Hệ thống phân loại - Định danh các loài nấm da

Tên khác: T.mansoni, T.castellani, Endodermophyton concentricum, E.indicum, E.tropicale. + Hình dạng khuẩn lạc: nấm phát triển chậm, khuẩn lạc hình tròn và xuất hiện các tia, khuẩn lạc có nếp nhăn. Màu sắc thay đổi từ trắng, hơi nâu như mật hoặc nâu

pdf20 trang | Chia sẻ: tranhoai21 | Lượt xem: 1417 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Hệ thống phân loại - Định danh các loài nấm da, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
HỆ THỐNG PHÂN LOẠI - ĐỊNH DANH CÁC LOÀI NẤM DA – PHẦN 4 5.6.2. Trichophyton concentricum (Blanchard, 1895): + Tên khác: T.mansoni, T.castellani, Endodermophyton concentricum, E.indicum, E.tropicale. + Hình dạng khuẩn lạc: nấm phát triển chậm, khuẩn lạc hình tròn và xuất hiện các tia, khuẩn lạc có nếp nhăn. Màu sắc thay đổi từ trắng, hơi nâu như mật hoặc nâu. + Hình dạng vi thể (hình 5.33): Hình 5.33: T.concentricum. 1. Bào tử lớn; 2. Sợi nấm hình ngón tay. - Sợi nấm dạng vợt phân nhánh, cuối sợi phồng lên như đầu ngón tay. - Bào tử lớn và nhỏ chỉ tạo ra trên môi trường đặc biệt như môi trường vỏ đậu. Bào tử lớn hình chùy. + Đặc điểm riêng: một số chủng của loài này được kích thích phát triển bởi các vitamin như thiamin. Màu khuẩn lạc thay đổi tử trắng đến nâu. Trên môi trường có chứa thiamin thì có thể phân biệt loài này với T.schoenleinii và T. verrucosum. Loài này gây bệnh trên da tạo ra các vòng đồng tâm rất đặc biệt. + Nơi cư trú và khả năng gây bệnh: ký sinh gây bệnh ở người, thường gây bệnh ở thân mình, cánh tay. Bệnh thường xuất hiện ở châu Á như Bangladesh, Ấn Độ, Thái Lan, Lào, Malaisia, Indonexia, Việt Nam và châu Mỹ Latin. 5.6.3. Trichophyton equinum (Gedoelst, 1902): + Hình dạng khuẩn lạc: khuẩn lạc màu trắng, ở giữa có những vòng đồng tâm nhỏ, cầu tạo bề mặt như lông tơ mịn. Mặt dưới có màu vàng, sau đó có màu hồng khuếch tán vào môi trường. + Hình dạng vi thể (hình 5.34): - Bào tử lớn hình côn, thành mỏng, nhẵn, nhiều ngăn, kích thước 30-50  3-7m. - Bào tử nhỏ hình trứng hay hình quả Hình 5.34: T. equinum. 1. Bào tử nhỏ; 2. Bào tử lớn. lê tạo ra xung quanh sợi nấm. - Bào tử áo, sợi nấm xoắn lò xo, sợi nấm dạng vợt cũng hình thành. + Đặc điểm riêng: cần nicotin cho phát triển; tạo cơ quan đâm chọc trên in vitro. + Nơi cư trú và khả năng gây bệnh: chủ yếu gây bệnh ở động vật như ngựa, một số trường hợp thấy gây bệnh ở người. + Một chủng khác của loài này là Trichophyton varietas autotrophicum không cần nicotin để phát triển. 