Chuyên đề Cao học phân tầng xã hội và nghèo khổ

Chuyên đề được thiết kế nhằm cung cấp cho học viên những kiến thức cơ bản:  Những khái niệm cơ bản về phân tầng xã hội.  Kiến thức về các kiểu cấu trúc phân tầng xã hội.  Các cách giải thích về phân tầng xã hội.  Các phương pháp đo lường phân tầng xã hội.  Phân tầng xã hội ở Việt Nam.  Các khái niệm cơ bản về nghèo khổ  Chính sách xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam  Nghèo khổ đô thị ở Việt Nam

pdf130 trang | Chia sẻ: tranhoai21 | Lượt xem: 1449 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Chuyên đề Cao học phân tầng xã hội và nghèo khổ, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM CHUYÊN ĐỀ CAO HỌC PHÂN TẦNG XÃ HỘI VÀ NGHÈO KHỔ Người biên soạn: Nguyễn Hữu Minh HÀ NỘI 2006 2 GIỚI THIỆU VỀ MÔN HỌC 1. Số đơn vị học trình: 2 đvht = 30 tiết 2. Phân bổ thời gian: - Trình bày: 25 tiết - Thảo luận: 5 tiết 3. Mục tiêu môn học: Chuyên đề được thiết kế nhằm cung cấp cho học viên những kiến thức cơ bản:  Những khái niệm cơ bản về phân tầng xã hội.  Kiến thức về các kiểu cấu trúc phân tầng xã hội.  Các cách giải thích về phân tầng xã hội.  Các phương pháp đo lường phân tầng xã hội.  Phân tầng xã hội ở Việt Nam.  Các khái niệm cơ bản về nghèo khổ  Chính sách xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam  Nghèo khổ đô thị ở Việt Nam 4. Hình thức đánh giá kết quả: - Bài đọc và thảo luận trên lớp: 40% tổng điểm - Tiểu luận: 60% tổng điểm 3 MỤC LỤC Nội dung Trang GIỚI THIỆU VỀ MÔN HỌC 2 MỤC LỤC 3 Bài 1 Khái niệm cơ bản về phân tầng xã hội 4 Bài 2 Đo lường phân tầng xã hội 25 Bài 3 Phân tầng xã hội ở Việt Nam 33 Bài 4 Đo lường nghèo khổ và tiêu chí nhận diện nghèo khổ ở Việt Nam 45 Bài 5 Nghèo khổ đô thị ở Việt Nam 70 Bài 6 Chương trình xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam và những thách thức trong giai đoạn mới 98 Thảo luận 117 TÀI LIỆU THAM KHẢO 118 4 Bài 1 KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ PHÂN TẦNG XÃ HỘI Thời lượng: 5 tiết I. Một số khái niệm cơ bản về phân tầng xã hội 1. Cách tiếp cận của Mác và Weber về phân tầng xã hội a) Quan niệm Mác Xít:  Giai cấp (class) được quyết định hoàn toàn bởi mối quan hệ của cá nhân với phương thức sản xuất.  Mối quan hệ với phương thức sản xuất có liên hệ với nghề nghiệp nhưng không hoàn toàn như nhau.  Yếu tố chủ chốt ở đây không phải là thu nhập hay nghề nghiệp mà liệu cá nhân có kiểm soát công cụ hay phương thức sản xuất của họ hay không, có nghĩa là có kiểm soát cơ hội cuộc sống của họ hay không.  Các giai cấp khác nhau là do địa vị kinh tế của chúng trong xã hội khác nhau. Địa vị ấy không phải được hiểu một cách giản đơn là “người tổ chức” và “người chấp hành” mà bao gồm hàng loạt các mối quan hệ xã hội giữa người và người trong sản xuất.  Điều có ý nghĩa quyết định tạo nên việc phân biệt giai cấp là mối quan hệ của các tập đoàn người đối với tư liệu sản xuất. Giai cấp nào nắm các điều kiện vật chất, các phương tiện vật chất, giai cấp ấy sẽ chi phối toàn bộ quá trình sản xuất dưới hình thức này hay hình thức khác. 5  Giai cấp không chỉ là một phạm trù kinh tế mà là một phạm trù xã hội học. Ngoài những sự khác biệt về vật chất, các giai cấp còn khác nhau về lối sống, về tâm lý và tư tưởng. Những yếu tố tinh thần này là yếu tố thứ hai, chúng được sinh ra từ cơ sở kinh tế và phụ thuộc vào yếu tố kinh tế. b) Quan niệm của Weber (nhà xã hội học Đức):  Không phản đối việc phân chia giai cấp từ góc độ kinh tế. Tuy nhiên, ông cho rằng việc phân chia nhấn mạnh đến khía cạnh kinh tế là chưa đầy đủ để nhận diện xã hội.  