Đề xuất từng bước xây dựng mô hình học tập kết hợp B-L (Blended Learning) tại khoa Việt Nam học, trường Đại học Hà Nội

Bài viết hướng tới triển khai mô hình đào tạo kết hợp BL (Blended learning), một trong những mô hình đào tạo của e-learning tại Khoa Việt Nam học, Trường Đại học Hà Nội. Mô hình kết hợp cả hai hình thức dạy học truyền thống và dạy học trực tuyến elearning nhằm mang kết quả cao nhất cho người học, đó là mô hình học tập kết hợp Blended solution hay Blended learning. Với những lợi thế của hình thức đào tạo truyền thống như cung cấp tương tác tốt giữa người dạy và người học, người dạy có thể theo dõi sự tiến bộ của người học, đưa ra các tác động sư phạm cần thiết và những lợi thế của e-learning mang lại, hình thức đào tạo này được coi như một cách lựa chọn hợp lí, cung cấp cho người học một quá trình đào tạo tổng thể. Việc triển khai Blended learning trong giáo dục đào tạo tại Khoa Việt Nam học, Trường Đại học Hà Nội là một xu hướng tất yếu nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng giảng dạy cũng như học tập tiếng Việt và văn hóa Việt Nam, đồng thời cũng là việc làm cần thiết để chúng ta tiếp cận với giáo dụng thế giới hiện nay.

pdf8 trang | Chia sẻ: thanhle95 | Lượt xem: 54 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề xuất từng bước xây dựng mô hình học tập kết hợp B-L (Blended Learning) tại khoa Việt Nam học, trường Đại học Hà Nội, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Chin lc ngoi ng trong xu th hi nhp Tháng 11/2014 447 ĐỀ XUẤT TỪNG BƯỚC XÂY DỰNG MÔ HÌNH HỌC TẬP KẾT HỢP B-L (BLENDED LEARNING) TẠI KHOA VIỆT NAM HỌC, TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀ NỘI Đào Th Thanh Huyn Trường Đại học Hà Nội Tóm t t: Bài viết hướng tới triển khai mô hình đào tạo kết hợp BL (Blended learning), một trong những mô hình đào tạo của e-learning tại Khoa Việt Nam học, Trường Đại học Hà Nội. Mô hình kết hợp cả hai hình thức dạy học truyền thống và dạy học trực tuyến e- learning nhằm mang kết quả cao nhất cho người học, đó là mô hình học tập kết hợp Blended solution hay Blended learning. Với những lợi thế của hình thức đào tạo truyền thống như cung cấp tương tác tốt giữa người dạy và người học, người dạy có thể theo dõi sự tiến bộ của người học, đưa ra các tác động sư phạm cần thiết và những lợi thế của e-learning mang lại, hình thức đào tạo này được coi như một cách lựa chọn hợp lí, cung cấp cho người học một quá trình đào tạo tổng thể. Việc triển khai Blended learning trong giáo dục đào tạo tại Khoa Việt Nam học, Trường Đại học Hà Nội là một xu hướng tất yếu nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng giảng dạy cũng như học tập tiếng Việt và văn hóa Việt Nam, đồng thời cũng là việc làm cần thiết để chúng ta tiếp cận với giáo dụng thế giới hiện nay. Những năm gần đây, cùng với sự phát triển của tin học và truyền thông, các phương thức giáo dục ở Việt Nam ngày càng được cải tiến, nâng cao chất lượng, tiết kiệm thời gian và tiền bạc cho người học. Sự phát triển đó cũng phù hợp với Chỉ thị 58-CT/TW ngày 17/02/2000 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Chỉ thị nêu rõ “Đẩy mạnh công nghệ thông tin trong công tác giáo dục và đào tạo ở các cấp học, bậc học, các ngành học. Phát triển các hình thức đào tạo từ xa phục vụ cho nhu cầu học tập của toàn xã hội. Đặc biệt, tập trung phát triển mạng máy tính phục vụ cho giáo dục và đào tạo, kết nối mạng internet tất cả các cơ sở giáo dục và đào tạo”. Theo