5.6.4. Trichophyton fischeri (Kane, 1977): + Hình dạng khuẩn lạc: nấm phát triển tốt trên môi trường Sabouraud, sau hai tuần ở 280C đường kính khuẩn lạc là 3 cm. Khuẩn lạc màu trắng, lúc đầu có dạng lông mịn, sau có dạng như bông, thỉnh thoảng bề mặt có dạng luống cày trên môi trường khoai tây - glucoza hoặc hình sao trên môi trường thạch máu. Mặt dưới có màu rượu nho sau chuyển sang màu hoa hồng, ở phía ngoài mép khuẩn lạc có màu hơi vàng. + Hình dạng vi thể (hình 5.35): 1 2 Hình 5.35: T. fischeri. 1. Bào tử lớn; 2. bào tử nhỏ. - Sợi nấm không trong suốt, kích thước 1,8-30 m. - Bào tử lớn hình côn, kích thước 3  50 m, thường có 5 - 8 ngăn, đứng riêng rẽ, ít khi đứng tập trung. - Bào tử nhỏ hình chùy, kích thước 2  5,5 m hoặc hình cầu kích thước 23 - 4m, có cuống bào tử. + Đặc điểm riêng: tạo nhiều bào tử nhỏ và lớn trên môi trường glucoza - khoai tây và môi trường thạch máu có 3% albumin. Trên môi trường axit casamino albumin tạo màu rượu đỏ. Trên môi trường tim, óc (Brain - Heart Infusion Agar) khuẩn lạc chắc và ở giữa nhô lên với những sợi nấm không khí. Phát triển yếu hoặc bị ức chế với nồng độ NaCl 3% và 5%. + Nơi cư trú và khả năng gây bệnh: phân lập được từ không khí, khả năng gây bệnh chưa được nói đến. 5.6.5. Trichophyton flavescens (Padhye và Carminchael, 1971): + Hình dạng khuẩn lạc: nấm phát triển mạnh ở nhiệt độ 250C, không phát triển ở 370C. Khuẩn lạc có màu trắng, sau đó chuyển vàng nhạt, ở giữa có màu da trâu. Mặt dưới màu vàng chói, vàng nâu. + Hình dạng vi thể (hình 5.36): - Bào tử lớn không trong suốt, thành nhẵn, mỏng, thường có 5 ngăn, hình trụ phía cuối hơi tròn, kích thước 26-86  8-14 m, thường có nhiều bào tử lớn. - Bào tử nhỏ hình trứng, thành nhẵn, mỏng, hình thành quanh sợi nấm hoặc cuối sợi nấm, có hoặc không có cuống đính bào tử, thường là một tế bào, thỉnh thoảng là hai tế bào, kích thước 5-16  4,8 m. + Nơi cư trú và khả năng gây bệnh: thường phân lập được từ lông chim, khả năng gây bệnh ở người chưa được nói đến. + Dạng sinh sản hữu tính: Arthroderma flavescens (Rees, 1967). Hình 5.36: Bào tử lớn của T. flavescens. - Thể quả hình cầu, màu xám nhạt, sau một thời gian có màu hơi tối, đường kính 550 m. - Những sợi quấn quanh thể quả có độ dài 86-191 m, không trong suốt, có vách ngăn, đường kính 2,7-4,8 m, thường có các vòng xoắn đến 32 vòng (hình 5.37). - Túi bào tử hình cầu, thành mỏng, có 8 bào tử, kích thước túi 5,9-8,3 m hoặc 4,8-7,5 m. - Bào tử không trong mà hơi đục, khi đứng tập trung có mầu vàng sáng, có dạng thấu kính, thành nhẵn, kích thước 3,2-3,7 m hoặc 1,1-2,2 m. 5.6.6. Trichophyton fluviomuniense (Varsavsky, Ajello, 1964): + Hình dạng khuẩn lạc: khuẩn lạc màu đỏ nâu, có dạng hạt sau chuyển dạng nếp gấp và nứt rạn ở giữa. + Hình dạng vi thể (hình 5.38): - Bào tử lớn hình trụ kéo dài, đỉnh bào tử thường nhỏ dần hoặc phát triển thành sợi nhỏ Hình 5.37: Sợi vỏ thể quả của A. flavescens. Hình 5.38: Bào tử của T.fluviomuniense. 