Đề tài Một số biện pháp làm giảm chi phí sản xuất kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh tại nhà máy da giầy Thái Bình

Quản lý và sử dụng chi phí sản xuất kinh doanh là một trong những nhiệm vụ quan trọng của quản trị sản xuất và kinh doanh trong doanh nghiệp. Việc tạo ra vốn để sản xuất đã khó, khi có vốn để sử dụng còn là nhiệm vụ khó khăn hơn rất nhiều. Sử dụng có hiệu quả chi phí để hạ thấp giá thành và tạo ra lợi thế cạnh tranh to lớn về giá cho doanh nghiệp. Đối với nhiều doanh nghiệp Việt Nam hiện nay vẫn chưa chú trọng hay có chăng thì cũng mới chỉ quan tâm ở mức đơn giản đến vấn đề này mà họ chưa quan tâm sâu sắc thực sự. Điều này khiến cho chi phí, giá thành sản xuất ở các doanh nghiệp Việt Nam so với nước ngoài vẫn rất cao và sức cạnh tranh thấp kém hơn nhiều. Điều này càng trở lên quan trọng hơn bao giờ hết khi nền kinh tế Việt Nam đứng trước xu thế hội nhập toàn cầu hoá. Trong thời gian thực tập tìm hiểu thực tế tại nhà máy da giầy Thái Bình ( chi nhánh của công ty cổ phần giầy Thăng Long ) em quyết định đi sâu nghiên cứu về lĩnh vực này nhằm tìm hiểu nguyên nhân và thực trạng về việc sử dụng chi phí sản xuất kinh doanh tại nhà máy nói riêng và ngành da giầy cũng như các ngành kinh tế nói chung, đồng thời nhằm tìm ra những biện pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng chi phí sản xuất kinh doanh với đề tài: “ Một số biện pháp làm giảm chi phí sản xuất kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh tại nhà máy da giầy Thái Bình”.

pdf52 trang | Chia sẻ: ttlbattu | Lượt xem: 1991 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Một số biện pháp làm giảm chi phí sản xuất kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh tại nhà máy da giầy Thái Bình, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
LUẬN VĂN: Một số biện pháp làm giảm chi phí sản xuất kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh tại nhà máy da giầy Thái Bình MỞ ĐẦU Quản lý và sử dụng chi phí sản xuất kinh doanh là một trong những nhiệm vụ quan trọng của quản trị sản xuất và kinh doanh trong doanh nghiệp. Việc tạo ra vốn để sản xuất đã khó, khi có vốn để sử dụng còn là nhiệm vụ khó khăn hơn rất nhiều. Sử dụng có hiệu quả chi phí để hạ thấp giá thành và tạo ra lợi thế cạnh tranh to lớn về giá cho doanh nghiệp. Đối với nhiều doanh nghiệp Việt Nam hiện nay vẫn chưa chú trọng hay có chăng thì cũng mới chỉ quan tâm ở mức đơn giản đến vấn đề này mà họ chưa quan tâm sâu sắc thực sự. Điều này khiến cho chi phí, giá thành sản xuất ở các doanh nghiệp Việt Nam so với nước ngoài vẫn rất cao và sức cạnh tranh thấp kém hơn nhiều. Điều này càng trở lên quan trọng hơn bao giờ hết khi nền kinh tế Việt Nam đứng trước xu thế hội nhập toàn cầu hoá. Trong thời gian thực tập tìm hiểu thực tế tại nhà máy da giầy Thái Bình ( chi nhánh của công ty cổ phần giầy Thăng Long ) em quyết định đi sâu nghiên cứu về lĩnh vực này nhằm tìm hiểu nguyên nhân và thực trạng về việc sử dụng chi phí sản xuất kinh doanh tại nhà máy nói riêng và ngành