một hậu phương rộng lớn, bao gồm các khu du kích, các vùng tự do ở khu III, khu IV, khu V, Nam Bộ...tạo thành thế liên hoàn, vừa bao vây kẻ thù, vừa cung cấp sức người, sức của cho tuyền tuyến, động viên ý chí niềm tin cho những người lính trên chiến trường. Trong kháng chiến chống Mỹ, chúng ta đã có thể kế thừa những kinh nghiệm xây dựng hậu phương trong Cách mạng Tháng Tám và kháng chiến chống Pháp. Hơn bao giờ hết, trong cuộc kháng chiến lần này, Đảng đã đặc biệt chú ý đến vai trò quan trọng của hậu phương, bởi vì với một cuộc chiến không cân sức, phải đối đầu với một kẻ thù nguy hiểm, có tiềm lực kinh tế, quân sự, quốc phòng mạnh hơn ta gấp nhiều lần, thì việc tổ chức, huy động sức mạnh của toàn dân tộc và “phải có một hậu phương vững chắc” như Lênin đã từng nói, là hoàn toàn cần thiết. Hậu phương đó là miền Bắc XHCN. Tuy nhiên, xây dựng hậu phương trong kháng chiến chống Mỹ có sự phát triển về chất so với xây dựng hậu phương trong kháng chiến chống Pháp. Bởi vì, lúc đó chúng ta đã có một nửa nước hoà bình đi lên CNXH, có khả năng dốc toàn bộ sức mạnh của mình cho chiến tranh. Đồng thời, ta cũng có hậu phương tại chỗ ở miền Nam là những căn cứ du kích hoặc vùng tự do trong kháng chiến chống Pháp. Hơn nữa, bên cạnh ta lại có các nước XHCN anh em và lực lượng hoà bình tiến bộ trên thế giới ủng hộ, chia sẻ. Tuân thủ những quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin về tầm quan trọng của hậu phương trong chiến tranh cách mạng, vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, kế thừa và phát huy kinh nghiệm xây dựng hậu phương trong kháng chiến chống Pháp, Đảng đã tập trung xây dựng miền Bắc thành hậu phương lớn cho tuyền tuyến lớn miền Nam, “Tiến hành cách mạng XHCN ở miền Bắc tức là xây dựng cuộc sống mới, tự do, hạnh phúc cho nhân dân miền Bắc, đồng thời là củng cố miền Bắc thành cơ sở vững chắc về mọi mặt cho việc hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, thực hiện thống nhất nước nhà” {11.Tr. 5} Những tư tưởng của Hồ Chí Minh và Đảng ta về xây dựng hậu phương đã thực sự có ý nghĩa trong quá trình xây dựng miền Bắc theo hướng xây dựng hậu phương chiến lược trong cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam. Xây dựng CNXH ở miền Bắc cũng chính là xây dựng hậu phương cho chiến tranh giải phóng. Mọi hoạt động của miền Bắc cũng chính là hoạt động của hậu phương cho tuyền tuyến lớn đánh Mỹ. Thắng lợi của chúng ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cũng nhờ một phần lớn vào sự nhận thức đúng đắn của Đảng về vấn đề hậu phương và xây dựng hậu phương miền Bắc. III. QUÁ TRÌNH ĐẢNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG HẬU PHƯƠNG LỚN MIỀN BẮC TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ (1954-1965) 3.1. Khái quát tình hình miền Bắc sau kháng chiến chống Pháp. Với âm mưu thâm độc, nhằm ngăn chặn ảnh hưởng của phe xã hội chủ nghĩa xuống khu vực Đông Nam Á, trong Hội nghị Giơnevơ, đế quốc Mỹ không kí vào Bản tuyên bố cuối cùng, nhanh chóng gạt Pháp, âm mưu biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ, chia cắt lâu dài đất nước ta. Sau cuộc kháng chiến 9 năm gian khổ, đất nước ta bị chia thành hai miền với hai chế độ chính trị đối lập. Sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước chưa hoàn thành. Một chặng đường gian khổ còn ở trước mắt- chặng đường kháng chiến giải phóng miền Nam, hoàn thành thống nhất nước nhà.  