Đề tài Mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị với việc đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa sự phỏt triển nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam hiện nay

Nhận thức và vận dụng mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị trong những năm trước đổi mới, nhiều nước XHCN trong đó có nước ta ở những mức độ nhất định đã mắc phải những lệch lạc, chủ quan duy ý chí. Đó là một trong những nguyên nhân đẩy nền kinh tế - xã hội của đất nước rơi vào tình trạng trì trệ và khủng hoảng. Nhận thức được những lệch lạc đó, trên cơ sở tổng kết thực tiễn đất nước và nghiên cứu, nắm vững thực chất khoa học quan điểm của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin về mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị, Đảng ta đã đề ra đường lối đổi mới đúng đắn. Đường lối chiến lược phát triển nền kinh tế nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước định hướng XHCN là sự vận dụng sáng tạo quan điểm mác xít về mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị trong điều kiện nước ta hiện nay. Đường lối đó đã mở ra triển vọng vừa giải phóng được mọi năng lực sản xuất, kích thích kinh tế phát triển, vừa đảm bảo sự định hướng phát triển kinh tế theo mục tiêu chính trị mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn. Qua 15 năm thực hiện đường lối đó, chúng ta đã đạt được những thành tựu đáng kể. Kinh tế phát triển, mục tiêu CNXH vẫn được giữ vững. Tuy nhiên, công cuộc đổi mới càng đi vào chiều sâu càng nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp cần phải lý giải, giải quyết. Thực tiễn cho thấy, quá trình phát triển nền kinh tế ở nước ta bên cạnh những mặt tích cực còn bộc lộ những khuyết tật có nguy cơ chệch hướng XHCN. Đối mặt với những nguy cơ này, trong cán bộ đảng viên cũng xuất hiện nhiều băn khoăn, trăn trở: liệu chúng ta có định hướng chính trị được sự phát triển nền kinh tế đó hay không? Liệu Nhà nước có quản lý, điều tiết được nền kinh tế đó theo quỹ đạo XHCN hay không? Hơn nữa, việc xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước định hướng XHCN là chưa có tiền lệ trong lịch sử. Quá trình này đòi hỏi chúng ta vừa làm vừa phải tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, tìm ra hình thức và bước đi thích hợp. Quá trình đó tất yếu phải có sự lãnh đạo của chính trị đóng vai trò "người cầm trịch" hướng vào mục tiêu CNXH. Chính vì vậy, việc nghiên cứu mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị đặc biệt là tìm ra những giải pháp nâng cao vai trò của chính trị trong lãnh đạo, quản lý, điều tiết kinh tế để vừa thúc đẩy sự phát triển kinh tế vừa đảm bảo định hướng XHCN trong sự phát triển của nó vẫn là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp bách. Đó là lý do tại sao tác giả luận văn chọn đề tài " Mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị với việc đảm bảo định hướng xó hội chủ nghĩa sự phỏt triển nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam hiện nay " là đề tài nghiên cứu của mình.

pdf95 trang | Chia sẻ: ttlbattu | Lượt xem: 2182 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị với việc đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa sự phỏt triển nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam hiện nay, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
