Các lý thuyết địa lý học văn hóa, sinh thái học văn hóa và việc vận dụng trong nghiên cứu văn hóa

Tóm tắt Các lý thuyết địa lý học văn hóa và sinh thái học văn hóa được phát triển ở phương Tây trong thế kỷ XX đã làm sáng tỏ vai trò của môi trường tự nhiên đối với sự hình thành, biến đổi của văn hóa, đồng thời xác định mối quan hệ giữa văn hóa với môi trường, sự thích nghi của con người với môi trường tự nhiên, và sự định hình cảnh quan do sản xuất nông nghiệp, kỹ thuật, xây dựng của con người. Vận dụng các lý thuyết địa lý học văn hóa và sinh thái học văn hóa trong nghiên cứu văn hóa, chúng tôi nhận thức rằng, điều kiện địa lý tự nhiên và điều kiện giao lưu văn hóa là hai nhân tố hợp thành môi trường văn hóa mà trong đó, nền văn hóa của các cộng đồng người hình thành, vận động và biến đổi. Do những tác động khác nhau của hai nhân tố ấy, các nền văn hóa có thể mang tính chất tĩnh tại hay năng động, biến đổi chậm chạp hay nhanh chóng, mức độ biến đổi ít hay nhiều. Trước những tác động ấy, số phận của các nền văn hóa sẽ tuỳ thuộc vào khả năng sáng tạo và khả năng lựa chọn của các chủ thể văn hóa.

pdf8 trang | Chia sẻ: thanhle95 | Lượt xem: 734 | Lượt tải: 2download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Các lý thuyết địa lý học văn hóa, sinh thái học văn hóa và việc vận dụng trong nghiên cứu văn hóa, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
33Số 28 - Tháng 6 - 2019 VĂN HÓA ĐƯƠNG ĐẠI NGHIÊN CỨUVĂ N HÓA CÁC LÝ THUYẾT ĐỊA LÝ HỌC VĂN HÓA, SINH THÁI HỌC VĂN HÓA VÀ VIỆC VẬN DỤNG TRONG NGHIÊN CỨU VĂN HÓA LÝ TÙNG HIẾU Tóm tắt Các lý thuyết địa lý học văn hóa và sinh thái học văn hóa được phát triển ở phương Tây trong thế kỷ XX đã làm sáng tỏ vai trò của môi trường tự nhiên đối với sự hình thành, biến đổi của văn hóa, đồng thời xác định mối quan hệ giữa văn hóa với môi trường, sự thích nghi của con người với môi trường tự nhiên, và sự định hình cảnh quan do sản xuất nông nghiệp, kỹ thuật, xây dựng của con người. Vận dụng các lý thuyết địa lý học văn hóa và sinh thái học văn hóa trong nghiên cứu văn hóa, chúng tôi nhận thức rằng, điều kiện địa lý tự nhiên và điều kiện giao lưu văn hóa là hai nhân tố hợp thành môi trường văn hóa mà trong đó, nền văn hóa của các cộng đồng người hình thành, vận động và biến đổi. Do những tác động khác nhau của hai nhân tố ấy, các nền văn hóa có thể mang tính chất tĩnh tại hay năng động, biến đổi chậm chạp hay nhanh chóng, mức độ biến đổi ít hay nhiều. Trước những tác động ấy, số phận của các nền văn hóa sẽ tuỳ thuộc vào khả năng sáng tạo và khả năng lựa chọn của các chủ thể văn hóa. Từ khóa: Địa lý học văn hóa, sinh thái học văn hóa, địa lý tự nhiên, giao lưu văn hóa, môi trường văn hóa Abstract Theories of cultural geography and cultural ecology developed in the West in the twentieth century have shown the role of the natural environment for the formation and transformation of culture, the relationship between culture and the environment, the adaptation of people to the natural environment, and the forming of landscape created by agricultural production, technology and construction. Applying theories of cultural geography and cultural ecology in the study of culture, we recognizes that natural geographic conditions and cultural interchange conditions are two components of a cultural environment, in which the cultures of human communities form, move and transform. Due to the varied effects of those two factors, cultures can be