Đề cương ôn thi tốt nghiệp - Môn học: Kinh tế tri thức và sở hữu trí tuệ

.Trình bày khái niệm về Kinh tế tri thức, những đặc điểm cơ bản của Kinh tế tri thức. • Khái niệm Kinh tế tri thức : Khái niệm kinh tế tri thức ra đời từ năm 1995 do Tổ chức OPCD nêu ra "Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó sự sản sinh, truyền bá và sử dụng tri thức trở thành yếu tố quyết định nhất đối với sự phát triển kinh tế, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống". Sau đó, năm 2003 chương trình "Tri thức vì sự phát triển" đã đưa ra một khái niệm rộng hơn: "Là nền kinh tế sử dụng một cách hiệu quả tri thức cho sự phát triển KT-XH. Điều này bao gồm việc chuyển giao, cải tiến công nghệ nước ngoài cũng như sự thích hợp hoá và sáng tạo hoá các tri thức cho những nhu cầu riêng biệt". Theo Giáo sư, Viện sĩ Đặng Hữu - Trưởng ban Công nghệ thông tin thì "Kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó sự sản sinh ra, phổ cập và sử dụng tri thức giữ vai trò quyết định đối với sự phát triển kinh tế, tạo ra của cải, nâng cao chất lượng cuộc sống". • Theo định nghĩa của WBI - là "nền kinh tế dựa vào tri thức như động lực chính cho tăng trưởng kinh tế. Đó là nền kinh tế trong đó kiến thức được lĩnh hội, sáng tạo, phổ biến và vận dụng để thúc đẩy phát triển". Tại hội thảo, Jean-Eric Aubert, chuyên gia hàng đầu của WBI, nói cụ thể hơn: "Phải phân biệt đó không phải là nền kinh tế dựa vào công nghệ và viễn thông! Kinh tế tri thức là đặt tri thức, sáng tạo và các chính sách liên quan đến chúng vào trọng tâm của chiến lược phát triển cho tất cả các nước ở nhiều mức độ phát triển khác nhau" • Như vậy, kinh tế tri thức là lực lượng sản xuất của thế kỷ 21. Đặc trưng của nền kinh tế tri thức là thị trường chất xám. Trong đó, con người là vốn quý nhất. Tri thức là yếu tố quyết định của sản xuất, sáng tạo đổi mới là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển. Công nghệ mới trở thành nhân tố quan trọng hàng đầu trong việc nâng cao năng suất, chất lượng, công nghệ thông tin được ứng dụng một cách rộng rãi. Muốn nâng cao năng suất lao động xã hội, nâng cao chất lượng sản phẩm phải có tri thức, phải làm chủ được tri thức, phải biết vận dụng, quản lý tri thức mới có thể cạnh tranh và đồng thời đảm bảo phát triển bền vững. • Có người còn cho rằng: Kinh tế tri thức là hình thái phát triển cao nhất hiện nay của nền kinh tế hàng hóa, trong đó công thức hoạt động cơ bản Tiền - Hàng - Tiền được thay thế bằng Tiền - Tri Thức - Tiền và vai trò quyết định của Tri thức.

doc14 trang | Chia sẻ: tranhoai21 | Lượt xem: 2326 | Lượt tải: 3download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề cương ôn thi tốt nghiệp - Môn học: Kinh tế tri thức và sở hữu trí tuệ, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ĐỀ CƯƠNG ÔN THI TỐT NGHIỆP MÔN HỌC: KINH TẾ TRI THỨC VÀ SỞ HỮU TRÍ TUỆ 1.Trình bày khái niệm về Kinh tế tri thức, những đặc điểm cơ bản của Kinh tế tri thức. Khái niệm Kinh tế tri thức : Khái niệm kinh tế tri thức ra đời từ năm 1995 do Tổ chức OPCD nêu ra "Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó sự sản sinh, truyền bá và sử dụng tri thức trở thành yếu tố quyết định nhất đối với sự phát triển kinh tế, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống". Sau đó, năm 2003 chương trình "Tri thức