LUẬN VĂN: Mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị với việc đảm bảo định hướng xó hội chủ nghĩa sự phỏt triển nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam hiện nay Mở đầu 1. Tính cấp thiết của đề tài Nhận thức và vận dụng mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị trong những năm trước đổi mới, nhiều nước XHCN trong đó có nước ta ở những mức độ nhất định đã mắc phải những lệch lạc, chủ quan duy ý chí. Đó là một trong những nguyên nhân đẩy nền kinh tế - xã hội của đất nước rơi vào tình trạng trì trệ và khủng hoảng. Nhận thức được những lệch lạc đó, trên cơ sở tổng kết thực tiễn đất nước và nghiên cứu, nắm vững thực chất khoa học quan điểm của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin về mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị, Đảng ta đã đề ra đường lối đổi mới đúng đắn. Đường lối chiến lược phát triển nền kinh tế nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước định hướng XHCN là sự vận dụng sáng tạo quan điểm mác xít về mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị trong điều kiện nước ta hiện nay. Đường lối đó đã mở ra triển vọng vừa giải phóng được mọi năng lực sản xuất, kích thích kinh tế phát triển, vừa đảm bảo sự định hướng phát triển kinh tế theo mục tiêu chính trị mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn. Qua 15 năm thực hiện đường lối đó, chúng ta đã đạt được những thành tựu đáng kể. Kinh tế phát triển, mục tiêu CNXH vẫn được giữ vững. Tuy nhiên, công cuộc đổi mới càng đi vào chiều sâu càng nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp cần phải lý giải, giải quyết. Thực tiễn cho thấy, quá trình phát triển nền kinh tế ở nước ta bên cạnh những mặt tích cực còn bộc lộ những khuyết tật có nguy cơ chệch hướng XHCN. Đối mặt với những nguy cơ này, trong cán bộ đảng viên cũng xuất hiện nhiều băn khoăn, trăn trở: liệu chúng ta có định hướng chính trị được sự phát triển nền kinh tế đó hay không? Liệu Nhà nước có quản lý, điều tiết được nền kinh tế đó theo quỹ đạo XHCN hay không? Hơn nữa, việc xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước định hướng XHCN là chưa có tiền lệ trong lịch sử. Quá trình này đòi hỏi chúng ta vừa làm vừa phải tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, tìm ra hình thức và bước đi thích hợp. Quá trình đó tất yếu phải có sự lãnh đạo của chính trị đóng vai trò "người cầm trịch" hướng vào mục tiêu CNXH. Chính vì vậy, việc nghiên cứu mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị đặc biệt là tìm ra những giải pháp nâng cao vai trò của chính trị trong lãnh đạo, quản lý, điều tiết kinh tế để vừa thúc đẩy sự phát triển kinh tế vừa đảm bảo định hướng XHCN trong sự phát triển của nó vẫn là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp bách. Đó là lý do tại sao tác giả luận văn chọn đề tài " Mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị với việc đảm bảo định hướng xó hội chủ nghĩa sự phỏt triển nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam hiện nay " là đề tài nghiên cứu của mình. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Đến nay đã có một số công trình nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau liên quan tới luận văn: Khổng Doãn Hợi, "Quan hệ giữa kinh tế và chính trị ở nước ta", Tạp chí Cộng sản, 6/1993; Lê Hữu Nghĩa, "Vai trò của chính trị trong việc bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa", Tạp chí Cộng sản, Hà Nội, 5/1996; Nguyễn Tiến Phồn, "Vai trò lãnh đạo chính trị của Đảng và chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay", Tạp chí Triết học, số 3/1995; Nguyễn Trọng Chuẩn, "Mối quan hệ biện chứng giữa đổi mới chính sách kinh tế và đổi mới chính sách xã hội", Tạp chí Triết học, số 3/1996; Nguyễn Chí Mỳ, "Xu hướng và các nhân tố bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế nhiều thành phần", Tạp chí Cộng sản, số 10/1997;... Ngoài ra, còn có một số luận án tiến sĩ và luận văn thạc sĩ đề cập đến các góc độ khác nhau của đề tài: "Định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, nội dung cơ bản và những điều kiện chủ yếu để thực hiện", Luận án tiến sĩ Khoa học triết học chuyên ngành chủ nghĩa cộng sản khoa học, của Nguyễn Văn Oánh; Hà Nội 1994 "Vai trò định hướng xã hội chủ nghĩa của kiến trúc thượng tầng chính trị đối với sự phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần ở Việt Nam hiện nay", Luận văn thạc sĩ triết học của Huỳnh Thanh Minh, Hà Nội, 1997; "Nhân tố chủ quan với việc bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa sự phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần ở nước ta hiện nay", Luận văn thạc sĩ Triết học của Nguyễn Văn Ninh, Hà Nội, năm 2001; "Vai trò định hướng xã hội chủ nghĩa của Nhà nước đối với sự phát triển nền kinh tế Việt Nam hiện nay", Luận án tiến sĩ triết học của Lê Thị Hồng, Hà Nội, năm 2001. Mặc dù các công trình nghiên cứu đã đề cập đến khá nhiều khía cạnh khác nhau của đề tài, song việc nghiên cứu vấn đề "mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị với việc đảm bảo định hướng XHCN sự phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam hiện nay" vẫn là vấn đề bức xúc. 3. Mục đích, nhiệm vụ và giới hạn của luận văn 3.1. Mục đích Trên cơ sở phân tích thực chất quan hệ giữa kinh tế và chính trị trong thời kỳ quá độ lên CNXH và sự vận dụng của Đảng ta trong quá trình đổi mới, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường vai trò của chính trị trong việc đảm bảo định hướng XHCN sự phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta hiện nay. 3.2. Nhiệm vụ - Phân tích thực chất mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị trong thời kỳ quá độ lên CNXH. - Làm rõ sự nhận thức và vận dụng về mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị trong quá trình phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta và những vấn đề đặt ra hiện nay. - Đề xuất một số giải pháp tăng cường vai trò của chính trị nhằm đảm bảo định hướng XHCN sự phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta hiện nay. 3.3. Giới hạn của luận văn Từ việc nghiên cứu mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, sự nhận thức và vận dụng mối quan hệ đó vào thực tiễn đổi mới của nước ta, luận án chỉ đi sâu nghiên cứu vai trò tác động của chính trị mà cụ thể là vai trò của các chủ thể như Đảng và Nhà nước trong việc đảm bảo định hướng XHCN sự phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta hiện nay. 4. Cái mới của luận văn - Góp phần làm rõ mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị trong quá trình phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam hiện nay. Từ đó nêu bật vai trò quan trọng của chính trị trong việc định hướng XHCN nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta. - Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường vai trò chính trị của Đảng và Nhà nước trong việc bảo đảm định hướng XHCN sự phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta hiện nay. 5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn 5.1. Cơ sở lý luận Luận án dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về mối quan hệ giữa kinh tế - chính trị. Luận văn có tham khảo kết quả của nhiều công trình có liên quan. 5.2. Phương pháp nghiên cứu Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp như: Phân tích và tổng hợp, lịch sử và lôgíc... 6. ý nghĩa của luận văn - Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong việc học tập và giảng dạy môn triết học. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương 4 tiết. Chương 1 quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị trong quá trình phát triển nền kinh tế nhiều Thành phần ở Việt Nam 1.1. quan hệ giữa kinh tế và chính trị trong thời kỳ quá độ lên CNXH 1.1.1. Quan điểm mác xít về mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị trong sự phát triển xã hội Kinh tế là một khái niệm được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Ngày nay, khái niệm kinh tế được hiểu theo hai nghĩa cơ bản: - Tổng thể các quan hệ sản xuất nhất định trong lịch sử phù hợp với mỗi trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất. - Toàn bộ các ngành kinh tế quốc dân hay một bộ phận của nền kinh tế quốc dân. Nó bao gồm các hình thức sản xuất theo ngành kinh tế, thành phần kinh tế và vùng kinh tế (tức cơ cấu kinh tế) và cơ chế quản lý kinh tế. Như vậy nói đến kinh tế là nói đến điều kiện vật chất của đời sống