Mặc dù vị thế (status) hay uy tín (prestige) về mặt xã hội và quyền lực (power) thường thay đổi theo địa vị kinh tế, chúng cũng có thể có vị trí riêng và có tác động độc lập đến sự bất bình đẳng xã hội. Đặc biệt, uy tín xã hội (prestige) thường đối lập với quyền lực kinh tế.  Thay vào hệ thống phân tầng một chiều cạnh của Mác (chỉ chia ra hai giai cấp) Weber đề xuất 3 chiều cạnh độc lập (mặc dù có liên quan với nhau) cần phân tích, dựa vào đó con người có thể được xếp loại trong một hệ thống phân tầng (xem hình vẽ dưới đây). Hình vẽ: (trích theo hình 9.1, trang 220, Brinkerhoff và đồng nghiệp 1997) Giai cấp Mối quan hệ với PTSX Vị thế Danh dự XH hay Giai cấp xã hội 6  Hệ thống phân tầng có 3 khía cạnh.  Giai cấp (class) nói về vị trí của một người trong hệ thống kinh tế của xã hội, dẫn đến những khác biệt về công việc, thu nhập, và tài sản.  Vị thế (status) nói về mối quan hệ của một cá nhân với những địa vị xã hội được thiết lập trong xã hội mà những địa vị này thay đổi theo nghĩa uy tín (prestige). Các vị thế thường khác nhau tùy thuộc vào nghề nghiệp hoặc hoàn cảnh gia đình xuất thân.  Quyền lực (power) nói về quan hệ của một cá nhân với các thiết chế chính quyền hoặc các thiết chế chính trị khác. Quyền lực thường được thể hiện ở khả năng của cá nhân huy động các nguồn lực và đạt được các mục tiêu.  Giai cấp, vị thế, và quyền lực thường đi cùng với nhau và hỗ trợ lẫn nhau, nhưng không nhất thiết luôn trùng hợp với nhau.  Như vậy thay vì nói về giai cấp, các nhà nghiên cứu theo quan điểm Weber nói về giai cấp xã hội. Một giai cấp xã hội là một nhóm người mà có chung giai cấp, vị thế, và quyền lực, và họ có chung một sự nhận diện để phân biệt mình với người khác. Khi chúng ta nói về một Quyền lực Khả năng ảnh hưởng hành động 7 giai cấp thượng lưu hay trung lưu chính là chúng ta nói về giai cấp xã hội theo ý nghĩa này.  Con người giống với người khác trong cùng giai cấp xã hội nhưng khác biệt về những đặc điểm quan trọng đối với những người thuộc giai cấp xã hội khác.  Giai cấp xã hội bao gồm sự liên kết lẫn nhau năng động giữa 3 yếu tố là địa vị chính trị (quyền lực), địa vị xã hội (vị thế), và địa vị kinh tế (của cải, tài sản).  Mỗi thứ bậc địa vị chính trị, xã hội, và kinh tế có hệ thống đẳng cấp riêng của nó, song chúng có quan hệ tác động mật thiết với nhau. Tuy nhiên mỗi loại thứ bậc trật tự đó có một lối phân phối quyền năng riêng biệt.  Địa vị kinh tế không chỉ dựa trên quyền sở hữu về kinh tế, những điều kiện sinh hoạt bên ngoài mà còn cả mặt năng lực của họ về kinh tế trên thị trường. Weber hướng trọng tâm vào năng lực trên thị trường và cho rằng nguyên nhân đầu tiên của sự bất bình đẳng trong chủ nghĩa tư bản là khả năng thị trường, bao gồm những kỹ năng mà người làm thuê mang ra thị trường lao động để bán và những cơ may mà người ta có thể có được do thị trường mang lại.  Địa vị xã hội dựa trên cơ sở “danh dự về mặt xã hội”, hay nói cách khác nó dựa vào sự đánh giá được mọi người công nhận trong một tập thể nhất định. Có thể dễ dàng phân biệt địa vị xã hội theo lối sống của họ, cụ thể dựa vào tập tục, những thói quen của xã hội, giáo dục, và uy tín mà nguồn gốc gia đình và nghề nghiệp đem lại. Khi địa vị xã hội được củng cố người ta có thể đảm bảo cho mình quyền lực về mặt kinh tế và cũng có thể được biểu hiện bằng cách cư xử về mặt kinh tế như lối ăn tiêu phung phí, lối sinh hoạt giao tiếp, v.v. 8  Trên lĩnh vực chính trị, quyền lực được thể hiện trong các “chính đảng” và quyền lực chính trị thường được thể chế hóa. Các chính đảng có thể đại diện cho những quyền lợi do vị trí của họ trong xã hội. Tuy nhiên đây là vấn đề không được nhiều nhà nghiên cứu đồng tình vì những người trong các đảng phái khác nhau không phải ai cũng có địa vị xã hội tương ứng khác nhau mà chỉ có địa vị xã hội cao thấp khác nhau trong nội bộ từng đảng là đáng kể. 2. Giai cấp: Nghề nghiệp, thu nhập, và tài sản a) Nghề nghiệp hay công việc được trả lương là một yếu tố chủ chốt vì đó là nguồn thu nhập và tài sản quan trọng trong các xã hội hiện đại.  Nhiều cách phân loại khác nhau để nhóm gộp những hình thức nghề nghiệp đa dạng.  Trong các xã hội phát triển có 3 cách phân loại phổ biến. Các việc làm được phân loại như là công nhân cổ cồn xanh nếu chúng được dựa chủ yếu trên cơ sở của lao động chân tay (chẳng hạn công nhân nhà máy, lái xe tải, công nhân mỏ). Gọi là cổ cồn trắng nếu các công việc chủ yếu đòi hỏi những kỹ năng trí tuệ (chẳng hạn các nhà chuyên môn như bác sĩ, luật sư, hay nhà quản lý). Gần đây hơn, thuật ngữ cổ cồn hồng được sử dụng để đặc trưng cho những việc làm chủ yếu sử dụng phụ nữ trong các công việc không phải lao động chân tay bán kỹ năng (nonmanual semiskilled) (chẳng hạn như thư ký, nhân viên, đánh máy). (Appelbaum và Chambliss 1995) b) Thu nhập là tổng số tiền mà một người hoặc một hộ gia đình kiếm được trong một khoảng thời gian cho trước (thường là năm). 9 c) Tài sản là giá trị của mọi thứ thuộc quyền sở hữu của một người.  Là chỉ báo chủ yếu của sự phân tầng thực sự về mặt kinh tế.  Một cách đo lường tài sản là giá trị tài sản thuần túy (net financial assets) tức là giá trị của mọi thứ mà một người có (trừ nhà cửa và xe) trừ đi giá trị của mọi thứ mà người đó nợ. Thông thường với những người giàu nhất có thu nhập cao, phần lớn tài sản mà họ có được không phải là từ thu nhập mà từ các tài sản tài chính như nhà cho thuê, cổ phiếu, trái phiếu, và các hình thức đầu tư khác.  Những khác biệt về tài sản thường có thể xuất hiện dưới hình thức những khác biệt về đặc quyền, đặc lợi và tác động đến cơ hội cuộc sống của cá nhân như thu nhập bằng tiền. Các quan chức chính phủ, sĩ quan cao cấp không có thu nhập bằng lương cao như các giám đốc kinh doanh tư nhân nhưng có những đặc quyền có thể chuyển thành tài sản. Nói chung, sự tăng lên về tài sản phần lớn được coi là bắt nguồn từ việc đạt được quyền lực, nghề nghiệp, và học vấn cao hơn. 3. Vị thế xã hội a) Vị thế xã hội phản ánh mức độ uy tín và sự kính trọng từ người khác. Cơ sở cho sự kính trọng đó tuỳ thuộc vào phẩm chất cá nhân được người khác coi là quan trọng trong xã hội. b) Nghề nghiệp là một trong những chỉ báo quan trọng nhất của vị thế vì nó thể hiện cách thức chủ yếu để có quyền lực và tài sản. Học vấn cũng là một chỉ báo quan trọng của vị thế xã hội vì nó thể hiện cách 10 thức chủ yếu để tham gia vào các nghề nghiệp có giá trị nhất và có được những bậc thang xã hội cao. c) Các nhà xã hội học Mỹ Blau, Duncan (1967) và Treiman (1977) là những người đi tiên phong trên lĩnh vực nghiên cứu phân loại nghề nghiệp theo vị thế hay uy tín xã hội của chúng căn cứ vào dư luận xã hội. Những nghiên cứu của họ cho thấy rằng những việc làm cổ cồn trắng thường có uy tín cao hơn các việc làm cổ cồn xanh. Nói chung, những công việc liên quan đến ý tưởng hay con người thì có uy tín cao hơn những nghề nghiệp làm việc bằng tay hoặc liên quan đến các đối tượng vật chất (Treiman 1977). 4. Quyền lực a) Quyền lực là khả năng ảnh hửơng hay kiểm soát hành vi của người khác mà không có sự ưng thuận của họ. Để phân tích phân tầng xã hội, các loại quyền lực quan trọng nhất là quyền lực tự nhiên (referent) hay là “ảnh hưởng”, và quyền lực hợp pháp hay là “quyền uy”. Theo Ăngghen, quyền uy là ý chí của người khác buộc ta phải tiếp thu; quyền uy lấy sự phục tùng làm tiền đề. Những nhân tố này quyết định bằng cách nào các quyết định được ban hành và ai ban hành. b) Việc phân tích về quyền lực cho ta thấy một bức tranh ở dạng hình tháp như đối với hệ thống phân tầng ở hầu hết các xã hội. Trên đỉnh tháp là một số ít ỏi các nhân vật chính trị hay quân sự, các nhà kinh doanh, và những người lãnh đạo khác. Khi chúng ta đi dần xuống đáy tháp ta sẽ gặp những con người với quyền lực ít hơn. 11 c) Có nhiều tranh luận về bản chất của quyền lực. Một lý thuyết về quyền lực gọi là phân bố ngang nhau hay là đa quyền (pluralism) cho rằng quyền lực được phân bố trong các nhóm khác nhau, đấu tranh với nhau trên cơ sở bình đẳng quan hệ (Dahl 1961). Theo quan điểm này, quyền lực của một công ty kinh doanh lớn là ngang với quyền lực của các liên đoàn lao động lớn, các nhóm người tiêu dùng, hay các tổ chức bảo vệ môi trường. Các cá nhân thể hiện quyền lực của mình thông qua các tổ chức, và các tổ chức cung cấp một hệ thống kiểm soát và cân bằng với nhau. d) Lý thuyết thứ hai, gọi là thuyết giai cấp thống trị (class dominance), cho rằng quyền lực tập trung trong tay của một số ít cá nhân thuộc tầng lớp thượng lưu quyền lực (Miills 1956; Domhoff 1990). Những cá nhân quyền lực này biết rõ nhau, thuộc về cùng tổ chức, và thay phiên nhau giữ các vị trí cao nhất trong chính quyền, hoạt động kinh doanh, và quân sự. Trong khi những người bình thường cho rằng họ có thể tác động đến chính quyền thông qua bầu cử, kiện, viết thư cho các đại biểu quốc hội, thì những người theo quan điểm này cho rằng quyền lực thực sự nằm đằng sau hậu trường, trong số những nhân vật thượng lưu. Nhà xã hội học G. William Domhoff (1993) cho rằng ít hơn 1% người Mỹ hình thành nên một “giai cấp quyền lực”, sở hữu từ 25 đến 30% các tài sản cá nhân, điều hành các tập đoàn và các quỹ lớn, và thống trị chính quyền trung ương. e) Lý thuyết thứ ba, gọi là cấu trúc luận (structuralism), cho rằng chính các cá nhân phần lớn bị giam cầm bởi những vai trò của họ trong tổ chức, cho dù họ ở đáy hay ở đỉnh tháp quyền lực của tổ chức. Chẳng hạn, mặc dù người công nhân nhà máy có thể dường như là không có quyền lực chống lại những người quản lý có quyền thuê và 12 sa thải họ, bản thân những nhà quản lý cũng có ít sự lựa chọn vì họ sẽ mất việc nếu họ không đưa lại lợi nhuận. f) Theo quan niệm Mác xít, quyền lực có quan hệ chặt chẽ với giai cấp. Trong xã hội có đối kháng giai cấp, giai cấp nào nắm được hầu hết tư liệu sản xuất trong tay sẽ là giai cấp nắm toàn bộ quyền lực cơ bản trong xã hội, từ quyền lực chính trị đến quyền lực tư tưởng và tinh thần. 5. Lối sống a) Quyền lực, vị thế xã hội, và tài sản là chỉ báo quan trọng của giai cấp xã hội. Tuy nhiên, việc một cá nhân có được nhìn nhận bởi người khác là cùng thuộc vào một giai cấp xã hội hay không còn tuỳ thuộc người đó có thể hiện cùng một lối sống hay không. Cá nhân đó cần phải thể hiện ở một chừng mực nào đó là anh ta thực hành cùng một văn hóa: lời ăn tiếng nói, thói quen giải trí, mua sắm. Những đặc trưng này xét như một tổng thể tác động ở một mức độ đáng kể về việc chúng ta nhìn nhận mình như thế nào trong cộng đồng và xã hội, những người mà chúng ta chọn làm bạn là ai, và bằng cách nào chúng ta liên hệ với người khác. b) Lối sống đề cập đến định hướng giá trị nói chung, thị hiếu và sự ưa thích của những người thuộc một nhóm nhất định hay giai cấp xã hội. II. Các cách giải thích về sự phân tầng xã hội 13 Có hai cách giải thích cơ bản về hiện tượng phân tầng xã hội trên thế giới. Những nhà lý thuyết theo trường phái chức năng nhấn mạnh đến cách thức mà sự phân tầng đã tăng cường sức mạnh cho xã hội như một tổng thể với lập luận rằng tất cả các thành viên rốt cuộc đều sẽ có lợi từ sự bất bình đẳng ở một mức độ nào đó. Ngược lại, những người theo thuyết xung đột xã hội cho rằng việc xem xét xã hội như một tổng thể là không chính xác vì sự phân tầng dẫn đến xung đột giữa những người có được lợi ích từ sự mất mát của người khác. Ngoài ra có những cách giải thích PTXH dựa trên cơ sở của việc kết hợp luận điểm của hai cách giải thích trên. 1. Cách giải thích theo thuyết cấu trúc-chức năng a) Lý thuyết cấu trúc-chức năng về sự phân tầng bắt đầu với câu hỏi: bằng cách nào cấu trúc xã hội đóng góp vào việc duy trì xã hội? Xuất phát điểm của thuyết chức năng có thể tìm thấy trong nhiều tác phẩm của Emile Durkheim (1858-1917) người đã lập luận rằng có thể hiểu các giai cấp xã hội thông qua những chức năng khác nhau mà chúng thực hiện trong xã hội như một tổng thể. Theo ý nghĩa này có thể quan niệm các giai cấp xã hội như là những bộ phận khác nhau trong cơ thể con người (Durkheim 1964; nguyên bản 1893). b) Dựa theo lý thuyết của Durkheim, hơn một nửa thế kỷ trước Kingsley Davis và Wilbert Moore (1945) đề xuất lý thuyết chức năng về sự bất bình đẳng mà cho đến hôm nay vẫn còn ảnh hưởng lớn trong nhiều nhà nghiên cứu xã hội học ở phương Tây. Davis và Moore cho rằng sự bất bình đẳng phục vụ như một cơ chế vô thức (unconscious) giúp bảo đảm rằng những vị trí quan trọng nhất sẽ do những người đủ tiêu chuẩn nhất nắm giữ. Chính vì vậy mà phân tầng ở một mức độ nào đó 14 có thể coi là cần thiết để xã hội tồn tại. Davis và Moore đánh giá rằng trong tất cả các xã hội đều có một số vai trò quan trọng hơn những vai trò khác, và những vai trò này cần phải do những người hội đủ tiêu chuẩn nắm giữ để đảm bảo sự vận hành thông suốt của xã hội. Cơ chế vô thức đó, chẳng hạn như thù lao không bằng nhau cho các công việc, vì thế phải có để bảo đảm rằng những người thông minh nhất và tốt nhất chiếm giữ những vai trò quan trọng nhất. c) Có thể coi đây là một cách lập luận theo kiểu cung-cầu, nhìn bất bình đẳng như một sự trả lời hợp lý cho vấn đề xã hội. Quan điểm lý thuyết này đôi khi được gọi là lý thuyết đồng thuận vì nó gợi ý rằng sự bất bình đẳng là kết quả của sự thoả thuận xã hội về tầm quan trọng của các địa vị xã hội và sự cần thiết phải trả cho các địa vị xã hội này (Brinkerhoff và đồng nghiệp 1997). d) Lý thuyết Davis- Moore có những hàm ý quan trọng cho chính sách công cộng. Theo lý thuyết này, mọi người trở nên giàu lên hay nghèo đi chủ yếu là vì tài năng và sự nỗ lực của họ, cho nên có ít lý do để các chương trình của chính phủ phải nhằm vào việc giảm bớt sự bất bình đẳng bằng cách phân phối lại thu nhập từ người giàu sang người nghèo. Thậm chí, những chương trình như vậy có thể coi như là phản tác dụng, bởi vì chúng không khuyến khích những người đóng góp nhiều nhất cho xã hội (bằng cách đánh thuế thu nhập của họ) để thù lao cho những người ít xứng đáng hơn (thông qua phúc lợi xã hội và chương trình xóa nghèo khổ). e) Về cơ bản quan điểm này coi phân tầng không chỉ là cần thiết mà còn làm lợi cho xã hội vì nó sử dụng hệ thống ban thưởng làm động lực thúc đẩy mọi người đạt được những kỹ năng cần thiết nhằm có được các vị trí có giá trị nhất trong xã hội. Davis và Moore lập luận rằng vì 15 không phải tất cả mọi người có cùng năng lực, và một số vị trí xã hội đòi hỏi những kỹ năng nhất định nên bất bình đẳng xã hội là không tránh khỏi. f) Các nhà cấu trúc-chức năng cho rằng sự cùng tồn tại người giàu – người nghèo là bảo đảm cho xã hội vận hành theo chức năng. Xã hội bị thống trị bởi những người tài năng nhất, vì vậy họ xứng đáng có được những ban thưởng về mặt xã hội. Trái lại, người nghèo thiếu tài năng. Tuy nhiên sự tồn tại của họ sẽ làm lợi một số khu vực của xã hội theo cách “chức năng”. Chẳng hạn, sự tồn tại của nghèo khổ tạo nên nhu cầu hình thành một số nghề nghiệp nhất định như ngươi làm công tác xã hội, chăm sóc y tế, v.v. Người nghèo cũng tạo nên các thị trừơng cho các loại hàng hóa khác nhau và dịch vụ. g) Một thiếu sót rõ ràng của quan điểm cấu trúc-chức năng là nó lờ đi sự bất bình đẳng hiện tồn và các cơ hội khác nhau gắn với con người ngay từ khi họ sinh ra. Những địa vị gán trước từ khi sinh ra sẽ ngăn cản một cách vô hình khả năng của một số nhóm nhất định. Nhiều người thường bị trả ít thù lao chỉ bởi vì màu da, giới tính, và những đặc trưng vốn sinh ra đã có do định kiến xã hội đang tồn tại, không hề có liên quan gì đến tài năng hay động cơ của họ. Điều này dẫn đến một sự lãng phí to lớn về tài năng của con người trong xã hội và vì thế làm rối loạn chức năng của xã hội xét như một tổng thể. Thêm vào đó, khi con người đạt được những vị trí có vị thế cao, quan trọng về mặt xã hội do kỹ năng và nỗ lực của họ, họ có thể chuyển sự giàu có và vị thế cho con cái họ, thậm chí khi con cái họ không hội đủ các tiêu chuẩn. Vì thế, sự bất bình đẳng trong xã hội sẽ tăng lên, dẫn đến sự không phù hợp tăng lên giữa tài năng con người và vị trí mà họ chiếm giữ, tạo nên sự giận dữ và chống đối trong những người mà họ cảm 16 thấy họ không được thù lao tương xứng. Một lần nữa, hậu quả sẽ là sự rối loạn chức năng đối với toàn xã hội. h) Lý thuyết Davis-Moore còn bị phê phán từ nhiều khía cạnh khác (Tumin 1985; Wrong 1959). Mặc dù phần lớn mọi người đều đồng ý rằng một số vị trí là quan trọng hơn những vị trí khác trong xã hội, liệu có bảo đảm rằng sự khác biệt thực tế trong thù lao giữa các vị trí được đo lường chính xác tương ứng với sự đóng góp của họ? Chẳng hạn, nếu chúng ta lấy sự khác biệt về thu nhập như là một tiêu chuẩn, các giáo sư ở các trường đại học có thu nhập gấp khoảng
Tài liệu liên quan