vì sự phát triển" đã đưa ra một khái niệm rộng hơn: "Là nền kinh tế sử dụng một cách hiệu quả tri thức cho sự phát triển KT-XH. Điều này bao gồm việc chuyển giao, cải tiến công nghệ nước ngoài cũng như sự thích hợp hoá và sáng tạo hoá các tri thức cho những nhu cầu riêng biệt". Theo Giáo sư, Viện sĩ Đặng Hữu - Trưởng ban Công nghệ thông tin thì "Kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó sự sản sinh ra, phổ cập và sử dụng tri thức giữ vai trò quyết định đối với sự phát triển kinh tế, tạo ra của cải, nâng cao chất lượng cuộc sống". Theo định nghĩa của WBI - là "nền kinh tế dựa vào tri thức như động lực chính cho tăng trưởng kinh tế. Đó là nền kinh tế trong đó kiến thức được lĩnh hội, sáng tạo, phổ biến và vận dụng để thúc đẩy phát triển". Tại hội thảo, Jean-Eric Aubert, chuyên gia hàng đầu của WBI, nói cụ thể hơn: "Phải phân biệt đó không phải là nền kinh tế dựa vào công nghệ và viễn thông! Kinh tế tri thức là đặt tri thức, sáng tạo và các chính sách liên quan đến chúng vào trọng tâm của chiến lược phát triển cho tất cả các nước ở nhiều mức độ phát triển khác nhau" Như vậy, kinh tế tri thức là lực lượng sản xuất của thế kỷ 21. Đặc trưng của nền kinh tế tri thức là thị trường chất xám. Trong đó, con người là vốn quý nhất. Tri thức là yếu tố quyết định của sản xuất, sáng tạo đổi mới là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển. Công nghệ mới trở thành nhân tố quan trọng hàng đầu trong việc nâng cao năng suất, chất lượng, công nghệ thông tin được ứng dụng một cách rộng rãi. Muốn nâng cao năng suất lao động xã hội, nâng cao chất lượng sản phẩm phải có tri thức, phải làm chủ được tri thức, phải biết vận dụng, quản lý tri thức mới có thể cạnh tranh và đồng thời đảm bảo phát triển bền vững. Có người còn cho rằng: Kinh tế tri thức là hình thái phát triển cao nhất hiện nay của nền kinh tế hàng hóa, trong đó công thức hoạt động cơ bản Tiền - Hàng - Tiền được thay thế bằng Tiền - Tri Thức - Tiền và vai trò quyết định của Tri thức. Vậy kinh tế tri thức là gì? Kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó sự sản sinh ra, phổ cập và sử dụng tri thức giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển kinh tế, tạo ra của cải, nâng cao chất lượng cuộc sống. Đặc điểm cơ bản của Kinh tế tri thức : + Hình thành thị trường chất xám + Sáng tạo và đổi mới - Động lực của phát triển + Ứng dụng sâu rộng các thành tựu công nghệ cao + Xuất hiện những đột phá trong phương thức trao đổi hàng hoá 2. Phân tích xu hướng phát triển của kinh tế tri thức hiện nay. Khái niệm KTTT, nêu đặc điểm của KTTT )như câu 1) Những xu hướng phát triển của KTTT: + Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng gia tăng hàm lượng tri thức. + Sự phát triển không ngừng của CN thông tin + Thương mại điện tử ngày càng thể hiện tính ưu việt so với các phương thức giao dịch truyền thống Xã hội loài người đã trải qua ba nền kinh tế chủ yếu. Kinh tế nông nghiệp với trình độ sản xuất thô sơ, năng suất lao động thấp, sức lao động là lực lượng sản xuất chủ yếu và nông nghiệp đóng vai trò nền tảng xã hội. Kinh tế công nghiệp đạt trình độ sản xuất cao hơn, máy móc trở thành lực lượng sản xuất chủ yếu và các ngành công nghiệp là nền tảng của xã hội. Một số nhà khoa học cho rằng sau khi thực hiện thành công công nghiệp hoá, các