xã hội, hay nói cách khác, đó là phương tiện để con người tồn tại. Chẳng hạn, muốn tồn tại, con người cần phải có cái ăn, cái mặc, thuốc men để chữa bệnh... Tất cả những gì thuộc kinh tế theo nghĩa đó - còn gọi là tư liệu sinh hoạt - không phải do thần thánh sinh ra, mà do con người dùng công cụ lao động của mình tác động vào tự nhiên tạo ra. Ngay cả công cụ lao động mà con người dùng để làm ra của cải vật chất đó cũng do chính con người tạo ra. Trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất, con người không thể tiến hành sản xuất một cách biệt lập, riêng lẻ được, mà trái lại, muốn tiến hành sản xuất, con người chẳng những phải có quan hệ với tự nhiên mà còn có quan hệ với nhau để cùng hoạt động, trao đổi kinh nghiệm và kết quả lao động. Khẳng định tính tất yếu của mối quan hệ này C.Mác nói: "Người ta không thể sản xuất được, nếu không biết hợp tác với nhau theo một cách nào đó để hoạt động chung và để trao đổi hoạt động với nhau. Muốn sản xuất được, người ta phải có những mối liên hệ và quan hệ nhất định với nhau và quan hệ của họ với giới tự nhiên, tức là việc sản xuất, chỉ diễn ra trong khuôn khổ những mối liên hệ và quan hệ xã hội đó [28, tr. 552]. Vì lẽ đó, khái niệm "kinh tế" đã chứa đựng trong nó cả những quan hệ giữa người với tự nhiên, lẫn những quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất, tức là quan hệ sản xuất. Khái niệm "kinh tế" cũng có thể dùng để chỉ tổng thể các quan hệ sản xuất của một xã hội nhất định, tạo nên cơ sở kinh tế của xã hội đó. C.Mác viết: "Toàn bộ những quan hệ sản xuất ấy hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội, tức là cái cơ sở hiện thực trên đó dựng lên một kiến trúc thượng tầng pháp lý và chính trị và những hình thái ý thức xã hội nhất định tương ứng với cơ sở hiện thực đó" [29, tr. 15]. Nói đến nền tảng kinh tế của xã hội cụ thể là nói đến toàn bộ những quan hệ sản xuất cũng như sự tác động lẫn nhau giữa các quan hệ ấy trong một xã hội cụ thể. Trong các chế độ xã hội tồn tại cho đến nay, bên cạnh quan hệ sản xuất thống trị vẫn còn quan hệ sản xuất tàn dư của chế độ xã hội cũ và quan hệ sản xuất mầm mống của xã hội tương lai. Cho nên kinh tế của một xã hội cụ thể được đặc trưng, trước hết, bởi kiểu quan hệ sản xuất thống trị tiêu biểu cho xã hội ấy đồng thời bao gồm cả những quan hệ sản xuất tàn dư và quan hệ sản xuất mầm mống. Trong cơ sở kinh tế đó, cái giữ địa vị chi phối, có vai trò chủ đạo và có tác dụng quyết định đối với sự phát triển kinh tế là quan hệ sản xuất thống trị. Tóm lại, khái niệm "kinh tế" có thể hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau như đã trình bày ở trên. Trong luận văn này, chúng tôi đã sử dụng khái niệm "kinh tế" theo nghĩa là toàn bộ những quan hệ sản xuất tạo thành cơ cấu kinh tế của một xã hội cụ thể. Trong sự phát triển của lịch sử loài người không phải bao giờ cũng tồn tại chính trị. Chính trị chỉ xuất hiện và tồn tại trong những giai đoạn phát triển nhất định của lịch sử, đồng thời nó sẽ mất đi khi cơ sở tồn tại của nó không còn nữa. Trước khi xã hội có sự phân chia giai cấp và nhà nước, xã hội loài người chưa xuất hiện vấn đề chính trị. Khi nền sản xuất xã hội phát triển đến một mức độ nhất định, sự phát triển của lực lượng sản xuất đã đem lại năng suất lao động cao hơn. Xã hội bắt đầu có của cải dư thừa, tạo điều kiện khách quan cho sự ra đời của chế độ tư hữu. Sự ra đời của chế độ tư hữu là cơ sở của sự bất bình đẳng về kinh tế trong xã hội, đồng thời là nguyên nhân dẫn đến sự hình thành các giai cấp đối kháng. Sự đối kháng giữa các giai cấp ngày càng trở nên gay gắt, không thể điều hòa đã dẫn đến sự ra đời của nhà nước. Từ đó bắt đầu xuất hiện vấn đề chính trị. "Chính trị" theo nguyên nghĩa của nó, là những công việc nhà nước, là phạm vi hoạt động gắn với những quan hệ giai cấp, dân tộc và các nhóm xã hội khác nhau mà hạt nhân của nó là vấn đề giành, giữ và sử dụng chính quyền nhà