đó, thuật ngữ E- learning, Blended learning cũng đã dần dần trở nên quen thuộc đối với chúng ta. Sau đây, chúng ta sẽ tìm hiểu sâu hơn về các khái niệm đó. 1. Khái niệm về E-learning và Blended Learning 1.1. Khái niệm chung Thuật ngữ mới e-learning là tên viết tắt của cụm từ tiếng Anh “electronic learning”. Dưới đây là một số trong rất nhiều những quan điểm, định nghĩa khác nhau về thuật ngữ này: - Theo William Horton, e-learning là việc sử dụng các công nghệ Web và Internet trong học tập. - Theo MASIE Center, e-learning là việc học tập hay đào tạo được chuẩn bị, truyền tải hoặc quản lý sử dụng nhiều công cụ của công nghệ thông tin, truyền thông khác nhau. - Theo Edusoft Ldt., e-learning là cách thức học mới qua mạng Internet, qua đó học viên có thể học mọi lúc, mọi nơi, học theo sở thích và học suốt đời. Tuy có nhiều cách hiểu nhưng nói chung e- learning đều có ba đặc điểm chung như sau: - Dựa vào công nghệ thông tin và truyền thông trên nền tảng mạng Internet và công nghệ Web. - Về bản chất thì đó vẫn là quá trình truyền tải kiến thức từ người dạy đến người học dưới sự giám sát của hệ thống quản lí. Do vậy, cần tuân thủ các tiến trình cơ bản trong quá trình đào tạo và triển khai hệ thống. E-learning luôn được hiểu là gắn liền với quá trình học hơn là quá trình dạy học. - E-learning tạo điều kiện cho người học và người dạy hay giữa cộng đồng người học với nhau trao đổi thông tin dễ dàng hơn, cũng như đưa ra nội dung học tập phù hợp với khả năng và sở thích của từng cá nhân. Vậy, chúng ta có thể hiểu một cách đầy đủ nhất Ti u ban 3: Đào to ting Vit nh mt ngoi ng cho ngi n c ngoài 448 e-learning là quá trình đào tạo dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông nhằm hướng tới thực hiện tốt mục tiêu học tập, trong đó người học dễ dàng lựa chọn nội dung học tập phù hợp với khả năng, sở thích từng cá nhân và sự tương tác trực tiếp giữa người dạy và người học cũng như giữa cộng đồng học tập được thực hiện một cách thuận lợi. 1.2. Mô hình khái niệm e-learning Mô hình tổng quát khái niệm e-learning gồm 4 thành phần, mỗi thành phần đều được tách riêng biệt và cung cấp các dịch vụ khác nhau, toàn bộ hoặc một phần của những thành phần này sẽ được truyền tải đến người học thông qua các phương tiện truyền thông điện tử. a) Nội dung: Bao gồm các nội dung đào tạo, bài giảng được thể hiện dưới dạng phương tiện truyền tải, đa phương tiện. b) Phân phối: Phân phối các nội dung đào tạo được thực hiện thông qua các phương tiện điện tử. Ví dụ tài liệu được gửi cho người học bằng email, người học học trên website hoặc qua đĩa CD- ROM multimedia c) Quản lí: Quá trình quản lí học tập, đào tạo được thực hiện nhờ phương tiện truyền thông điện tử. Ví dụ: đăng kí học, theo dõi tiến độ học tập, thi kiểm tra đánh giá thực hiện thông qua mạng internet. d) Hợp tác: Sự hợp tác, trao đổi của người học trong quá trình học tập qua phương tiện truyền thông điện tử. Ví dụ: thảo luận thông qua chatting, forum trên mạng. 1.3. Đối tượng tham gia e-learning Con người được coi là chủ thể trong hệ thống e-learning. Con người ở đây gồm: người học, người dạy và người quản trị. - Công việc của người dạy là chuẩn bị kịch bản, biên soạn bài giảng, cung cấp kiến thức cho người học, trao đổi thông tin với người học, theo dõi quá trình học tập của người học - Công việc của người học là học tập (chủ yếu là tự học) để lĩnh hội kiến thức, trao đổi thông tin với người dạy và người học khác - Công việc của