1. Bào tử lớn; 2. Bào tử nhỏ. giống như vài chủng của T.mentagrophytes. - Bào tử nhỏ hình trứng hoặc hình chùy. + Khả năng gây bệnh: loài này đã phân lập được từ một bệnh nhân nấm da ở Rio Muni, vùng bờ biển Tây Phi. + Đặc điểm riêng: không yêu cầu histidine hoặc thiamine để phát triển. Các bào tử lớn tạo nhiều khi nuôi cấy ở 260C, bào tử nhỏ tạo nhiều khi nuôi cấy ở 370C. 5.6.7. Trichophyton georgiae (Varsavsky, Ajello, 1964): + Hình dạng khuẩn lạc: khuẩn lạc phẳng, giữa hơi lõm, bề mặt ở giữa mịn như bông, xung quanh phẳng đều có dạng hạt hoặc giống như bụi. Màu hồng hoặc như rượu nho. + Hình dạng vi thể: bào tử nhỏ có kích thước thay đổi, hình chùy hơi dài, thỉnh thoảng có hình quả lê hoặc hình cầu. Bào tử tạo nhiều xung quanh sợi nấm hoặc ở cuối sợi nấm, kích thước 2-2,4  4,2-6,4 m, một số bào tử có 2 hoặc 3 ngăn, bào tử có hoặc không có cuống, thành nhẵn (hình 5.39). + Nơi cư trú và khả năng gây bệnh: có thể phân lập được từ đất và một số loài sóc, ít khả năng gây bệnh ở người. + Dạng hữu tính: Arthroderma ciferrii (Varsavsky, Ajello, 1964): - Thể quả hình cầu, đường kính 500 - 800 m, xốp, màu vàng nhạt. - Những sợi quấn quanh thể quả phân nhánh dạng mỏ neo, không trong suốt, có vách ngăn, những tế bào co thắt lại tạo nên hình quả tạ đối xứng. - Phần phụ của thể quả có hai đặc điểm sau: . Cuối các sợi quấn quanh thể quả có những sợi nấm xoắn, mảnh, thành nhẵn, dài 60-96 m (hình 5.40). . Túi bào tử hình cầu, thành mỏng dễ vỡ, có 8 bào tử. Bào tử kích thước 4,86 m. Một số sợi bao quanh thể quả có hình vợt. Hình 5.39: Bào tử nhỏ của T.georgiae. Hình 5.40: Sợi vỏ thể quả của A.ciferrii. 5.6.8. Trichophyton gloriae (Ajello và cộng sự, 1967): + Hình dạng khuẩn lạc: khuẩn lạc phẳng, có màu kem, nhơi nhăn, bề mặt xốp nhú lên, sau một thời gian có dạng giống như bột. Mặt dưới khuẩn lạc có màu vàng rồi chuyển màu nâu. + Hình dạng vi thể (hình 5.41): - Sợi nấm không trong suốt có vách ngăn, phân nhánh, kích thước 1,5 - 3 m. - Bào tử lớn tạo thành từng chùm, hình hơi dài giống bút chì, một số có dạng hình ống chỉ gần giống T.rubrum. Bào tử lớn có 1 - 10 vách ngăn, thành nhẵn, chiều dài 9-58 m, rộng 3,5-8 m. - Bào tử nhỏ hình trứng, kích thước 2-2,4  4,2-6,4 m, một số bào tử nhỏ có một hoặc hai vách ngăn. + Nơi cư trú và khả năng gây bệnh: có thể phân lập được từ đất, khả năng gây bệnh chưa rõ. Thực nghiệm trên chuột lang không thấy gây bệnh. + Dạng sinh sản hữu tính: Arthroderma gloriae (Ajello, 1967): - Cấu tạo thể quả xốp, có đường kính 250-600 m. Hình 5.41: T. gloriae. 