Tình hình, điều kiện trong nước và thế giới đã có nhiều điểm khác trước. Miền Bắc nước ta đã được hoàn toàn giải phóng. Hệ thống xã hội chủ nghĩa đã hình thành, ngày càng lớn mạnh. Phong trào độc lập dân tộc và hoà bình trên thế giới phát triển sôi động. Trên trường quốc tế, vị trí, uy tín của nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà không ngừng nâng cao. Tuy nhiên, đất nước bị chia cắt thành hai miền. Cách mạng Việt Nam đứng trước những nhiệm vụ mới. Miền Bắc đã hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và đi vào xây dựng chủ nghĩa xã hội. Song hậu quả của chiến tranh hết sức nặng nề trong tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Năm 1954, giá trị tổng sản lượng công nghiệp chỉ chiếm 1,5 % giá trị tổng sản lượng công nông nghiệp. Kinh tế nông nghiệp đóng vai trò chủ yếu, song sản xuất nông nghiệp cũng gặp nhiều khó khăn. Nông nghiệp vốn lạc hậu lại bị tàn phá nặng nề bởi chiến tranh. Thiếu sức kéo, máy móc, công cụ, đê điều hư hại nhiều, kĩ thuật canh tác lại lạc hậu. Ruộng đất bị bỏ hoang bởi số lượng đồng bào công giáo di cư vào Nam. Các tệ nạn xã hội, tàn dư của chế độ phong kiến, đế quốc chưa được xoá bỏ. Trình độ dân trí thấp, nạn mù chữ còn phổ biến. Hệ thống y tế lạc hậu. Năm 1955, ở miền Bắc mới có 78 cơ sở điều trị với 115 bác sĩ, 3.786 y sĩ và y tá{15.Tr. 56}. Miền Bắc đang đứng trước những khó khăn tưởng chừng như không thể vượt qua. Trong khi đó, ở miền Nam, Mỹ dốc sức, huy động phương tiện cho chiến tranh, thi hành luật 10/59, thẳng tay đàn áp những người cộng sản và người dân yêu nước.  Đứng trước tình hình cách mạng miền Nam như vậy, miền Bắc đã vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội, vừa tích cực chi viện, ủng hộ cho cách mạng miền Nam trong suốt 21 năm đánh Mỹ. Đây cũng là nét đặc thù của cách mạng miền Bắc trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, mà giai đoạn này là những bước đi đầu tiên.  Từ đặc điểm đặc biệt này, nhằm phục vụ cho mục tiêu chung của cách mạng cả nước và mục tiêu cụ thể của từng miền trong mỗi giai đoạn kháng chiến, phục vụ trực tiếp cho công cuộc giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà, Đảng ta xác định: “ Sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc thời kì này (54-75), trước hết và chủ yếu nhằm biến miền Bắc thành căn cứ địa chiến lược của cách mạng cả nước, thành hậu phương chiến lược của tuyền tuyến miền Nam”. Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 (khoá II- 5/1955) khẳng định: “Miền Bắc là chỗ đứng của ta. Bất kể trong tình hình nào miền Bắc cũng phải được củng cố”. Tại Đại hội Mặt trận dân tộc thống nhất toàn quốc (9/1955), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Miền Bắc là nền tảng, là gốc rễ lực lượng đấu tranh của nhân dân ta, nền có vững, nhà mới chắc. Gốc có mạnh, cây mới tốt”. Để củng cố miền Bắc thành hậu phương chiến lược của cách mạng miền Nam, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (1960) đã chủ trương tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc. Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc gắn chặt với cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam, có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển của cách mạng cả nước và sự nghiệp thống nhất đất nước. Tại Đại hội III của Đảng đã chỉ rõ: miền Bắc có vị trí quyết định nhất đối với sự phát triển của cách mạng cả nước, đối với sự nghiệp thống nhất nước nhà. “Miền Bắc càng tiến mạnh lên chủ nghĩa xã hội, lực lượng mọi mặt của miền Bắc càng được tăng cường thì càng có lợi cho cách mạng giải phóng miền Nam, cho sự phát triển của cách mạng cả nước, cho việc giữ gìn hoà bình ở Đông Dương và trên thế giới”{5.Tr. 32}  Như vậy, việc củng cố, xây dựng miền Bắc thành hậu phương lớn cho tuyền tuyến lớn miền Nam đã được Đảng ta xác định rõ ràng. Miền Bắc đã được xây dựng vững mạnh về mọi mặt, đứng vững trước thử thách ác liệt của chiến tranh, đủ sức đánh thắng hai cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. Miền Bắc đã dốc vào chiến tranh giải phóng và chiến tranh giữ nước toàn bộ sức mạnh vật chất, tinh thần, xứng đáng là pháo đài vô địch của chủ nghĩa xã hội, xứng đáng với vị trí quyết định nhất trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước. 3.2. Đảng lãnh đạo xây dựng hậu phương Miền Bắc về mọi mặt trong thời kì đầu của kháng chiến chống Mỹ. 3.2.1. Xây dựng chế độ chính trị-xã hội Lênin đã viết: “ Tính chất của một cuộc chiến tranh và thắng lợi của nó đều phụ thuộc chủ yếu vào chế độ bên trong của các nước tham chiến {2.Tr. 479}. Do vậy, công việc quan trọng mà Đảng quan tâm trước hết đó là củng cố và xây dựng bộ máy chính quyền.  Sau khi đánh thắng thực dân Pháp, miền Bắc được giải phóng, bước vào thời kì quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội. Hệ thống chính quyền từ Trung ương đến địa phương được kiện toàn và Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà chuyển sang làm chức năng lịch sử của chuyên chính vô sản, tiến hành cải tạo XHCN đối với nền kinh tế quốc dân, xây dựng từng bước cơ sở vật chất- kĩ thuật của CNXH.  Từ cuộc Tổng tuyển cử năm 1946, hệ thống chính quyền nhà nước ta về cơ bản đã được định hình, từng bước được củng cố, xây dựng, nhưng do điều kiện lúc bấy giờ tổ chức, hoạt động còn nặng về hành chính và kháng chiến. Nên Đảng chủ trương: “củng cố chính quyền nhân dân là công tác cần thiết để củng cố miền Bắc” {12.Tr. 46}.  Nhằm đáp ứng được tầm đòi hỏi của hai chiến lược cách mạng, các cơ quan chính quyền đều được kiện toàn một bước để đảm đương nhiệm vụ xây dựng miền Bắc. Tính giai cấp, tính nhân dân của Nhà nước được khẳng định mạnh mẽ, nhằm củng cố hơn nữa nền tảng liên minh công nông do giai cấp công nhân lãnh đạo. Các thiết chế dân chủ cũng được xây dựng, hoàn thiện hơn, nhằm bảo đảm cho Nhà nước thể hiện được nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân. Nhằm đẩy mạnh việc dân chủ hóa cơ quan tư pháp, Quốc hội quyết định thành lập Toà án nhân dân tối cao và Viện công tố nhân dân, tách toà án nhân dân và hệ thống công tố khỏi Bộ tư pháp, chuyển thành hai cơ quan thuộc Hội đồng chính phủ. Đồng thời, các cơ quan bảo vệ pháp luật cũng được chấn chỉnh. Pháp chế XHCN bước đầu cũng được tăng cường nhằm đề cao kỉ cương, phép nước. Trong việc xây dựng, củng cố hệ thống chính trị-xã hội, thì củng cố khối đại đoàn kết toàn dân là một công việc có tính cấp bách đối với sự vững mạnh của hậu phương. Bởi vì, khối đại đoàn kết toàn dân là nguồn sức mạnh của chính quyền dân chủ nhân dân, nên việc củng cố là hết sức cần thiết. Đảng và Nhà nước thường xuyên tuyên truyền giáo dục cho toàn Đảng, toàn quân, nêu cao ý thức cảnh giác, củng cố niềm tin và quyết tâm kháng chiến chống Mỹ, tăng cường khả năng định hướng chính trị cho người dân. Trên cơ sở nhất trí về chí