người quản trị là quản lí quá trình học, thông tin cá nhân, cấp và xóa tài khoản của người học, quản lí quá trình dạy, cấp quyền 1. Người dạy 2. Người học 3. Người quản trị Chin lc ngoi ng trong xu th hi nhp Tháng 11/2014 449 cho người dạy, quản lí chương trình học, thời khóa biểu 1.4. Đặc điểm của e-learning Hiện nay, e-learning đang phát triển rất mạnh mẽ và thu hút được sự quan tâm đặc biệt của người dạy, người học cũng như các cơ sở đạo tạo ở Việt Nam cũng như trên thế giới. E-learning được coi như một phương thức đào tạo trong tương lai gần. Về bản chất, đó vẫn là quá trình truyền tải kiến thức từ phía người dạy tới người học nhưng vẫn có những đặc điểm khác biệt với lớp học truyền thống (face-to-face). Sau đây chúng ta có thể so sánh một vài sự khác biệt giữa lớp học truyền thống và lớp học e-learning. Yếu tố Lớp học truyền thống Lớp học e-learning Lớp học - Phòng học, kích thức hạn chế - Số lượng người học hạn chế - Học đồng bộ (học tập theo một trình tự nhất định) - Mọi lúc, mọi nơi - Số lượng người học không hạn chế - Học không đồng bộ (chủ động lựa chọn nội dung phù hợp) Phương tiện - Power point - Giáo trình, thư viện - Video - Đa phương tiện - Thư viện số - Đồng bộ hay không đồng bộ Thích ứng cá nhân - Cách thức học tập chung cho mọi người - Cách thức và nhịp độ học tập được xác định bởi người học. Bản chất - Người dạy làm trung tâm - Người học làm trung tâm E-learning là mô hình đào tạo kết hợp cân đối giữa lí thuyết và thực hành trong môi trường đào tạo trực tuyến. Tại sao e-learning đang trở thành xu thế tất yếu trong nền kinh tế tri thức? Bởi hình thức này có rất nhiều ưu điểm. a) Đối với người học: E-learing cung cấp một phương pháp hiệu quả và thuận lợi để học các kĩ năng và kiến thức. Người học có thể học mọi lúc mọi nơi, dù đang ở đâu và vào lúc nào. Người học cũng không cần phải đi lại nhiều và vẫn có thể vừa học vừa làm bởi họ có thể tự quyết định tiến trình học tập của mình. Người học tham gia các khóa học e-learning được thiết kế hợp lí kèm theo multimedia làm cho thông tin phong phú, đa dạng khiến cho hiệu quả học tập tăng lên rõ rệt. Các khóa học này được triển khai trong thời gian ngắn nhưng vẫn bảo đảm được chất lượng. Tham gia các khóa học e-learning, người học dễ dàng truy nhập những tài liệu khi cần thiết, đặc biệt nó còn phù hợp với những người có sức khỏe yếu hay tàn tật không có điều kiện đến các cơ sở đào tạo để học tập. Tóm lại, e-learning cho phép học viên làm chủ hoàn toàn quá trình học của bản thân, từ thời gian, lượng kiến thức cần học cũng như thứ tự học các bài, đặc biệt là cho phép tra cứu trực tuyến những kiến thức có liên quan đến bài học một cách tức thời, duyệt lại những phần đã học một cách nhanh chóng, tự do trao đổi mới những người cùng học hoặc giáo viên ngay trong quá trình học, những điều mà theo cách học truyền thống là không thể hoặc đòi hỏi chi phí quá cao. Tuy nhiên, hình thức đào tạo e-learning cũng có nhiều điểm hạn chế đối với người học. Đó là việc đòi hỏi người học phải có kĩ thuật phức tạp (phải thông thạo một số kĩ năng sử dụng máy tính, cài đật và sử dụng các phần mềm liên quan đến bài học), cần có chi phí cao (máy tính phải có cấu hình phù hợp, được kết nối internet). Một số người học cũng có thể cảm thấy buồn tẻ, thiếu quan hệ bạn bè, thầy cô và sự tiếp xúc trên lớp. Việc học tập qua mạng cũng đòi hỏi người học phải có trách nhiệm hơn, tự giác hơn với việc học của mình, nếu không tự giác học tập, khóa