static or dynamic, slow or fast changing, more or less variable. Faces these effects, the fate of those cultures will depend on the creativity and the choice of the cultural subjects. Keywords: Cultural geography, cultural ecology, natural geographic, cultural exchange, cultural environment Đặt vấn đề Các lý thuyết địa lý học văn hóa (cultural geography) và sinh thái học văn hóa (cultural ecology) được phát triển ở phương Tây trong thế kỷ XX với sự đóng góp của các nhà địa lý học như Carl Ortwin Sauer, Joël Bonnemaison và các nhà nhân học như Julian Haynes Steward Thông qua việc nghiên cứu quan hệ giữa văn hóa với môi trường, sự thích nghi của con người với môi trường tự nhiên, và sự định hình cảnh quan do sản xuất nông nghiệp, kỹ thuật, xây dựng của con người, các lý thuyết này đã làm sáng tỏ vai trò của môi trường địa lý tự nhiên đối với sự hình thành, biến đổi của văn hóa, đồng thời chỉ ra những tác động trở lại của văn hóa đối với môi trường sinh thái, từ đó đặt Số 28 - Tháng 6 - 201934 NGHIÊN CỨUVĂ N HÓA ra vấn đề trách nhiệm bảo vệ môi trường sinh thái của con người. Trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay, người nghiên cứu văn hóa Việt Nam không thể quay lưng với các lý thuyết khoa học mà giá trị đã được thừa nhận trong nghiên cứu văn hóa. Trong bài viết này, vận dụng phương pháp phân tích - tổng hợp tư liệu và phương pháp so sánh, chúng tôi tóm lược nội dung kèm theo nhận định về giá trị đóng góp của các lý thuyết địa lý học văn hóa và sinh thái học văn hóa, để từ đó chọn lọc, đúc kết những luận điểm phù hợp, có thể vận dụng vào việc nghiên cứu văn hóa. 1. Giá trị đóng góp của các lý thuyết địa lý văn hóa và sinh thái học văn hóa 1.1. Carl Ortwin Sauer với “hình thái của cảnh quan” Người được xem là có công đặt nền móng cho các lý thuyết địa lý học văn hóa và sinh thái học văn hóa là Carl Ortwin Sauer (1889 - 1975), nhà địa lý học người Mỹ đã phát triển phân ngành địa lý học văn hóa, nghiên cứu sự tạo thành các cảnh quan văn hóa từ các dạng thức xếp chồng lên trên cảnh quan tự nhiên. Bài báo “The Morphology of Landscape” (Hình thái của cảnh quan, 1925) của ông đăng trên University of California Publications in Geography 2 được xem là bài báo tiếng Anh có ảnh hưởng nhất trong việc giới thiệu những ý tưởng về các cảnh quan văn hóa. Bài báo đó trình bày cái nhìn của Sauer về quy tắc ứng xử của địa lý học, thiết lập quy tắc ứng xử dựa trên cơ sở hiện tượng học (phenomenology). Theo Sauer, “trong mỗi cảnh quan, có những hiện tượng không đơn giản có mặt ở đó nhưng có liên đới hoặc độc lập với nhau”. Do đó, theo ông, nhiệm vụ của nhà địa lý học là phát hiện mối liên kết cấp vùng giữa các hiện tượng: “Nhiệm vụ của địa lý học được quan niệm là thiết lập một hệ thống có tính cách quyết định bao gồm các hiện tượng cảnh quan, nhằm nắm bắt tất cả ý nghĩa của nó và tạo màu sắc cho quang cảnh đa dạng trên mặt đất”1. Đối với quyết định luận môi trường (environmental determinism), một lý thuyết phổ biến trong địa lý học khi Sauer bắt đầu sự nghiệp, ông có thái độ phê bình quyết liệt. Ông đề xuất một cách tiếp cận khác gọi là “hình thái của cảnh quan” (landscape morphology) hoặc “lịch sử văn hóa” (cultural history). Cách tiếp cận này liên quan đến việc thu thập quy nạp các dữ kiện thực tế về tác động của con người lên cảnh quan theo thời gian. Sauer tin rằng nông nghiệp, sự thuần hóa thực vật và động vật có ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên. Ông cũng bày tỏ mối quan tâm về cách thức mà chủ nghĩa tư bản hiện đại và các chính phủ trung ương tập quyền phá huỷ sự đa dạng văn hóa và sức khoẻ môi trường của thế giới. Lý thuyết của Carl Ortwin Sauer có ảnh hưởng ở cả Bắc Mỹ và châu Âu. Sau khi Sauer nghỉ hưu, trường phái địa lý học con người - môi trường của ông đã phát triển thành sinh thái học văn hóa (cultural ecology), sinh thái học chính trị (political ecology) và sinh thái học lịch sử (historical ecology). 