nước phát triển đã chuyển sang nền kinh tế phân phối với sự phát triển mạnh mẽ của giao thông vận tải và các loại hình dịch vụ làm gia tăng giá trị sản phẩm. Trong khoảng một thập kỷ trở lại đây, sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin, sự tương tác giữa tin học, vi điện tử và sinh học đã tạo ra những tiến bộ thần kỳ trong kinh tế và sẽ tiếp tục cung cấp nhiên liệu cho sự tăng trưởng của thế giới trong vòng hai hoặc ba mươi năm tới. Sự phát triển không ngừng có tính bùng nổ của lực lượng sản xuất trong đó tri thức đóng vai trò như lực lượng sản xuất chủ yếu đã dẫn đến sự hình thành một nền kinh tế mới, nền kinh tế tri thức (Knowledge Based Economy hoặc Knowledge economy). Những đặc trưng cơ bản của nền kinh tế tri thức là sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất ở trình độ cao, áp dụng những thành tựu tiên tiến nhất về công nghệ và kỹ thuật. Theo các chuyên gia thì những trụ cột chính của nền kinh tế tri thức bao gồm công nghệ thông tin, sinh học, năng lượng và vi điện tử. Những sản phẩm của nền kinh tế thông tin có hàm lượng tri thức cao và giá trị gia tăng lớn. Trong nền kinh tế tri thức, dịch vụ có tỷ trọng lớn, vượt xa cả các ngành công nghiệp truyền thống. Kinh tế mạng (Network Based Economy) đóng vai trò vô cùng quan trọng. Internet là động lực mạnh mẽ nhất và con đường nhanh nhất của tự do thương mại và toàn cầu hoá. Trong phần lớn các ngành, xu thế sát nhập tạo ra những công ty có tiềm lực khổng lồ như các ngân hàng, công ty sản xuất ô tô, máy tính. Các công ty lớn đã hợp tác với nhau để nâng cao sức cạnh tranh. Lực lượng lao động cũng có thay đổi đáng kể. Nhu cầu về lao động chuyên môn kỹ thuật ngày càng tăng lên. Sự thiếu hụt lập trình viên kỹ thuật là vấn đề của toàn thế giới từ những nước phát triển như Mỹ, Canada tới những nước đang phát triển như Việt nam. Các khu kỹ thuật cao cũng được coi như là một nét đặc trưng của nền kinh tế tri thức. Tại Mỹ, chỉ riêng Thung lũng Silicon tập trung hơn 7000 công ty kỹ thuật cao và có doanh số khoảng 450 tỷ USD, tổng số Mỹ có hơn 300 khu công nghệ cao, Nhật có 32, Pháp có 35. Những khu công nghệ cao là nơi tập trung trí tuệ và sức sáng tạo của lực lượng sản xuất tiên tiến. Một nét đặc trưng đáng chú ý khác là các quy luật kinh tế truyền thống như lợi ích cận biên giảm dần, chi phí cận biên tăng dần có thể không còn chỗ đứng trong nền kinh tế tri thức. Một ví dụ điển hình là số người sử dụng thông tin càng nhiều thì thông tin càng có giá trị. 3. Trình bày khái niệm và các đặc điểm của thương mại điện tử. Cho biết những lợi ích cơ bản của thương mại điện tử Khái niệm TMĐT: Thương mại điện tử (E-commerce, Electronic commerce) là hình thái hoạt động thương mại bằng phương pháp điện tử; là việc trao đổi thông tin thương mại thông qua các phương tiện công nghệ điện tử mà nói chung là không cần phải in ra giấy trong bất cứ công đoạn nào của quá trình giao dịch. (nên còn được gọi là "thương mại không giấy tờ"). Có nhiều khái niệm về thương mại điện tử (TMĐT), nhưng hiểu một cách tổng quát, TMĐT là việc tiến hành một phần hay toàn bộ hoạt động thương mại bằng những phương tiện điện tử. TMĐT vẫn mang bản chất như các hoạt động thương mại truyền thống. Tuy nhiên, thông qua các phương tiện điện tử mới, các hoạt động thương mại được thực