1. Bào tử lớn; 2. Bào tử nhỏ. - Những sợi quấn quanh thể quả có thành nhẵn, không trong suốt, có vách ngăn, phân nhánh dạng mỏ neo, tế bào co thắt lại ở giữa tạo dạng quả tạ đối xứng, mặt ngoài sần sùi, kích thước 7,5-5 m (hình 5.42). - Những nhánh phụ của sợi quấn quanh thể quả ít thấy, thành những sợi này nhẵn, mảnh, phân nhánh dạng bông lúa, có thể dài 150 m. - Túi bào tử hình cầu, kích thước 3,54,5 m, thành nhẵn dễ vỡ, có 8 bào tử. - Bào tử không trong, màu vàng nhạt, thành nhẵn, hình trứng, đường kính 1,8- 2,3 m. 5.6.9. Trichophyton longifusum (Florian, Galgoczy, 1964; Ajello, 1968): + Tên khác: Epidermophyton longifusum. + Hình dạng khuẩn lạc: trên môi trường Sabouraud ở 260C, sau hai tuần đường kính khuẩn lạc 45 mm. Bề mặt khuẩn lạc ở giữa lõm, cấu tạo giống như bông. Khuẩn lạc có màu trắng hoặc hơi vàng nhạt, mặt dưới màu vàng nâu. + Hình dạng vi thể: Hình 5.42: Sợi vỏ thể quả - Bào tử lớn tạo nhiều trong môi trường, thành mỏng, nhẵn, có 4-15 vách ngăn, bào tử dài, đầu cuối hơi tròn hoặc hơi nhọn, bào tử thường phân nhánh, kích thước 35-300  6,9-9,3 m (hình 5.43). - Bào tử nhỏ ít thấy. - Có thể thấy sợi nấm hình vợt, sợi nấm cuộn lại, bào tử áo. + Đặc điểm riêng: trong in vitro nấm hình thành cơ quan “đâm chọc” trên tóc. Không gây bệnh ở chuột nhắt và chuột lang. Trên môi trường chứa 1% glucoza và bột ngô thì có khuẩn lạc nhỏ, màu trắng, xốp, dạng lông tơ, mặt dưới có màu vàng. + Nơi cư trú và khả năng gây bệnh: có thể phân lập được từ đất. Một số trường hợp phân lập được từ đầu bệnh nhân. 5.6.10. Trichophyton gourvilli (Catanei, 1933): + Hình dạng khuẩn lạc: trên môi trường Sabouraud khuẩn lạc tròn, bề mặt giống như sáp, dần dần bề mặt có dạng giống quả dâu. Mép khuẩn lạc tròn, màu hồng giống màu rượu nho. Mặt dưới có màu hồng tím. Sau một thời gian khuẩn lạc trở nên giống như bông. Hình 5.43: Bào tử lớn của T. longifusum. + Hình dạng vi thể: - Bào tử nhỏ hình quả lê hoặc hình cầu. - Bào tử lớn chỉ tạo nên trong môi trường đặc biệt, ngắn, hình chùy, thường có 3 - 4 vách ngăn (hình 5.44). + Đặc điểm riêng: trên môi trường hạt lúa mạch bào tử được tạo nhiều. Trên in vitro không tạo cơ quan “đâm chọc” trên tóc. Loài này không cần thiamin đến sự phát triển + Nơi cư trú và khả năng gây bệnh: sống hoại sinh trong đất; gây bệnh trên da ở ngón tay, ngón chân của người; tính chất và khả năng gây bệnh giống như loài T.tonsurans và T.violaceum. 5.6.11. Trichophyton megninii (Blanchard, 1896): + Tên khác: Trichophyton roseum, T.rosaceum, T.vinosum, Ectotrichophyton megninii, Megatrichophyton megninii, Sabouraudites megninii, Aleurosporia rosacea, Megatrichophyton roseum. + Hình dạng khuẩn lạc: nấm phát triển chậm, khuẩn lạc lúc đầu mịn sau đó bề mặt xốp như bông, màu trắng như tuyết. Khuẩn lạc già có dạng hình dĩa với hình 1 2 Hình 5.44: T.gourvilli. 