học e- learning sẽ thất bại hoàn toàn b) Đối với các cơ sở đào tạo: Khi thiết kế và cung cấp các khóa học trực tuyến e-learing, các cơ sở đào tạo có thể giảm chi phí tổ chức và quản lí đào tạo trong khi vẫn đào tạo được số lượng lớn Ti u ban 3: Đào to ting Vit nh mt ngoi ng cho ngi n c ngoài 450 người học. Sở dĩ nói như vậy vì các cơ sở cần ít phương tiện hơn, các máy chủ và phần mềm cần thiết cho việc học trên mạng có chi phí rẻ hơn rất nhiều so với việc xây dựng các phòng học và các các cơ sở vật chất khác. Các khóa học e-learning cũng giảm chi phí cho người dạy vì giáo viên không phải mất thời gian đến chỗ dạy, việc này sẽ tiết kiệm được khá nhiều các chi phí khác. Nhưng chúng ta cũng cần rõ, một khóa học e- learning làm giảm chi phí tổ chức và quản lí đào tạo nhưng phát triển một lớp học e-learning có thể tốn gấp 4-10 lần so với một khóa học thông thường với nội dung tương đương. Do đó, khi quyết định lựa chọn hình thức đào tạo e-learning hay truyền thống chúng ta cần xem xét, so sánh giữa chi phí phát triển khóa học với chi phí quản lý khoa học. Thêm vào đó, việc triển khai e- learning cũng đòi hỏi người dạy cần phải có những kĩ năng mới so với giảng dạy theo cách truyền thống. Các cơ sở đào tạo cũng cần tính đến việc sẽ gặp phải sự ngần ngại từ phía người học hay việc một số môn học cần sự tương tác trực tiếp không thể triển khai mô hình học trực tuyến e-learning. 1.5. Hình thức đào tạo Blended Learning Việc triển khai áp dụng e-learning khá đa dạng, đơn giản nhất là hình thức cung cấp bài giảng điện tử trên đĩa CD-ROM (CBT-Computer Based Tranning) cho người học tự học và phức tạp hơn là những lớp học ảo được tổ chức trên mạng internet với sự quản lí một cách có hệ thống. Trong e-learning có một số hình thức đào tạo cơ bản sau, trong đó tác giả bài viết rất chú trọng đến hình thức thứ 4, Blended learning, mô hình đào tạo kết hợp. a) Hình thức đào tạo không đồng bộ (Asynchronous learning) Đối với hình thức đào tạo này, việc dạy và học diễn ra không đồng thời, giữa người dạy và người học không có sự tương tác trực tiếp với nhau. Người dạy chuẩn bị bài học trước khi khóa học diễn ra, còn người học có quyền quyết định khi họ muốn tham gia vào mộ khóa học. Đào tạo không đồng bộ gồm các hình thức sau: từ học trên web/internet/intranet (đào tạo dựa trên cơ sở Web- WBT-Web Based Tranning); học bằng băng cassette hay băng video; hỏi và trả lời qua diễn dàn hoặc email. Lợi ích của hình thức học này là người học thoải mái hơn về thời gian, đây là một phương pháp tự học tốt nhưng nhược điểm của nó là người học có thể cảm thấy bị cô lập hoặc đôi khi động lực học tập bị giảm đi. Thêm nữa, học tập không đồng bộ không cung cấp phản hồi ngay lập tức về kết quả học tập của người học. b) Hệ thống đào tạo đồng bộ (Synchronous learning) Đây là việc học tập có sự hướng dẫn trực tiếp của người dạy, người học tham gia học gần như cùng một thời điểm và trao đổi thông tin trực tiếp với nhau. Việc học tập diễn ra thông qua internet/intranet, sử dụng hệ thống quản lí học tập LMS (Learning Management System). Người học và người dạy có thể có khoảng cách về không gian. Đào tạo đồng bộ được thực hiện qua các hình thức: học qua chương trình truyền hình trực tiếp, hội thảo bằng âm thanh và hình ảnh, điện thoại internet. Hình thức học này giúp cung cấp ngay E-learning a) Asynchronous learning b) Synchronous learning c) Virtual learning d) Blended learning Chin lc ngoi ng trong xu th hi nhp