da giầy cũng như các ngành kinh tế nói chung, đồng thời nhằm tìm ra những biện pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng chi phí sản xuất kinh doanh với đề tài: “ Một số biện pháp làm giảm chi phí sản xuất kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh tại nhà máy da giầy Thái Bình”. CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NHÀ MÁY DA GIẦY THÁI BÌNH 1. Quá trình ra đời và phát triển của nhà máy da giầy Thái Bình. Xí nghiệp giầy Thái Bình có tiền thân là nhà máy thuộc da Thái Bình , xí nghiệp được thành lập theo quyết định số 30/QĐ – UB ngày 10/5/1978 của uỷ ban nhân dân tỉnh Thái Bình năm 1992 thực hiện quyết định 388/HĐBT của hội đồng bộ trưởng , nay là chính phủ và theo thông báo số 839 TB – BCN của bộ công nghiệp nhẹ ngày 19/10/1992 , và quyết định số 391/QĐ – UB ngày 3/1/1992 của uỷ ban nhân tỉnh Thái Bình , nhà máy được đổi tên thành nhà máy da giầy Thái Bình . Đến năm 1995 , do sự phát triển của nhà máy về quy mô sản xuất đã xin đổi tên thành công ty da giầy xuất khẩu Thái Bình . Theo xu hướng hội nhập với công ty lớn , và theo ý kiến chỉ đạo của chính phủ , của bộ công nghiệp , ngày 31/12/1999 công ty xuất khẩu giầy da Thái Bình được chuyển giao sát nhập với công ty giầy Thăng Long thuộc bộ công nghiệp bằng quyết định số 162/1999/QĐ – UB của uỷ ban nhân dân tỉnh Thái Bình và lấy tên là xí nghiệp giầy da Thái Bình . Ngày 14/10/2005 , công ty giầy Thăng Long chuyển đổi thành công ty cổ phần giầy Thăng Long , nhà máy giầy Thái Bình là chi nhánh nên cũng tiến hành cổ phần hoá theo công ty mẹ. Việc thành lập nhà máy đã thu hút và giải quyết việc làm cho lực lượng lao động dư thừa trong ngành nông nghiệp, từng bước thực hiện CNH – HĐH nông thôn theo đường lối kinh tế của Đảng và Nhà nước. Ngành nghề kinh doanh chính của nhà máy là sản xuất giầy vải và giầy thể thao và may gia công thuê khi có đơn đặt hàng. Trụ sở hoạt động của nhà máy tại Km 4+500 đường 10, phường Phú Khánh , thành phố Thái Bình với tổng diện tích khoảng 15000m2. Số điện thoại: 036838542, Fax: 036838704. 2. Cơ cấu tổ chức của nhà máy da giầy Thái Bình. Bộ máy quản trị của nhà máy được phân chia thành các phòng ban chức năng qua bảng sơ đồ hình 1.1. Đứng đầu trong bộ máy ban lãnh đạo là giám đốc , sau là các phó giám đốc chỉ đạo theo hướng từ trên xuống dưới , cơ cấu tổ chức quản lý của xí nghiệp được thiết lập thêo mô hình kiểu trực tuyến . + Giám đốc là người chịu trách nhiệm cao nhất tại nhà máy , đối với ban quản trị , hội đồng cổ đông của công ty cổ phần giầy Thăng Long . + Một phó giám đốc : Là người chịu trách nhiệm về công tác kỹ thuật chất lượng sản phẩm , quy trình công nghệ sản xuất giầy . + Một phó giám đốc : Là người chịu trách nhiệm về công tác sản xuất , cân đối kế hoạch , lập kế hoạch sản xuất , kế hoạch tiêu thụ , kế hoạch nguyên vật liệu đầu vào . *Dưới các phó giám đốc là các phòng ban chức năng : + Phòng tài vụ - tổ chức công tác hoạch toán kế toán đảm bảo đúng pháp lệnh kế toán thống kê tham mưu giúp ban giám đốc kiểm tra , giám sát và quản lý chặt chẽ về vật tư , tiền vốn , lao động một cách có hiệu quả nhất. + Phòng tổ chức hành chính - bảo vệ : - Tổ chức mọi hoạt động về công tác hành chính như : Khánh tiết , tiếp dân , tổ chức các chuyến đi công tác của giám đốc , phó giám đốc và cán bộ công nhân viên . - Tổ chức công tác văn thư , bảo mật tài liệu đi , đến . Tiếp nhận và lưu giữ hồ sơ của cán bộ công nhân viên trong toàn nhà máy . - Bảo vệ an toàn về con người và tài sản cho nhà máy . - Chăm sóc sức khoẻ cho công nhân viên như : nhà ăn , y tế , vệ sinh công nghiệp . Hình 1.1.Sơ đồ tổ chức bộ máy nhà máy giầy Thái Bình. Phó giám đốc sản xuất Phó giám đốc kỹ thuật Giám đốc Phòng TCHC - BV Phòng kinh doanh Phòng kế toán tài chính Phòng kỹ thuật + Phòng kỹ thuật : - Tham mưu giúp giám đốc về kỹ thuật và công nghệ , thiết kế mẫu mã sản phẩm . - Chế tạo ra sản phẩm mới để chào hàng , để làm mẫu đối . - Xây dựng định mức kinh tế kỹ thuật , nhằm quản lý vật tư nguyên vật liệu. - Quản lý chất lượng và kiểm tra chất lượng sản phẩm đến tay người tiêu dùng. * Từng phân xưởng thực hiện các nhiệm vụ của mình và tạo thành một ê kíp dây chuyền sau : + Phân xưởng chuẩn bị sản xuất có nhiệm vụ chuẩn bị các điều kiện vật liệu , bán thành phẩm cho các phân xưởng như gò , may . + Hai phân xưởng may có nhiệm vụ lắp ráp các chi tiết của đôi giầy mà phân xưởng chuẩn bị sản xuất đã chặt dao cho ra thành đôi giầy . + Phân xưởng cao su có nhiệm vụ đảm bảo phần đế giầy , các pooc sinh cho đôi giầy thêm cứng cáp . + Hai phân xưởng giầy hoàn thành bán thành phẩm của phân xưởng chuẩn bị sản xuất và phân xưởng may lắp ráp với nhau sau đó đưa lên dàn sấy hoàn chỉnh vệ sinh và đóng gói . Nhìn chung với bộ máy cơ cấu tổ chức như vậy ở nhà máy giầy Thái Bình là khá hoàn chỉnh về hình thức bởi nhà máy chỉ là một chi nhánh của công ty cổ phần giầy Thăng Long , và được kế thừa từ trước khi cổ phần hoá. 3. Các đặc điểm về kinh tế - kỹ thuật của nhà máy. 3.1. Đặc điểm về sản phẩm của nhà máy. Sản phẩm của nhà máy chủ yếu bao gồm 2 loại giầy đó là giầy vải và giầy thể thao . Nhà máy chủ yếu sản xuất theo các đơn đặt hàng của khách hàng vì thế mà nhà máy không lập kế hoạch tiêu thụ sản phẩm hàng năm . Việc sản xuất hàng ngày sẽ dựa trên khối lượng công việc để triển khai . Sản phẩm của nhà máy chủ yếu là hàng xuất khẩu , thị trường chủ yếu là xuất khẩu sang các nước Trung Quốc , Hàn Quốc , Nhật , Mỹ và các nước EU . Doanh thu hàng năm của nhà máy thì hàng xuất khẩu chiếm đến 80% doanh thu của nhà máy . Bảng 1.2. Bảng tỷ lệ doanh thu của hàng xuất khẩu. Chỉ tiêu 2003 2004 2005 2006 2007 Tổng doanh thu ( 1.000 ) 15.986.000 25.986.000 37.436.013 51.246.352 65.843.236 Tốc độ tăng tổng DT ( % ) ... 62,55 44,1 36,9 28,5 DT hàng xuất khẩu ( 1.000 ) 12.831.962 20.399.010 29.817.281 41.740.154 53.991.454 Tốc độ tăng DT hàng XK (%) ... 59 46,17 40 29,35 Tổng DT/ DT hàng XK (%) 80,27 78,5 79,65 81,45 82 Sản phẩm chủ yếu là hàng xuất khẩu , yêu cầu chất lượng phải cao cho lên chi phí giá thành cũng rất cao , giá vốn hàng hoá chiếm từ 85% đến 90% doanh thu của sản phẩm . Các loại chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất được tập hợp trực tiếp vào chi phí sản xuất . Đây là ngành cũng mang tính đặc thù , cho lên sản phẩm cũng mang tính mùa vụ . Thông thường vào các quý 1 và quý 4 thì công việc sản xuất và tiêu thụ diễn ra cao hơn do khách hàng đặt nhiều đơn hàng vào mùa rét , còn vào các quý 2 và 3 là mùa nóng nên có ít hợp đồng hơn . Đây cũng là bài toán lớn đặt ra cho ban quản trị nhà máy vì vào vụ sản xuất chính nhiều công việc, hợp đồng mà có khi nhà máy không đáp ứng nổi , lúc thì lo ngại giải quyết việc làm và dư thừa công suất máy móc .... Qua bảng số liệu cho thấy tốc độ tăng của doanh thu hàng xuất khẩu đồng thời tương ứng với tốc độ tăng tổng doanh thu của nhà máy. Chỉ 2 năm gần đây cơ cấu tăng đó có chút thay đổi. Tốc độ tăng của doanh thu hàng xuất khẩu thay đổi theo chiều hướng tăng nhanh hơn tổng doanh thu. 3.2. Đặc điểm về tình hình lao động tại nhà máy. Bắt đầu từ ngày thành lập đến nay , nhà máy đã trải qua nhiều biến đổi to lớn . Những ngày đầu thành lập , nhà máy chỉ có 120 cán bộ công nhân viên vào năm 1978 . Số lượng cán bộ công nhân viên dần tăng lên cùng với sự lớn lên của nhà máy , mở rộng sản xuất . Cho đến năm 2005 , nhà máy đã có tất cả hơn 1000 cán bộ công nhân viên , tuy nhiên đến cuối năm 2005 do sự cổ phần hoá và đổi mới , cùng với công ty giầy Thăng Long , chi nhánh tại nhà máy giầy Thái Bình cũng tiến hành đổi mới và cắt giảm lao động trong nhà máy , những lao động dôi dư được nhà máy giải quyết thoả đáng theo nghị định 41/2002/NĐ – CP và theo bộ luật lao động . Hiện nay lực lượng nhân lực của nhà máy là 580 người và được bố trí như sau: + Cán bộ quản lý : 15 người + Lao động phụ trợ, lái xe, thủ kho: 22 người + Công nhân trực tiếp sản xuất: 543 người Bảng 1.3. Cơ cấu và cấp bậc nhân công trực tiếp sản xuất. Đơn vị: Người Lĩnh vực phân công sản xuất Bậc 1 Bậc 2 Bậc 3 Bậc 4 Bậc 5 Bậc 6 Công nhân chuẩn bị sản xuất 50 14 7 12 9 5 3 Công nhân cán luyện cao su 32 5 8 8 7 2 2 Công nhân may 240 105 66 40 13 10 6 Công nhân gò 221 79 91 30 8 8 5 Tổng 543 203 172 90 37 25 16 Tỷ lệ cấp bậc công việc ( % ) 100 37,38 31,68 16,57 6,8 4,6 2,97 Nhà máy bao gồm : 174 người là nam giới và 406 người là nữ giới. Cơ cấu này tương đối hợp lý bởi đặc thù của ngành nên cần sử dụng nhiều lao động nữ, đối với lao động nam chủ yếu cần cho bộ phận làm công việc cán luyện cao su, chặt cắt, bốc vác và các công việc nặng nhọc khác. Nhìn chung toàn bộ nhân lực trong nhà máy chủ yếu là lao động phổ thông, trình độ văn hoá trung bình. Chỉ cán bộ quản lý và những nhân viên kỹ thuật là đã qua qua đào tạo cơ bản tại trường đại học và cao đẳng. Toàn bộ nhân lực bao gồm: Số người qua đại học và cao đẳng là 17 người, trung cấp 21 người, lớp 12/12 là 220 người, lớp 9/12 là 322 người. Lao động chủ yếu được đào tạo tại nhà máy qua một thời gian ngắn và làm việc ngay vì đối tượng lao động này không yêu cầu quá cao, công việc cũng không quá phức tạp, công việc được chia thành nhiều khâu, nhiều công việc và những người lao động chỉ đảm nhiệm một công việc chuyên môn cụ thể và hoàn thành tốt công việc đó là được. Cán bộ ở các phòng ban tổ chức và lãnh đạo sau cổ phần hoá gần như đều được giữ nguyên mà không có gì thay đổi, trong đó bà Lương Thị Bắc giữ cương vị là giám đốc và bà Nguyễn Thị Châm là phó giám đốc kế hoạch và sản xuất đồng thời là những cổ đông sáng lập của công ty cổ phần giầy Thăng Long. Chi phí cho nhân lực là một trong những yếu tố quan trọng trong quản trị chi phí. Đối với ngành da giầy nói chung và nhà máy da giầy Thái Bình nói riêng thì chi phí nhân lực lại có vai trò càng quan trọng, đặc biệt là chi phí giành cho nhân công trực tiếp sản xuất vì lực lượng lao động này chiếm tỷ lệ rất lớn trong nhà máy. Tuy nhiên trong nhà máy, số lượng công nhân bậc 1 và bậc 2 chiếm đến 70% số lượng công nhân trực tiếp sản xuất. Điều đó có nghĩa phần lớn lao động trong nhà máy trình độ là thấp kém, phổ thông, họ được đào tạo thiếu cơ bản. Điều này sẽ khiến cho năng suất lao động kém hiệu quả, hơn nữa nhà máy phải bỏ ra chi phí không phải là nhỏ để đào tạo số lượng công nhân này chưa được qua đào tạo. Đối với đội ngũ cán bộ nhân viên, chủ yếu là là những người cũ, ít cán bộ trẻ, chủ yếu họ cũng được đào tạo không chính quy cho lên năng lực lãnh đạo của các cán bộ không cao, ít sáng tạo. Việc điều hành sản xuất của nhà máy dựa trên những gì đã có sẵn mà ít đổi mới, sáng tạo, điều này ảnh hưởng to lớn đến khả năng phát triển của nhà máy. 3.3. Đặc điểm về công nghệ và trang thiết bị. 3.3.1. Đặc điểm về trang thiết bị. Máy móc và thiết bị của ngành giầy mang tính chuyên dùng cao , khác với nhiều ngành công nghiệp khác , các máy dùng trong ngành giầy chỉ đảm nhiệm được một nhiệm vụ sản xuất ra một yếu tố , bộ phận nào đó trên chiếc giầy . Do đặc điểm của xí nghiệp chuyên sản xuất 2 loại giầy là giầy vải và giầy thể thao nên thiết bị cũng là những thiết bị chuyên dùng cho ngành giầy và sản xuất 2 loại giầy này . Thiết bị chủ yếu được nhập của Hàn Quốc , Đài Loan , Italia , Đức , Mỹ . Nhà máy hiện nay có 2 dây chuyền sản xuất giầy vải và 2 dây chuyền sản xuất giầy thể thao . Thiết bị máy móc đã giảm nhẹ rất nhiều lao động thủ công , tạo ra năng suất ngày càng cao , do đó nhà máy phải luôn quan tâm đến công tác quản lý , giám sát rất chặt chẽ quá trình sử dụng và sản xuất . Nhà máy có tất cả đến 26 loại máy móc thiết bị , trong đó các loại máy như : máy may bàn , máy may trụ , máy may ziczăc , máy dập ôdê , máy bồi vải , máy chặt , máy cán , máy dẫy da , máy đùn bím , máy cắt , máy gò , máy ép là những loại máy có yếu tố quan trọng trong quá trình sản xuất của nhà máy . Bảng 1.4. Bảng thống kê thiết bị máy móc đang sử dụng của nhà máy. Số TT Tên tài sản Số lượng (chiếc ) Nguyên giá (1.000 ) Giá trị còn lại (1.000 ) 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 Tổng giá trị thiết bị tài sản Máy may bàn 1 kim ( Đài Loan ) Máy may bàn 2 kim ( Hàn Quốc ) Máy may bàn 1 kim ( Hàn Quốc ) Máy may trụ 1 kim ( Hàn Quốc ) Máy may trụ 1 kim ( Nhật ) Máy may trụ 2 kim ( Nhật ) Máy may trụ 2kim ( Hàn Quốc ) Máy may ziczăc ( Hàn Quốc ) Máy dập ôdê (Đài Loan ) Máy bồi vải (Đài Loan ) Máy chặt vải ( Hàn Quốc ) Máy chặt JY ( Đài Loan ) Máy dẫy da ( Nhật ) Máy cán cao su ( Trung Quốc ) Máy chặt đế nhiệt ( Đài Loan ) Máy đùn bím 3 mầu ( Hàn Quốc ) Máy cắt vỉa IR ( Đài Loan ) Máy gò mũi ( Đài Loan ) Máy gò gót ( Đài Loan ) Máy gò mang ( Đài Loan ) Máy ép đế ( Đài Loan ) Máy ép bím ( Đài Loan ) Máy vệ sinh giầy ( Việt Nam ) Máy quét keo chân gò ( Hàn Quốc ) Hệ thống băng truyền sản xuất giầy Nồi hấp giầy 5800C ( Việt Nam ) 15 85 36 21 2 1 10 2 4 1 7 1 2 2 1 1 1 2 2 2 2 2 2 2 1 2 6.448.000 90.000 1.020.000 389.000 320.000 38.000 16.000 127.000 18.000 126.000 352.000 401.000 56.000 37.000 381.000 87.000 166.000 56.000 497.000 195.000 60.000 103.000 134.000 4.000 54.000 1.508.000 362.000 4.530.000 60.000 752.000 290.000 225.000 35.000 7.000 90.000 13.000 92.000 253.000 259.000 41.000 23.000 271.000 59.000 123.000 33.000 395.000 152.000 47.000 79.000 103.000 2.000 35.000 907.000 126.000 Máy móc thiết bị là tài sản lớn, công việc chọn mua và sử dụng những máy móc nào cho thích hợp với điều kiện kinh doanh của nhà máy, điều kiện cho sản xuất có vai trò rất quan trọng, vì máy móc là nhân tố ảnh hưởng rất lớn tới kết quả sản xuất kinh doanh. Nhìn chung ở nhà máy hầu hết các máy móc thiết bị mua về là những công nghệ hoặc đã qua sử dụng hoặc có mua mới thì cũng là những công nghệ đã lạc hậu cho lên năng lực sản xuất không cao, chi phí cho sửa chữa cũng khá tốn kém, việc tính cho khấu hao cũng trở lên phức tạp. 3.3.2. Quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm . Sơ đồ hình 1.5 là quy trình sản xuất sản phẩm của nhà máy . Quy trình sản xuất bắt đầu từ khi có đơn hàng , ban giám đốc lên kế hoạch sản xuất , sau đó lệnh sản xuất được đưa đến các phân xưởng . Các phân xưởng có nhiệm vụ thực hiện các công việc của mình theo các kế hoạch đã được bàn giao . Phân xưởng chuẩn bị sản xuất có nhiệm vụ chặt da , vải , xốp ... thành các chi tiết theo mẫu đã được thiết kế tuỳ theo từng mã hàng . Sau đó giao cho phân xưởng may mũ giầy . Ngoài ra còn phải in ấn các cỡ số , biểu tượng tem chất liệu trang trí trên đôi giầy theo yêu cầu của khách hàng . Hai phân xưởng may có nhiệm vụ lắp ráp các chi tiết của đôi giầy mà phân xưởng chuẩn bị sản xuất đã chặt giao cho ra thành đôi mũ giầy . Phân xưởng cao su có nhiệm vụ đảm bảo phần đế giầy , các pooc sinh cho đôi giầy thêm cứng cáp . Hai phân xưởng giầy hoàn thành nhận bán thành phẩm của phân xưởng chuẩn bị sản xuất và xưởng may lắp ráp với nhau , sau đó sản phẩm được chuyển sang phân xưởng cơ điện . Ở đây những đôi giầy được đưa lên dàn sấy , hoàn chỉnh vệ sinh và đóng gói , và kết thúc một quá trình sản xuất . Tuy nhiên cần bố trí sao cho giữa các bộ phận , phân xưởng sản xuất cần có sự nhịp nhàng đồng bộ , tránh sự ùn tắc , không đồng đều giữa các bộ phận với nhau, và cần xắp xếp 1 cách thuận lợi để tạo ra năng suất cao nhất . Hình 1.5. Sơ đồ quy trình sản xuất sản phẩm. Kho nguyên liệu phần mũ giầy Gia công cán ép Hoá chất + keo Dán ép đế Bán thành phẩm đế Gia công chi tiết Chặt + cắt Cán , bồi vải Kho nguyên liệu phần đế Mẫu đối (đơn hàng) Gò ráp mũ với đế giầy Kế hoạch (lệnh sản xuất) Vệ sinh + KCS Máy mũ giầy Sản phẩm hoàn thành 3.4. Đặc điểm về quản lý vật tư, cung ứng nguyên vật liệu . Doanh nghiệp làm tốt công tác định mức tiêu dùng vật liệu là cơ sở để lập kế hoạch cung ứng vật tư , dự trữ vật tư , từ đó sử dụng có hiệu quả vật tư , tiết kiệm vật tư để hạ giá thành sản phẩm . Tuy nhiên đối với nhà máy giầy Thái Bình chủ yếu là sản xuất theo các hợp đồng kinh tế mà công ty cổ phần giầy Thăng Long đã ký kết , và các hợp đồng chủ yếu là gia công cho nên nguồn nguyên vật liệu chủ yếu cũng được cấp phát là chính , và do chính khách hàng cung cấp mà nhà máy chỉ việc sử dụng vào sản trong xuất. Ngoài ra nhà máy có thể chủ động thu mua nguyên vật liệu để đáp ứng cho nhu cầu sản xuất của mình , cho những hợp đồng mà tự nhà máy ký kết được và phải chuẩn bị thu mua cả nguyên vật liệu đầu vào . Hàng tháng , căn cứ vào nhu cầu vật tư cần giải quyết của nhà máy , nhu cầu của khách hàng mà phòng kế hoạch vật tư thu vật tư về nhập kho . Ngay từ khi nhận được bản thiết kế mẫu đơn hàng do khách hàng giao cho , bộ phận thiết kế , kỹ thuật , cùng với bộ phận vật tư phải nghiên cứu để đưa ra được hạn mức vật tư cho sản phẩm sao cho phù hợp . Mức tiêu dùng vật tư được xác định qua các bước như sau : + Bước 1 : Cán bộ phòng kế hoạch vật tư phải nghiên cứu bản vẽ thiết kế mẫu sản phẩm . + Bước 2 : Xác định trọng lượng của tinh sản phẩm . + Bước 3 : Phòng kế hoạch tiến hành xác định mức cho các bước công nghệ ( các chi tiết trong sản phẩm ). + Bước 4 : Xác định kích thước sản phẩm , kết hợp với tỷ lệ hao hụt , hư hỏng trong quản lý . Từ đó xác định được mức vật tư cần tiêu thụ trong 1 đơn hàng cụ thể là bao nhiêu và có kế hoạch cung cấp cụ thể như thế nào . Hàng năm , cứ 6 tháng nhà máy lại tiến hành kiểm kê kho hàng , vật tư được bố trí sắp xếp theo từng loại và khu vực , các loại vật liệu chính và vật liệu phụ . Kho vật tư được chia thành nhiều khu vực , mỗi khu vực sắp xếp một loại vật tư và được bố trí khá hợp lý : vật tư hay sử dụng để bên ngoài , loại nào ít sử dụng để bên trong , loại có giá trị cao để bên dưới , loại có giá trị thấp để bên trên . Tuy nhiên nhìn chung nhà máy chỉ chủ động thu mua những nguyên vật liệu phụ, ít giá trị, còn những nguyên vật liệu chính chủ yếu là do chính khách hàng cung cấp. Vì vậy công tác thu mua và tính toán chi phí nguyên vật liệu của nhà máy không quá phức tạp. 3.5. Đặc điểm về tình hình tài chính nhà máy da giầy Thái Bình Khi nhà máy giầy Thái Bình là một doanh nghiệp nhà nước độc lập thì vốn góp ban đầu chính là vốn nhà nước . Sau đó liên kết với công ty giầy Thăng Long và là một nhà máy trực thuộc của công ty giầy Thăng Long . Ngày 14/10/2005 , công ty giầy Thăng Long chuyển đổi cổ phần hoá thì nhà máy giầy Thái Bình c
Tài liệu liên quan