1. Bào tử lớn, 2. Bào tử nhỏ. luống cày. Khuẩn lạc có màu hồng, sau đó có màu tím. Mặt dưới màu hồng không khuếch tán vào môi trường nuôi cấy. + Hình dạng vi thể (hình 5.45): - Bào tử lớn hình chùy, bút chì, thành mỏng, nhiều ngăn, tạo nhiều trên môi trường tripto hoặc môi trường thạch máu, kích thước 60 - 10  3 - 5 m. - Bào tử nhỏ hình trứng hoặc hình quả lê, thường tạo thành chùm. + Đặc điểm riêng: cần histidin để phát triển. Trên môi trường Sabouraud phần giữa mặt dưới khuẩn lạc có màu tím tối hoặc màu đen. Trong in vitro tạo cơ quan đâm chọc trên tóc. Trên môi trường khoai tây - glucoza có màu hồng đậm, trên môi trường ngô - thạch có màu hoa hồng. Khí CO2 kích thích tạo bào tử lớn. Trên môi trường thạch máu cũng tạo nhiều bào tử lớn. Trên môi trường NH4NO3 nấm không phát triển nhưng trên môi trường NH4NO3 có thêm histidin thì nấm phát triển tốt. + Nơi cư trú và khả năng gây bệnh: đến nay chưa có tài liệu nào nói về phân lập được nấm từ đất. Loài này thường xuất hiện ở người, gây bệnh ở da, ở tay và móng tay. Thường thấy ở châu Âu, châu Phi. Hình 5.45: T.megninii. 1. Bào tử lớn; 2. Bào tử nhỏ. 5.6.12. Trichophyton mentagrophytes complex (Ajello, 1977): 5.6.12.1. T.mentagrophytes varietas erinacei (Smith và Marplans, 1963; Padhye và Carmichael, 1969): + Tên khác Trichophyton proliferanis. + Hình dạng khuẩn lạc: nấm phát triển nhanh, khuẩn lạc ở giữa có dạng hình rốn. Bề mặt khuẩn lạc giống như bột mịn, mép có viền tua, màu trắng, màu trắng ngà hoặc hơi vàng chanh sáng, khuếch tán vào môi trường. + Hình dạng vi thể (hình 5.46): - Bào tử lớn hình chùy tương tự bào tử lớn của T.mentagrophytes var. mentagrophytes, kích thước bào tử thay đổi. - Một số bào tử nhỏ hình chùy hoặc hình cầu được tạo thành xung quanh sợi nấm. + Đặc điểm riêng: nấm phát triển tốt ở 350C, pH = 4 ức chế nấm phát triển. Các vòng xoắn được hình thành trên môi trường “già”. + Nơi cư trú và khả năng gây bệnh: thường phân lập được từ nhím. Gây bệnh ở người, thường gây bệnh ở đầu, cằm, ngón tay và móng tay, cổ tay. Hình 5.46: T.mentagrophytes var. erinacei. 1. Bào tử lớn; 2. Bào tử nhỏ. 5.6.12.2. T.mentagrophytes var. mentagrophytes (type granulare) (Robin, 1853; Blanchard, 1896): + Tên khác: T.felineum, T.gypseum, T.granulasum, T.radiolatum, T.lacticolor, T.niverum, T.radians, T.dendiculatum, T.farinulentum, T.asteroides, T.interdigitale, T.kaufmann-wolf, T.pedis, Kaufmann-wolfia pedis. + Hình dạng khuẩn lạc: bề mặt giống như bột bó hoặc dạng hạt, thỉnh thoảng bề mặt gồ ghề, mép có viền tua và từ những tua này sau hình thành dạng hình “sao”. Màu trắng hoặc màu nâu, một số chủng màu vàng sáng. + Hình dạng vi thể (hình 5.47): - Bào tử lớn nhiều, hình chùy, kích thước 40-603-6m. - Bào tử nhỏ hình cầu hoặc hình trứng, thành từng chùm giống chùm nho. - Bào tử áo, dạng sợi hình vợt và dạng cuộn do những sợi nấm tạo nên cũng xuất hiện. + Đặc điểm riêng: trên môi trường casein không chứa vitamin cũng phát triển, không yêu cầu nguồn vitamin cũng như các axit amin khác nhau đến sự phát triển. Hình 5.47: T.mentagrophytes var. mentagrophytes. 1. Bào tử lớn; 2. Bào tử nhỏ; 3. Sợi nấm xoắn. Khí CO2 kích thích tạo bào tử lớn. Trên in vitro các chủng của loài này đều tạo cơ quan “đâm chọc”. Trên môi trường urea có hoạt tính ureaza cao. Hoạt tính thủy phân gelatin được thể hiện trên môi trường thạch gelatin. Một số chủng của loài này khi cấy vào môi trường đất có tóc thì cơ quan sinh sản hữu tính “đẻ non” được hình thành (abortiv gymnothecium). Dựa vào những phần phụ của thể quả mà người ta xác định các dạng sinh sản của các loài thuộc chủng Arthroderma. + Nơi cư trú và khả năng gây bệnh: thường ký sinh gây bệnh nấm da ở người và động vật có vú. Ở người loài nấm này thường gây bệnh ở da, móng tay, kẽ chân, khi soi trực tiếp bệnh phẩm có thể thấy những bào tử đốt. Loài này có thể gây bệnh ở đầu (tinea capitis), ở thân mình (tinea corporis), ở cằm (tinea barbae), ở bẹn (tinea crusis), đặc biệt có thể gây bệnh ở kẽ chân. + Dạng sinh sản hữu tính: có hai loại là Arthroderma benhamiae và Arthroderma vanbreuseghemii. - Arthroderma benhamiae (Ajello và Cheng, 1967): . Thể quả hình cầu, đường kính 400-500 m, màu trắng hoặc màu sáp. . Những sợi peridium phân nhánh, thành mỏng, những nhánh phía trên thể quả uốn cong, tế bào dạng hình quả tạ, thành sần sùi, kích thước 12  5,2 m Hình 5.48: Sợi vỏ thể quả của A. benhamiae. (hình 5.48). Phần cuối những sợi nấm đặc biệt quấn quanh thể quả có hai loại: Những sợi có độ dài 60 - 200 m, càng về cuối càng mảnh và thuôn. Những vòng xoắn lò xo sít lại với nhau, thành mỏng. . Túi bào tử hình cầu, hình trứng, kích thước 4,2 - 7,2  3,6 m, thành nhẵn dễ vỡ, có 8 bào tử. Bào tử không trong suốt, hình trứng, thành mỏng, khi bào tử đứng tập trung với nhau có màu vàng, kích thước 1,2 - 2,8 m. - Arthroderma vanbreuseghemii (Takashio, 1973): . Thể quả hình cầu, đường kính 200-650 m, màu vàng nhạt hay hơi nâu. . Những sợi peridium quấn quanh thể quả xốp, không trong suốt, màu hơi nâu, sợi mảnh, có vách ngăn, phân nhánh, những nhánh uốn cong ở phía trên thể quả. Những tế bào của sợi peridium ở phía ngoài cùng phần lớn co thắt ở giữa tạo hình quả tạ đối xứng, kích thước 8-14  4,6,5 m. Những tế bào peridium phía trong gần thể quả kích thước 18  3 - 5 m, ít co thắt ở giữa. Đầu cuối các sợi peridium thường có các sợi mỏng kéo dài, thành nhẵn, có vách ngăn, thường có các vòng xoắn lò xo xuất hiện (hình 5.49). . Túi bào tử hình cầu hoặc hình trứng, kích thước 5 Hình 5.49: Sợi vỏ thể quả của A.vanbreuseghemii. - 7 m, có 8 bào tử. Bào tử không trong suốt, thành nhẵn, mỏng dễ vỡ, bào tử hình thấu kính hay oval, kích thước 2-3,5 m, màu vàng nhạt khi các bào tử đứng tập trung. 5.6.12.3. Trichophyton mentagrophytes var. interdigitale (Priestlay, 1917): + Hình dạng khuẩn lạc: khuẩn lạc phát triển nhanh trên môi trường Sabouraud, Khuẩn lạc thường phẳng nhưng ở giữa hơi nhô lên, bề mặt như lông tơ, mầu trắng kem đặc biệt là ở giữa. Mép của khuẩn lạc không đều. Thường có màu nâu hay màu hồng. + Hình dạng vi thể (hình 5.50): 1 2 Hình 5.50: T. mentagrophytes var. interdigitale. - Bào tử lớn hình chùy, số lượng ít, thành mỏng, thường có 3 - 8 vách ngăn. - Bào tử nhỏ thường có hình quả lê, kích thước 2,7 - 2 m, tạo thành quanh sợi nấm, số lượng ít. - Những sợi nấm có vòng xoắn lò xo cũng xuất hiện nhưng số lượng ít. + Đặc điểm riêng: tạo cơ quan “đâm chọc” trên sợi tóc trong in vitro. Phát triển yếu ở nhiệt độ 350C, pH = 4 vẫn phát triển. Trên môi trường đất và keratin phát triển rất tốt. Hoạt tính ureaza mạnh. Khi soi mẫu bệnh phẩm thường thấy những sợi nấm ngắn, thẳng, bào tử đốt ít thấy. Trong in vivo thấy khả năng gây nhiễm ở chuột cao. + Nơi cư trú và khả năng gây bệnh: ký sinh gây bệnh ở chân, kẽ ngón chân, lan truyền khá mạnh, xuất hiện hầu hết ở các nước trên thế giới. 5.6.12.4. Trichophyton mentagrophytes var. nodulare (Georg, Maechling, 1949): + Hình dạng khuẩn lạc: phát triển tốt trên môi trường Sabouraud, khuẩn lạc phẳng, bề mặt thường có dạng hạt. Màu đỏ hoặc nâu, trên mặt khuẩn lạc xuất hiện những vòng đồng tâm, thỉnh thoảng có những sợi nấm không khí nhô lên. + Hình dạng vi thể (hình 5.51): - Bào tử lớn hình chùy, thành mỏng, có 3-7 vách ngăn, số lượng thường nhiều. - Bào tử nhỏ hình cầu, kích thước 2,5  2 m. - Có thể thấy những sợi nấm có vòng xoắn lò xo, những sợi nấm có dạng cuộn nút. Hình 5.51: T.mentagrophytes var. nodulare. 1. Bào tử lớn; 2. Sợi nấm dạng cuộn; 3. Bào tử nhỏ. + Đặc điểm riêng: tạo nhiều bào tử trên môi trường Sabouraud. Khả năng gây bệnh ở chuột nhắt trắng thực nghiệm cao hơn T.ment. var. interdigitale, khi soi những sợi lông bị nhiễm thường thấy những bào tử bao quanh sợi lông tạo thành từng chuỗi, kích thước bào tử 3-5 m, bên cạnh đó có những sợi nấm. Trong những mẫu bệnh phẩm lấy từ người khi soi thấy các sợi nấm phân nhánh và bào tử đốt. Phát triển yếu ở 350C, phát triển tương đối tốt ở pH = 4, đặc biệt phát triển rất tốt trên môi trường đất và keratin. + Nơi cư trú và khả năng gây bệnh: chủ yếu gây bệnh ở người, trên những phần da đầu, cằm, tóc, ngoài ra cũng gây bệnh ở móng tay. Trên động vật gây bệnh ở chuột, ngựa, thỏ. 1 2