Tháng 11/2014 451 những phản hồi về quá trình học tập của người học để người dạy và người học có những điều chỉnh cần thiết. c) Hình thức đào tạo (Virtual learning) Đây là hình thức học tập được tổ chức ở các “lớp học ảo” ngay trên mạng như các lớp học thông thường và thông qua mạng internet/intranet, sử dụng hệ thống quản lí học tập LMS. Các giờ học trực truyến được tổ chức để thảo luận về các vấn đề giữa người học và người dạy, giữa các người học với nhau. Người học có thể học trực tiếp hoặc xem lại các bài giảng và làm bài tập off- line với hình thức giống như đang tham gia lớp học trực tiếp. d) Mô hình đào tạo kết hợp (Blended learning) E-learning sẽ trở thành xu thế của thời đại nhưng chúng ta cũng không thể phủ nhận rằng cách học truyền thống vẫn sẽ phải là phương thức chủ yếu và phổ biến bởi nó phù hợp với tất cả các người học và gắn liền với thói quen mỗi người từ khi còn nhỏ, nên với cách học truyền thống người học cảm thấy được tiếp xúc nhiều hơn, “an toàn” hơn khi được nghe giảng trực tiếp, được giải quyết vấn đề trực tiếp với giáo viên. Nó còn phù hợp với nhiều dạng học viên khác nhau, đối với những học viên không tự giác, không có thói quen tự làm việc hay chủ động làm việc thì cách học truyền thống ít nhiều cũng có tác động đến họ khi họ được học trực tiếp với giáo viên trên lớp. Đối với giáo viên cũng có thể quan sát được thái độ học tập và khả năng học tập của mỗi học viên thông qua tiếp xúc trực tiếp. Nhưng ngược lại, chúng ta cũng phải công nhận những ưu điểm tuyệt vời của e-learning (như đã phân tích ở trên), những ưu điểm đó chúng ta không thể tìm thấy ở cách dạy học truyền thống. Vậy nên có một mô hình kết hợp cả hai hình thức dạy học truyền thống và dạy học trực tuyến e-learning nhằm mang kết quả cao nhất cho người học, đó là mô hình học tập kết hợp Blended solution hay Blended learning. Blended learning cũng có nhiều cách triển khia, nhiều mô hình dạy và học. Ví dụ mô hình đào tạo kết hợp giữa hình thức đào tạo đồng bộ với hình thức đào tạo truyền thống hoặc giữa hình thức đào tạo không đồng bọ với hình thức đào tạo truyền thống E-learning cũng cần sự tiếp xúc giữa người dạy và người học, sự tiếp xúc nhiều hay ít là tùy thuộc và đặc trưng của mỗi môn học hay mục tiêu đào tạo của các cơ sở đào tạo. Trong giai đoạn đầu của quá trình học, khi người học chưa có định hướng rõ ràng về chương trình, phương pháp, mục tiêu học tập thì người dạy cần có sự hướng dẫn và trao đổi trực tiếp để giúp đỡ họ (giai đoạn này giống như hình thức đào tạo truyền thống). Các khóa học tiếp theo là mô hình đào tạo kết hợp này có một số nội dung giảng dạy trực tiếp trên lớp học và một số được dạy qua hệ thống e- learning làm cho người học cảm thấy hứng thú hơn, tiếp thu được nhiều lợi ích hơn nhờ việc tận dụng tất cả các ưu điểm của cả hai hình thức đào tạo truyền thống và e-learning. Với những lợi thế của hình thức đào tạo truyền thống như cung cấp tương tác tốt giữa người dạy và người học, người đạy có thể theo dõi sự tiến bộ của người học, đưa ra các tác động sư phạm cần thiết và những lợi thế của e-learning mang lại, hình thức đào tạo này được coi như một cách lựa chọn hợp lí, cung cấp cho người học một quá trình đào tạo tổng thể. 2. Đề xuất triển khai giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ tại khoa Việt Nam học, Trường Đại học Hà Nội dựa trên mô hình Blended Learning 2.1. Đề xuất chủ trương Trong xu thế hội nhập kinh tế, văn hóa toàn cầu, nhu cầu học tập và tìm hiểu văn hóa Việt Nam của người nước ngoài ngày càng tăng. Khoa Việt Nam học, Trường Đại học Hà Nội từ khi thành lập năm 2004 đến nay đã đào tạo được hàng ngàn cử nhân tiếng Việt và văn hóa Việt Nam, góp phần tăng cường cầu nối hữu nghị giữa Việt Nam với các nước trên thế giới. Đối tượng người học từ chỗ thuần nhất một quốc tịch đến nay đã có lúc lên đến 28 quốc tịch khác nhau, số lượng người học từ chỗ vài chục đến nay đã đến vài trăm, có năm lên đến gần 1000 sinh viên bao gồm cả sinh viên hệ chính quy, sinh viên hệ ngắn hạn và sinh viên diện Hiệp định chính phủ. Việc nâng cao chất lượng giảng dạy, tìm ra một mô hình đào tạo Ti u ban 3: Đào to ting Vit nh mt ngoi ng cho ngi n c ngoài 452 phù hợp để đem lại hiệu quả học tập tốt nhất cho người học là vấn đề sống còn, được nhà trường nói chung, Khoa Việt Nam học nói riêng hết sức quan tâm và đầu tư đúng mức. Hiện nay, các loại hình đào tạo ở Khoa Việt Nam học đều là tập trung (chính quy-tập trung; ngắn hạn-tập trung; Hiệp định-tập trung), hệ chính quy được tào tạo trong 4 năm với đầy đủ kiến thức thuộc khối kiến thức giáo dục đại cương, khối kiến thức giáo dục chuyên nghiệp (bao gồm khối kiến thức Thực hành tiếng Việt, khối kiến thức lí thuyết ngôn ngữ tiếng Việt, khối kiến thức cơ sở ngành), khối kiến thức chuyên ngành. Trong những năm qua, để nâng cao và khẳng định chất lượng giảng dạy, các lớp học giáp mặt “face to face” của Khoa Việt Nam học, giáo viên đã tăng cường sử dụng các thiết bị công nghệ thông tin, đa phương tiện để làm bài giảng thêm phong phú, sinh động. Đồng thời với việc sử dụng giáo án điện tử, giáo viên đã cung cấp cho sinh viên nhiều bài viết, thông tin cập nhật trên mạng, ngược lại, sinh viên cũng có thói quen tìm tài liệu trên mạng, chia sẻ với giáo viên và các bạn học khác những trang web và tài liệu tham khảo có liên quan. Bên cạnh đó, trong các chương trình và lịch trình các môn học, giờ thảo luận, làm việc nhóm được tăng cường đáng kể nhằm mục đích lấy người học là trung tâm, một số môn học đã dần kiểm tra, đánh giá học sinh theo nhóm học tập Chúng ta có thể nhận thấy ở đây “hơi hướng” của mô hình đào tạo Blened learning. Việc đẩy mạnh tiếng Việt đến với tất cả mọi người trên thế giới, trong đó có cả con em những kiều bào ta đang sinh sống ở nước ngoài, mô hình học tập e-learning là một lựa chọn không thể tốt hơn. Đây là kì vọng lớn của tất cả chúng ta, những người làm công việc giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ, tuy nhiên, đây cũng là một kế hoạch dài hơi, cần đầu tư nhiều công sức, chất xám và tiền của. Trước hết, để nâng cao hơn nữa chất lượng giảng dạy và học tập đối với các hệ đào tạo tập trung tại Khoa Việt Nam học, Trường Đại học Hà Nội, việc thực hiện mô hình học tập kết hợp BL là sự lựa chọn phù hợp và khả quan nhất. Thiết nghĩ, ngoài những việc đã làm để nâng cao chất lượng đào tạo như đã kể ở trên, chúng ta nên từng bước xúc tiến thêm một số công việc khác để việc triển khai mô hình Blended learning được rõ nét, tiến tới một mô hình e-learning hoàn hảo trong tương lai. Thứ nhất là tạo ra các courseware, e-course (các cua học, khóa học) trong phần danh mục các môn học tại trang web của khoa. Để hoàn thành môn học nào đó, ngoài thời gian học trên lớp theo quy định, người học cần đăng kí để hoàn thành các e-course của môn học đó. Thứ hai, cách tính kết quả học tập mỗi môn học phải bao gồm cả việc hoàn thành các e-course của môn học đó. Hiện nay, để