hiện nhanh hơn, hiệu quả hơn, giúp tiết kiệm chi phí và mở rộng không gian kinh doan Đặc điểm của TMĐT + Các bên giao dịch không tiếp xúc trực tiếp. + Thực hiện trong một thị trường không có biên giới + Có sự tham gia của ít nhất ba chủ thể + Mạng lưới thông tin chính là thị trường: Lợi ích cơ bản của TMĐT + Thu thập được nhiều thông tin + Giảm chi phí sản xuất, chi phí bán hàng, tiếp thị và giao dịch + Xây dựng quan hệ với đối tác + Hạn chế di chuyển từ địa điểm này đến địa điểm khác + Tối đa hóa sự lựa chọn đối tác và hàng hóa, dịch vụ 4. Trình bày điều kiện ra đời và phát triển của Kinh tế tri thức. Liên hệ thực tiễn ở Việt Nam Khái niệm KTTT : ( xem câu 1) Điều kiện ra đời và phát triển: Sự ra đời và phát triển của kinh tế tri thức là xu thế khách quan của kinh tế thị trường. Nhưng nhận thức chủ quan khác nhau thì sẽ có thái độ khác nhau đối với kinh tế tri thức, nền kinh tế tri thức có thể trở thành cơ hội phát triển chưa từng có đối với nước này, cũng có thể là thách thức sống còn với nước khác. Tất cả tùy thuộc vào thái độ của bộ máy cầm quyền. Hiện nay đã có 38 nước với GDP/người đạt mức 20.000 USD chủ yếu là vận dụng kinh tế tri thức. - Tự động hóa cao độ - Công nghệ tin học và thông tin phát triển cao độ .-Môi trường an toàn và ổn định cho việc hình thành, sản xuất và phân phối tri thức. - Kinh tế thị trường phát triển cao với các thị trường tài chính quốc tế hoạt động hữu hiệu - Chỉ có thể hình thành ở những nhà nước pháp quyền dân chủ, khung khổ pháp lý rõ ràng, ổn định, minh bạch không bị thay đổi một cách tùy tiện. - Trình độ dân trí cũng có thể được xem như điều kiện tiên quyết hình thành kinh tế tri thức Học viên tự liên hệ thực tiễn : Kinh tế tri thức và thực hiện phát triển kinh tế tri thức ở nước ta : Kinh tế tri thức được đưa vào Văn kiện Đại hội IX của Đảng ở mức độ “từng bước vận dụng kinh tế tri thức”. Quá trình mở cửa và hội nhập chịu tác động ngày càng tăng của kinh tế tri thức (đang vận động trong quỹ đạo chủ nghĩa tư bản), làm bộc lộ cả tiềm năng và hạn chế của nước ta, rõ nhất là ở thực trạng nền kinh tế và thể chế kinh tế chính trị. Để phân tích đầy đủ tiềm năng và hạn chế của ta trước xu thế kinh tế tri thức, cần có sự tổng kết ở phạm vi quốc gia để định vị nước ta và định hướng phát triển kinh tế tri thức. Ở phạm vi một nghiên cứu ngắn, chúng tôi chỉ có thể nêu một số vấn đề cơ bản từ thực tiễn nước ta. Thứ nhất, định hướng xã hội chủ nghĩa và kinh tế tri thức Nhiều đảng cộng sản cầm quyền trong thế kỷ XX với chiến công lừng lẫy nhưng cuối cùng đều thất bại do đường lối phát triển kinh tế - xã hội không hợp thời đại. Bài học lịch sử thế giới đó chỉ ra rằng cơ sở kinh tế của chủ nghĩa xã hội, cuộc đại khủng hoảng thể chế kinh tế chính trị của chủ nghĩa tư bản hiện nay lại phát đi tín hiệu rằng kinh tế tri thức không phải là cơ sở kinh tế của chủ nghĩa tư bản mà của một xã hội thay thế nó. Chính sức mạnh của tất yếu kinh tế trong thời đại hiện nay đang là thách thức lớn nhất đối với tất cả các chế độ chính trị trên thế giới. Trong đó khó khăn hơn là đối với các nước lạc hậu phát triển sau. Xét về bản chất, kinh tế tri thức không phải là cơ sở của nền thống trị của số ít đối với nhân dân, của chủ nghĩa bá quyền nước này đối với nước khác. Từ những quan sát ấy có thể nhận rõ rằng, sự phát