1.2. Julian Haynes Steward với “phương pháp luận về tiến hóa đa tuyến” Học giả kế tiếp là Julian Haynes Steward (1902 - 1972), nhà nhân học người Mỹ đã góp phần phát triển các khái niệm và phương pháp của sinh thái học văn hóa, và lý thuyết khoa học về biến đổi văn hóa, có ảnh hưởng trong các nhà nhân học và khảo cổ học vào giữa thế kỷ XX. Steward đã đặt ra thuật ngữ, hình dung về sinh thái học văn hóa như một phương pháp luận để hiểu con người thích ứng với các môi trường đa dạng như thế nào. Trong công trình Theory of Culture Change: The Methodology of Multilinear Evolution (Lý thuyết về biến đổi văn hóa: Phương pháp luận về tiến hóa đa tuyến, 1955), ông cho rằng sinh thái học văn hóa là khoa học miêu tả những cách thức mà trong đó sự thích ứng với môi trường đã gây ra sự biến đổi văn hóa. Ông cho rằng bất kỳ sự thích nghi đặc biệt nào của con người cũng được thừa hưởng một phần từ 35Số 28 - Tháng 6 - 2019 VĂN HÓA ĐƯƠNG ĐẠI NGHIÊN CỨUVĂ N HÓA lịch sử và bao gồm các công nghệ, thực hành và kiến thức cho phép con người sống trong một môi trường nào đó. Điều này có nghĩa là trong khi môi trường ảnh hưởng đến đặc điểm thích ứng của con người, nó không tự định đoạt được chính nó. Bằng cách này, Steward đã khôn ngoan tách biệt tính cách hay thay đổi của môi trường khỏi những hoạt động bên trong của nền văn hóa chiếm chỗ môi trường ấy. Xem xét về lâu dài, điều này có nghĩa là môi trường và văn hóa nằm trên những con đường tiến hóa riêng rẽ ít nhiều, và khả năng ảnh hưởng qua lại giữa môi trường và văn hóa phụ thuộc vào cấu trúc của mỗi bên. Trong nhận thức của sinh thái học văn hóa, địa bàn sinh thái đóng một vai trò quan trọng trong việc định hình văn hóa của một vùng. Phương pháp của Steward là dẫn chứng các công nghệ và phương pháp được con người sử dụng để khai thác môi trường và kiếm sống, quan sát các mô hình hành vi/văn hóa của con người liên quan đến việc sử dụng môi trường, cuối cùng là đánh giá các mô hình hành vi ấy có ảnh hưởng như thế nào đến các khía cạnh khác của văn hóa. Chẳng hạn, ở một vùng dễ bị hạn hán, sự quan tâm lớn của cư dân đối với các mô hình lượng mưa có nghĩa là điều đó đã trở thành trung tâm của cuộc sống hàng ngày, và dẫn đến sự phát triển của một hệ thống niềm tin tôn giáo mà trong đó, lượng mưa và nước nổi bật lên. Hệ thống tín ngưỡng này có thể không xuất hiện trong một xã hội có lượng mưa tốt cho cây trồng, hoặc nơi đã được thực hiện thuỷ lợi [6]. Sự khẳng định của Steward rằng môi trường tự nhiên và sinh học ảnh hưởng đến văn hóa đã gây tranh cãi, bởi nó có hơi hướng của quyết định luận môi trường đối với hành động của con người. Tuy nhiên, trong một công trình khác là tiểu luận “Evolutionary principles and social types” (Các nguyên tắc tiến hóa và các loại hình xã hội) in trong Evolution and ecology: essays on social transformationm (Sự tiến hóa và sinh thái học: các tiểu luận về biến đổi xã hội, 1977) [7], Steward cũng thừa nhận rằng những nguồn tài nguyên có thể được tạo ra thông qua môi trường xã hội. So sánh người Shoshoni với người Indian Carrier ở British Columbia, Steward nhận thấy rằng sự du nhập việc buôn bán lông thú đã tạo ra một thặng dư vật chất đủ cho người Carrier chuyển hệ thống dòng họ đơn giản của họ thành một hệ thống xây dựng trên địa vị, được duy trì bởi tập tục potlatch (người chủ tiệc sẽ tặng quà cho khách tùy theo theo địa vị và cấp bậc trong bộ lạc), cho dù môi trường tự nhiên của họ không thay đổi [7, tr.68-86; 10, tr.299-300]. 1.3. Joël Bonnemaison với “địa lý học văn hóa mới” Góp phần quan trọng phát triển lý thuyết địa lý học văn hóa là nhà địa lý học văn hóa người Pháp Joël Bonnemaison (1940-1997). Với lập luận cho rằng các nền văn hóa đều được xây dựng và định vị trong một không gian nhất định, và có một mối quan hệ biện chứng giữa văn hóa với không gian của nó, Joël Bonnemaison đã kế thừa các quan điểm địa lý học văn hóa trước đó và góp phần xây dựng một trường phái mà ông gọi là “địa lý học văn hóa mới” (new cultural geography). Trong công trình Culture and Space: Conceiving a New Cultural Geography (Văn hóa và không gian: Sự hình thành địa lý học văn hóa mới, 2005), Joël Bonnemaison giải thích lý thuyết của mình như sau: “Thuật ngữ địa văn hóa” là mới, nhưng ý niệm về nó lại không mới. Ý niệm về địa văn hóa xuất hiện lần đầu tại Đức, nơi các nhà địa lý học ít “tự nhiên chủ nghĩa” hơn ở Pháp. Vào thế kỷ XIX, Friedrich Ratzel đã đề cập đến địa lý nhân học, sau đó quan niệm về địa văn hóa đến Pháp thông qua ảnh hưởng của nhân học Mỹ với những đóng góp quan trọng về địa văn hóa của Carl Sauer - một học trò của Ratzel và là người sáng lập trường phái Berkeley. Đối với Pháp, đây là một sự trở lại hơn là một sự xuất hiện mới. Với sự nhấn mạnh đến tầm quan trọng của văn hóa, các nhà địa lý học nổi tiếng của Pháp ở Quebec đã có ảnh hưởng lớn đến Số 28 - Tháng 6 - 201936 NGHIÊN CỨUVĂ N HÓA sự phục hưng của cách tiếp cận địa văn hóa vào những năm 1980. Sự trở lại của cách tiếp cận địa văn hóa gắn với trường phái địa lý học của Pháp qua cách tiếp cận khá đặc trưng của trường phái này đối với địa văn hóa. Có thể nêu một số dữ kiện nhằm làm sáng tỏ sự tái khám phá này: “Sự phục hưng của địa văn hóa gắn liền với sự mở rộng của thuật ngữ “văn hóa”. Ở thế hệ của tôi người ta thường nói rằng “mọi thứ đều là chính trị”; còn bây giờ thì “mọi thứ đều là văn hóa”. Có thể thấy rằng nói về văn hóa đang như một cái mốt (fashion). Hiện nay chúng ta thường hay nói về văn hóa công ty, văn hóa đảng phái chính trị, v.v. Mỗi hoạt động, từng nhóm người đều có văn hóa của riêng họ. Thậm chí chúng ta thấy có cả Bộ Văn hóa trong Chính phủ Pháp. Cùng với địa lý học, văn hóa xâm nhập vào hầu hết các lĩnh vực khoa học xã hội. Thực tế là trước đây các nhà khoa học xã hội thường xác định những nhân tố thuộc về văn hóa là những nhân tố có tính định tính, không thể định lượng và kiểu xác định này làm hạn chế ít nhiều đến việc nghiên cứu thấu đáo nhiều sự vật, hiện tượng. Ba chiều kích của không gian cảnh quan trong địa văn hóa gồm: - Lãnh thổ: Liên quan đến các cột mốc và đường biên giới lãnh thổ; đến cơ cấu chính trị với những vùng trọng điểm, trung tâm và vùng ngoại vi. - Môi trường địa lý: Một cấu trúc địa lý và sinh thái - đất trồng, thực vật, nước, khí hậu, mật độ dân cư, hệ thống thông tin liên lạc. Con người hoàn toàn phụ thuộc vào hệ thống sinh thái này bởi vì toàn bộ môi trường địa lý được nhân hóa thành một quy mô nhỏ hơn hoặc lớn hơn. - Biểu tượng địa lý: Cấu trúc biểu trưng một môi trường địa lý và ý nghĩa của nó. Khái niệm này tương tự như khái niệm “médiance” đã từng được Augustin Berque đưa ra từ năm 1990 để chỉ những tác động và những giá trị con người đem lại cho cảnh quan. Những biểu tượng địa lý có ý nghĩa đều liên quan đến đạo đức học và siêu hình học. Chúng đại diện cho giá trị tinh thần của xứ sở mà chúng ta gọi là linh hồn của xứ sở” [5]. Theo Bonnemaison, các nền văn hóa đều được xây dựng và định vị trong một không gian tương ứng, do đó các hệ thống văn hóa đều bao hàm yếu tố không gian. Trong công trình La géographie culturelle (Địa lý học văn hóa, 2004), ông cho rằng hệ thống văn hóa bao gồm bốn yếu tố, được xem là bốn cực hay bốn trụ cột: - Di sản kiến thức: Văn hóa trước hết là di sản kiến thức. Đó là sự hiểu biết về thế giới, làm cho văn hóa mang tính “khoa học”. Bên cạnh khoa học phương Tây có tính phổ quát, còn có các “khoa học” trong mỗi nền văn minh khác nhau, ở mỗi tộc người ngoại lai, gọi là các khoa học tộc người (ethnosciences) ngoài phương Tây, được coi là các khoa học hoặc kiến thức tiền hiện đại. Ngày nay, văn hóa bản địa được đánh giá cao, không bị coi là thấp kém như đầu những năm 1950... - Di sản kỹ thuật: Gồm các kỹ năng và công cụ. Theo cách nói của nhà địa lý người Pháp Vidal de la Blache (1845 - 1918), đó là các lối sống, dựa vào các kỹ thuật cơ bản, đáp ứng các nhu cầu đầu tiên của đời sống để sinh tồn, để phân biệt con người với loài vật. Đó còn là nghệ thuật sống, một lý lẽ để sống. - Tín ngưỡng: Kiến thức và kỹ thuật ngoài phương Tây còn dựa trên tín ngưỡng tôn giáo, thể hiện một cách nhìn về thế giới, thường được coi là tầng cao của văn hóa, biểu hiện mối liên hệ cơ bản giữa các giá trị và kỹ thuật. - Không gian: Các nền văn hóa được xây dựng và định vị trong một không gian. Fernand Braudel (1902 - 1985), nhà sử học người Pháp nổi tiếng với Lý thuyết hệ thống kinh tế - xã hội trên phạm vi thế giới, cũng cho rằng văn hóa có một chỗ dựa địa lý. Khác với quyết định luận địa lý, nó có quan hệ biện chứng giữa môi trường và văn hóa [4; 9, tr.51-54]. 37Số 28 - Tháng 6 - 2019 VĂN HÓA ĐƯƠNG ĐẠI NGHIÊN CỨUVĂ N HÓA 2. Vận dụng các lý thuyết địa lý văn hóa học và sinh thái học văn hóa 2.1. Xác định các tác nhân của môi trường làm hình thành và biến đổi văn hóa Các lý thuyết địa lý học văn hóa và sinh thái học văn hóa nhằm nghiên cứu quan hệ giữa văn hóa với môi trường, sự thích nghi của con người với môi trường tự nhiên, và sự định hình cảnh quan do sản xuất nông nghiệp, kỹ thuật, xây dựng của con người, có giá trị đóng góp rất quan trọng trong việc nghiên cứu văn hóa, đặc biệt là nghiên cứu các vùng văn hóa và phân vùng văn hóa. Như một nhận định của Trần Ngọc Khánh: “Môi trường tự nhiên và môi trường nhân văn không cách ly lẫn nhau, mà tạo nên môi trường văn hóa và môi trường địa lý. Sự phân chia các nền văn hóa trong không gian tạo nên các vùng văn hóa. Vùng văn hóa được định nghĩa là một không gian tương đối đồng nhất, trong đó có kết hợp một số đặc trưng văn hóa chủ đạo. Các vùng văn hóa không khép kín, mà có thể tiếp nhận, trao đổi các đặc trưng văn hóa với nhau. Có thể hình dung ba cấp độ cấu thành một hệ thống văn hóa là: vùng văn hóa, không gian sinh sống và không gian văn hóa” [8]. Vận dụng các lý thuyết địa lý học văn hóa và sinh thái học văn hóa vào việc nghiên cứu văn hóa, chúng ta có thể thấy rằng, sự hình thành và biến đổi của văn hóa các tộc người và văn hóa các vùng miền trước hết bắt nguồn từ hai tác nhân then chốt: điều kiện địa lý tự nhiên và điều kiện giao lưu văn hóa. 1) Điều kiện địa lý tự nhiên (physical geography): Bao gồm phạm vi không gian, địa hình, thổ nhưỡng, khí hậu, thuỷ văn, sinh thái, tài nguyên, những biến đổi của môi trường, v.v. của vùng cư trú. Các điều kiện địa lý tự nhiên ấy cung cấp nguyên liệu, nhiên liệu, phương tiện mà các tộc người có thể thích nghi, tận dụng để sinh tồn và phát triển, đồng thời đặt ra những hiểm họa, thách thức mà các tộc người phải tìm cách ứng phó và chế ngự. Cách thức thích nghi, tận dụng, ứng phó, chế ngự môi trường tự nhiên của con người, của các tộc người, chính là văn hóa. Vì vậy, điều kiện địa lý tự nhiên vừa là nguyên liệu vừa là tác nhân làm hình thành văn hóa. Và những yếu tố tự nhiên của một vùng đất là nguyên liệu và tác nhân làm hình thành văn hóa của một tộc người sẽ hợp thành không gian văn hóa (cultural space) của tộc người đó, góp phần làm hình thành đặc trưng của văn hóa tộc người và văn hóa vùng. Như vậy, theo quan điểm của địa lý học văn hóa, có một sự khác biệt nhất định giữa điều kiện địa lý tự nhiên là nguyên liệu và tác nhân khách quan với không gian văn hóa là sản phẩm nhân hóa giới tự nhiên của con người. “Đối với các nhà địa lý với tư duy thực nghiệm ở Mỹ, văn hóa bao gồm các thứ không thuộc về tự nhiên. Họ phân biệt văn hóa là cái nhìn thấy được trong cảnh quan địa lý, do con người tạo lập nên và có khả năng làm thay đổi môi trường tự nhiên. Đó là cảnh quan được nhân hóa” [8].Theo quan điểm ấy, con người cần phải dựa vào các nguồn nguyên liệu, nhiên liệu, phương tiện của giới tự nhiên để làm ra văn hóa. Tuy nhiên, cách thức tận dụng, thích nghi, ứng phó, chế ngự môi trường tự nhiên trước hết phụ thuộc vào kinh nghiệm, tri thức, kỹ thuật cũng như nhu cầu, lợi ích, mục đích của con người. Với tư duy phát triển và tính xã hội cao, con người không phản ứng một cách đồng loạt giống như nhau trước những tác nhân của môi trường tự nhiên, như các loài động vật. Ngược lại, con người có khả năng lựa chọn và thường xuyên lựa chọn những cách thức phản ứng phù hợp với kinh nghiệm, tri thức, kỹ thuật cũng như nhu cầu, lợi ích, mục đích của mình. Do đó, mặc dù không gian văn hóa của một vùng văn hóa thường có điều kiện địa lý tự nhiên tương đối đồng nhất, nhưng những tộc người cư trú trên đó có thể tạo ra những không gian văn hóa riêng, khác biệt với nhau, vì họ chỉ chú trọng khai thác một số yếu tố tự nhiên nào đó chứ không phải là toàn bộ điều kiện địa lý tự nhiên tiềm tàng của vùng văn hóa. Nói cách khác, không phải tất cả yếu Số 28 - Tháng 6 - 201938 NGHIÊN CỨUVĂ N HÓA tố của địa lý tự nhiên trong một không gian nào đó mà chỉ những yếu tố của tự nhiên đã được một cộng đồng người nhận thức, thích nghi, định danh, khai thác, cải biến hay huỷ hoại, mới hợp thành không gian văn hóa của họ. 2) Điều kiện giao lưu văn hóa (cultural interchange): Bao gồm những yếu tố của điều kiện địa lý tự nhiên như vị trí địa lý, địa hình của vùng cư trú, tạo thuận lợi hay gây khó khăn cho việc giao lưu văn hóa. Những vùng đất có điều kiện địa lý tự nhiên thoáng mở như vị trí tiếp giáp các tuyến đường giao thương, địa hình thảo nguyên hoặc đồng bằng châu thổ không bị biển rộng núi cao chia cắt, cơ hội giao lưu văn hóa nội vùng và giao lưu văn hóa với bên ngoài sẽ gia tăng. Ngược lại, những vùng đất có điều kiện địa lý tự nhiên biệt lập như vị trí địa lý tách biệt khỏi các tuyến đường gia