nước [1, tr. 507]. Trong xã hội có giai cấp, các giai cấp, các tập đoàn, các tầng lớp xã hội có vị trí khác nhau trong việc quản lý nhà nước. Do đó, các giai cấp, các tập đoàn xã hội đấu tranh với nhau để giành, giữ và sử dụng nhà nước. Như vậy, chính trị là mối quan hệ giữa các giai cấp, các tập đoàn, các tầng lớp xã hội về mặt nhà nước. Chính trị - những quan điểm, tư tưởng chính trị và những thiết chế xã hội tương ứng với nó như nhà nước, đảng phái, các tổ chức chính trị - xã hội... - là một bộ phận quan trọng của kiến trúc thượng tầng, khái niệm chính trị được sử dụng trong luận văn này là hiểu theo nghĩa đó. Vấn đề quan hệ giữa kinh tế và chính trị đã được đặt ra từ rất sớm trong lịch sử triết học. Tất cả các nhà triết học trước Mác đều đi tìm nguyên nhân của các sự biến lịch sử không phải trong kinh tế mà ở trong chính trị, tôn giáo hoặc trong các nhân tố tinh thần khác. Khác với các nhà triết học trước đó, C.Mác và Ph.Ăngghen đã đi tìm nguyên nhân của các động cơ tư tưởng trong lĩnh vực tồn tại xã hội, tìm nguyên nhân của chính trị trong lĩnh vực kinh tế. Theo C.Mác, kinh tế có vai trò hết sức to lớn đối với chính trị. Vai trò quyết định của kinh tế đối với chính trị được thể hiện ở chỗ: Kinh tế tạo ra những cơ sở cho sự xuất hiện giai cấp và đối kháng giai cấp; kinh tế tạo ra điều kiện để hình thành các chính đảng của các giai cấp thông qua các cuộc đấu tranh giai cấp, đồng thời kinh tế còn là cơ sở cho sự ra đời của nhà nước... Do đó, khi nói về vai trò quyết định của kinh tế đối với những quan hệ chính trị, Ph.Ăngghen viết: "Tôi đã nhận thấy rất rõ ràng rằng những sự kiện kinh tế mà từ trước đến nay, những tác phẩm sử học cho là không đóng một vai trò nào, hoặc có chăng nữa thì chỉ đóng một vai trò thảm hại, thì ít nhất trong thế giới hiện đại, cũng đã là một lực lượng lịch sử quyết định" [31, tr. 321]. Trước hết, C.Mác và Ăngghen cho rằng, kinh tế là cơ sở xuất hiện giai cấp và đối kháng giai cấp. Ph.Ăngghen viết: "Quan niệm duy vật về lịch sử xuất phát từ luận điểm cho rằng, sản xuất và tiếp theo sau sản xuất là trao đổi sản phẩm của sản xuất, là cơ sở của mọi chế độ, xã hội, rằng trong mỗi xã hội xuất hiện trong lịch sử, sự phân phối sản phẩm và cùng với sự phân phối ấy là sự phân chia xã hội thành giai cấp hoặc đẳng cấp đều được quyết định bởi tình hình: người ta sản xuất ra cái gì và sản xuất ra bằng cách nào và những sản phẩm của sản xuất đó được trao đổi như thế nào" [30, tr. 371]. Như vậy, theo Ph.Ăngghen, kinh tế - sản xuất và trao đổi là cơ sở của sự xuất hiện giai cấp trong xã hội. Vì vậy, cần tìm nguyên nhân của sự xuất hiện giai cấp, của những biến đổi xã hội, đặc biệt là những biến đổi về chính trị, ở ngay trong kinh tế chứ không phải ở những lực lượng thần bí, hay ở ý thức chủ quan của con người như các nhà xã hội học trước C.Mác đã làm. Ph.Ăngghen viết: "Phải tìm những nguyên nhân cuối cùng của tất cả những biến đổi xã hội và những đảo lộn chính trị không phải trong đầu óc người ta, không phải ở nhận thức ngày càng tăng thêm của người ta..., mà là trong những biến đổi của phương thức sản xuất và phương thức trao đổi; cần phải tìm những nguyên nhân đó không phải trong triết học, mà là trong kinh tế của thời đại tương ứng" [30, tr. 371]. Nhưng, kinh tế không chỉ là nguyên nhân làm xuất hiện giai cấp trong xã hội mà còn là nguyên nhân làm nảy sinh đối kháng giai cấp. Trong xã hội có giai cấp, giai cấp nào chiếm được tư liệu sản xuất thì giai cấp đó chiếm được địa vị thống trị về kinh tế trong đời sống xã hội. Và tất yếu dẫn đến sự đối lập về lợi ích kinh tế giữa một bên là giai cấp bị trị, không có tư liệu sản xuất với một bên là giai cấp thống trị, nắm toàn bộ tư liệu sản xuất của xã hội. Sự đối lập về kinh tế không thể điều hòa được, tất yếu sẽ dẫn đến đối kháng giai cấp về chính trị. Vì vậy, Ph.