triển kinh tế tri thức là cơ hội chưa từng có của sự phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa (với nội hàm là phát triển bền vững). Liên hệ với thực tế thì thấy rằng, trong thời đại kinh tế tri thức kiên trì định hướng xã hội chủ nghĩa là có cơ sở khoa học thực tiễn. Nhưng sự kiên trì này ở Việt Nam lại chưa được thể hiện trong mô hình phát triển kinh tế - xã hội. Với nhứng vấn nạn về xã hội và môi trường ngày càng tăng, với những hậu quả của tệ quan liêu, tham nhũng trong quản lý đã cho thấy mô hình công nghiệp hóa dựa trên khai thác tài nguyên và lao động rẻ đã lỗi thời, hoàn toàn không phù hợp với định hướng xã hội chủ nghĩa và với thời đại hiện nay. Chuyển sang mô hình kinh tế thị trường dựa trên kinh tế tri thức vừa là một đòi hỏi cấp bách của định hướng xã hội chủ nghĩa, vừa phù hợp với thời đại kinh tế hiện nay. Đây phải là một trong những vấn đề chiến lược cơ bản của Đại hội XI của Đảng. 5. Trình bày chiến lược và chính sách quản lý và phát triển KTTT. Liên hệ thực tiễn ở nước ta Định hướng chiến lược cụ thể cho phát triển nền kinh tế tri thức Xây dựng chiến lược phát triển khoa học kỹ thuật, công nghệ cao Xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực phục vụ KTTT Chính sách thu hút và sử dụng hiệu quả các nguồn lực từ đầu tư nước ngoài Chính sách khai thác tài sản trí tuệ gắn liền với thực hịên tốt hoạt động bảo hộ quyền SHTT 7 lĩnh vực thường được coi trọng trong chiến lược quốc gia thực hiện nền kinh tế tri thức của nhiều nước đã phát triển và đang phát triển, như sau: - Chủ trương công nghiệp hóa và hiện đại hóa; - Mở mang nền kinh tế thị trường văn minh; - Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế; - Phát triển KH&CN, nhất là công nghệ tin học viễn thông và công nghệ sinh học; - Giáo dục và đào tạo; - Văn hóa và xã hội; - Đổi mới thể chế quản lý và cải cách hành chính. Có lẽ sự bổ sung và điều chỉnh chủ yếu không phải là đặt ra những việc mới, hiện nay chúng ta chưa hề tính toán (số việc hoàn toàn mới cần đặt ra, nếu có, cũng không nhiều), mà chủ yếu là xử lý theo một nội dung mới hơn và một cách thức mới hơn những việc đã được nghiên cứu và nêu lên trong chiến lược. Học viên tự liên hệ thực tiễn 6. Trình bày khái niệm sở hữu trí tuệ (SHTT), phân loại quyền sở hữu trí tuệ. Khái niệm quyền SHTT : Sở hữu trí tuệ được hiểu là việc sở hữu các tài sản trí tuệ – những kết quả từ hoạt động tư duy, sáng tạo của con người. Đối tượng của loại sở hữu này là các tài sản phi vật chất nhưng có giá trị kinh tế, tinh thần to lớn góp phần quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển nền văn minh, khoa học, công nghệ của nhân loại. Đó là các tác phẩm văn học, nghệ thuật, các công trình khoa học kỹ thuật ứng dụng cũng như các tên gọi, hình ảnh được sử dụng trong các hoạt động thương mại. Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của cá nhân, pháp nhân đối với các sản phẩm trí tuệ do con người sáng tạo. Đó là độc quyền được công nhận cho một người, một nhóm người hoặc một tổ chức, cho phép họ được sử dụng hay khai thác các khía cạnh thương mại của một sản phẩm sáng tạo. Đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ bao gồm: (i) Quyền tác giả các tác phẩm văn học và nghệ thuật; (ii) Sáng chế, giải pháp hữu ích; (iii) bí mật kinh doanh; (iv) kiểu dáng công nghiệp; (v) nhãn hiệu hàng hoá, nhãn hiệu dịch vụ; (vi) chỉ dẫn địa lý, tên gọi xuất xứ hàng hoá; (vii) tên thương mại; (viii) giống cây trồng mới; (ix) thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn; (x) quyền chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến sở hữu công nghiệp. Phân loại quyền SHTT: + Quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả + Nội dung về quyền tác giả + Nội dung quyền liên quan đến quyền tác giả - Quyền sở hữu công nghiệp: nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp, sáng chế giải pháp hữu ích, chỉ dẫn địa lý và tên thương mại, bí mật kinh doanh - Quyền đối với giống cây trồng 7. Nêu các tính chất của bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. - Khái niệm quyền SHTT ( như câu 6) - Lý do cần bảo hộ quyền SHTT : Hiện nay, người ta ngày càng quan tâm tới các vấn đề sở hữu trí tuệ. Nhưng đáng tiếc là vấn đề này lại thường xuyên được đề cập theo chiều hướng nhấn mạnh đến những điều gây tranh cãi và những tranh luận trái ngược nhau. Thực ra có rất nhiều nội dung về bảo vệ sở hữu trí tuệ mà mọi người có thể nhất trí được với nhau. Để hiểu đầy đủ hơn về vấn đề này, chúng ta cần dành một chút thời gian xem xét quá trình phát triển của quyền sở hữu trí tuệ (IPR) và vai trò của IPR trong việc đạt được những những mục tiêu chung. Sau khi xem xét, chúng ta đi tới một kết luận rằng việc bảo vệ sở hữu trí tuệ đóng một vai trò sống còn trong quá trình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Nhưng chỉ bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ không thôi sẽ không thể có được những phát triển về kinh tế, văn hóa, xã hội. Nhưng một quốc gia khó có thể đạt được những mục tiêu phát triển nếu không có sự bảo vệ này. - Một số nội dung cơ bản thể hiện bản chất của việc bảo hộ sở hữu trí tuệ: + Bảo hộ có mục đích + Bảo hộ có chọn lọc + Bảo hộ có điều kiện + Bảo hộ có thời hạn 8. Trình bày những quan điểm cơ bản được xác định trong việc thực hiện bảo hộ sở hữu trí tuệ. Tầm quan trọng của việc bảo hộ SHTT ở mỗi quốc gia : Với những nền kinh tế phát triển, thì hợp tác và cạnh tranh luôn luôn tồn tại song song, cùng tạo động lực cho sự phát triển của mỗi nền kinh tế cũng như cho cả hệ thống kinh tế thế giới. Để đảm bảo tính bình đẳng, cùng có lợi và cùng phát triển, việc bảo vệ quyền SHTT của bất kỳ một tổ chức, cá nhân nào ở bất kỳ nền kinh tế (quốc gia, vùng lãnh thổ) nào đều là một trong những yêu cầu cơ bản, không thể xem nhẹ. Về thực chất, bảo vệ quyền SHTT chính là sự đảm bảo của các cơ quan có thẩm quyền rằng bất kỳ một sở hữu trí tuệ (phát minh, sáng chế) nào đều là quyền chính đáng, bất khả xâm phạm và là quyền sở hữu riêng của các tổ chức, cá nhân đó giống như tài sản riêng về của cải, vật chất thông thường vậy. Việc khẳng định quyền SHTT không những đảm bảo tính công bằng, mà còn khuyến khích tính sáng tạo của con người, nói cách khác, một khi quyền SHTT được công nhận, sẽ kích thích khả năng phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật và công nghệ. Đổi lại, bảo vệ quyền SHTT không chỉ giúp bù đắp một cách xứng đáng cho (các) tác giả về cả vật chất và tinh thần, mà còn mang lại lợi ích chung cho toàn xã hội. Như vậy, theo nghĩa rộng thì bảo vệ quyền SHTT chính là bảo vệ lợi ích chung cho cộng đồng và toàn xã