Ăngghen đã khẳng định rằng kinh tế là "cơ sở cho sự xuất hiện của những đối kháng giai cấp hiện nay" [31, tr. 321]. Trong đấu tranh giai cấp, tất yếu các giai cấp phải lập ra chính đảng của mình để lãnh đạo phong trào. Như vậy, kinh tế còn là cơ sở gián tiếp của sự hình thành các chính đảng của các giai cấp và cuộc đấu tranh chính trị giữa các chính đảng đó với nhau. Thêm vào đó, sự ra đời của nhà nước, sự xuất hiện các quan điểm chính trị của một giai cấp nhất định có tác dụng chi phối hoạt động của giai cấp, của nhà nước trong xã hội... đều bắt nguồn từ nguyên nhân kinh tế. Nhà nước ra đời cùng sự ra đời của chế độ tư hữu và sự phân chia xã hội thành các giai cấp đối kháng. Giai cấp thống trị không thể duy trì địa vị thống trị nếu không dựa vào bộ máy bạo lực và các công cụ của nó như quân đội, pháp luật... Tất cả những cái đó đều bắt nguồn một cách trực tiếp hoặc gián tiếp từ những nguyên nhân kinh tế. Do đó Ph.Ăngghen đã khẳng định: "Tất cả mọi quyền lực xã hội và tất cả mọi bạo lực chính trị đều bắt nguồn từ những tiền đề kinh tế, từ phương thức sản xuất, trao đổi của mỗi một xã hội nhất định trong lịch sử" [30, tr. 303]. Vì vậy, sự ra đời, tồn tại và tiêu vong của Nhà nước không phải do ý muốn chủ quan của một cá nhân của một giai cấp nào, mà trái lại, là một tất yếu khách quan, do yêu cầu phát triển tất yếu của các quan hệ kinh tế. Không những giai cấp, đảng phái, nhà nước và đấu tranh giai cấp đều có nguồn gốc từ kinh tế mà hệ tư tưởng chính trị chi phối mọi hoạt động chính trị như đấu tranh giai cấp, hoạt động của Nhà nước, của các chính đảng... cũng đều là biểu hiện của kinh tế. Mặc dù chưa trực tiếp chỉ rõ rằng, hệ tư tưởng chính trị là biểu hiện của kinh tế nhưng khi nói về mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng của một xã hội nhất định, C.Mác, Ph.Ăngghen đều coi chính trị (gồm có hệ tư tưởng chính trị và các thiết chế tương ứng cũng như mối quan hệ nội tại giữa chúng) là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng được sinh ra từ quan hệ kinh tế nhất định và phản ánh những quan hệ kinh tế đó. Vì lẽ đó, những mâu thuẫn trong lĩnh vực chính trị bao giờ cũng là sự phản ánh của những mâu thuẫn về kinh tế, và ngược lại, những mâu thuẫn trong kinh tế tất yếu sẽ dẫn đến đấu tranh giai cấp. Đúng như C.Mác đã khẳng định, mâu thuẫn gay gắt giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất cuối cùng sẽ dẫn đến cuộc cách mạng xã hội. Do đó khi nghiên cứu những cuộc đảo lộn trong xã hội thì bao giờ cũng phải phân biệt cuộc đảo lộn vật chất trong những điều kiện kinh tế của sản xuất với những hình thái pháp lý, chính trị, tôn giáo... tóm lại, với những hình thái tư tưởng, trong đó con người ý thức được cuộc xung đột ấy và đấu tranh để giải quyết nó [29, tr. 15]. Như vậy, mọi nhân tố của chính trị, từ việc hình thành các giai cấp, đối kháng giai cấp đến đấu tranh giai cấp; từ việc hình thành nhà nước, chính đảng đến những hoạt động của Nhà nước, của chính đảng cũng như những quan điểm chi phối những hoạt động đó và toàn bộ lịch sử nói chung đều có nguồn gốc trực tiếp hoặc gián tiếp từ kinh tế. Vì thế, không phải ngẫu nhiên mà C.Mác cho rằng: "Phải lấy những quan hệ kinh tế và sự tiến triển của những quan hệ ấy để giải thích chính trị và lịch sử chính trị chứ không phải ngược lại" [31, tr. 321]. Vai trò quyết định của kinh tế đối với chính trị không chỉ biểu hiện ở chỗ, kinh tế sinh ra chính trị, mà còn biểu hiện ở chỗ, những biến đổi căn bản trong kinh tế sớm muộn sẽ dẫn đến những biến đổi căn bản trong chính trị. Theo Ph.Ăngghen, kinh tế là cái có trước, còn chính trị là cái có sau và là sự biểu hiện của kinh tế; kinh tế là tính thứ nhất, còn chính trị là tính thứ hai, cho nên sự biến đổi của chính trị bao giờ cũng bắt đầu từ sự biến đổi trong kinh tế. Nhưng không phải cứ có sự biến đổi nào về kinh tế thì ngay lập tức dẫn đến sự biến đổi về chính trị... Song, sự biến đổi của kinh tế sớm hay muộn cũng sẽ dẫn đến sự biến đổi về chính trị. Trong
Tài liệu liên quan