hội. Những năm qua, đặc biệt sau khi Việt Nam gia nhập WTO, những vấn đề liên quan đến bảo vệ quyền SHTT ở Việt Nam đã được sự quan tâm và ủng hộ của các cơ quan có thẩm quyền cũng như của các doanh nghiệp trong và ngoài nước. Tuy nhiên, tình trạng xâm phạm bản quyền như thương hiệu, kiểu dáng công nghiệp, công nghệ chủ yếu biểu hiện qua các hình thức hàng giả, hàng nhái đang có xu hướng tăng cao, từ lén lút đến công khai và có vẻ như ngày một vượt ra ngoài tầm kiểm soát. Trước thực tế nhức nhối này, nhu cầu về bảo vệ quyền SHTT đã trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập và cạnh tranh của quá trình toàn cầu hoá hiện nay. Quan điểm mang tính bản chất về lợi ích trong hoạt động bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tại các quốc gia thể hiện: + Về đối nội + Về đối ngoại 9. Nội dung quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ. Thực trạng bảo hộ sở hữu trí tuệ ở Việt Nam Nội dung : Xây dựng, chỉ đạo thực hiện chiến lược, chính sách bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về sở hữu trí tuệ. Tổ chức bộ máy quản lý về sở hữu trí tuệ; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ về SHTT. Cấp và thực hiện các thủ tục khác liên quan Thanh tra, kiểm tra giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm Tổ chức hoạt động thông tin, thống kê về sở hữu trí tuệ. Tổ chức, quản lý hoạt động giám định về sở hữu trí tuệ. Giáo dục, tuyên truyền, phổ biến kiến thức, pháp luật về sở hữu trí tuệ. Hợp tác quốc tế về sở hữu trí tuệ. Học viên tự liên hệ thực tiễn 10. Trình bày khái niệm về quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả. Phạm vi cơ sở xác định quyền tác giả. - Khái niệm quyền tác giả : Quyền tác giả hay tác quyền (tiếng Anh: copyright) là độc quyền của một tác giả cho tác phẩm của người này. Quyền tác giả được dùng để bảo vệ các sáng tạo tinh thần có tính chất văn hóa (cũng còn được gọi là tác phẩm) không bị vi phạm bản quyền, thí dụ như các bài viết về khoa học hay văn học, sáng tác nhạc, ghi âm, tranh vẽ, hình chụp, phim và các chương trình truyền thanh. Quyền này bảo vệ các quyền lợi cá nhân và lợi ích kinh tế của tác giả trong mối liên quan với tác phẩm này. Một phần người ta cũng nói đó là sở hữu trí tuệ (intellectual property) và vì thế là đặt việc bảo vệ sở hữu vật chất và sở hữu trí tuệ song đôi với nhau, thế nhưng khái niệm này đang được tranh cãi gay gắt. Quyền tác giả không cần phải đăng ký và thuộc về tác giả khi một tác phẩm được ghi giữ lại ít nhất là một lần trên một phương tiện lưu trữ. Quyền tác giả thông thường chỉ được công nhận khi sáng tạo này mới, có một phần công lao của tác giả và có thể chỉ ra được là có tính chất duy nhất. - Khái niệm quyền liên quan đến quyền tác giả : Quyền tác giả tại Việt Nam đã được quy định chi tiết trong Bộ Luật Dân sự 2005, Luật Sở hữu trí tuệ và Nghị Định 100/NĐ*CP/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Dân sự Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan. Theo đó, Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo hoặc sở hữu, bao gồm các quyền sau đây: 1. Quyền Nhân thân Đặt tên cho tác phẩm Đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng; Công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm; Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén