Khái niệm lối sống, đối tượng, chức năng, nhiệm vụ và phương pháp của xã hội học lối sống

KHÁI NIỆM LỐI SỐNG. 1.1 Định nghĩa lối sống: Lối sống là một hệ thống những đặc điểm chủ yếu nói lên hoạt động của các dân tộc, các giai cấp, các nhóm xã hội, các cá nhân trong những điều kiện của một hình thái kinh tế-xã hội nhất định. Lối sống tổng hòa những hình thức hoạt động cơ bản phụ thuộc vào điều kiệnvà những nhu cầucủa con người do những điều kiện đó qui định. Lối sống bị qui định bởi hoàn cảnh khách quan của xã hội, bởi những điều kiện sống củ các giai cấp, dân tộc Nghĩa là lối sống một mặt, do quan hệ thực tế của con người với tự nhiên, do trình độ trang bị kỹ thuật, năng suất lao động của họ, trạng thái của lực lượng sản xuất và do đó cả tính chất tiêu dùng, mặt khác do tính chất quan hệ sản xuất, chế độ kinh tế của xã hội là cơ sở của toàn bộ hệ thống quan hệ xã hội, qui định. Tuy nhiên, nhấn mạnh hoàn cảnh khách quan của lối sống không vó nghĩa là loại trừ khả năng lựa chọn của con người về một hình thức hoạt động nào đó. Những phương hướng có mục đích rõ ràng, những định hướng giá trị của con người tạo nên mặt chủ quancủa lối sống. Lối sống của con người phải được hiểu trong sự thống nhất giữa mặt lượng và mặt chất. Nhân tố quyết định mặt chất của lối sống là tính chất của chế độ xã hội, địa vị giai cấp trong hệ thống các quan hệ kinh tế và chính trị. Các nhân tố quyết định mặt lượng và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và tiêu dùng, thể hiện trước hết ở mức sống và một số chỉ tiêu khác.

pdf60 trang | Chia sẻ: tranhoai21 | Lượt xem: 8406 | Lượt tải: 4download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Khái niệm lối sống, đối tượng, chức năng, nhiệm vụ và phương pháp của xã hội học lối sống, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Xaõ hoäi hoïc loái soáng Haø Vaên Taùc 1 Chương 1: KHÁI NIỆM LỐI SỐNG . ĐỐI TƯỢNG, CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ VÀ PHƯƠNG PHÁP CỦA XÃ HỘI HỌC LỐI SỐNG 1.KHÁI NIỆM LỐI SỐNG. 1.1 Định nghĩa lối sống: Lối sống là một hệ thống những đặc điểm chủ yếu nói lên hoạt động của các dân tộc, các giai cấp, các nhóm xã hội, các cá nhân trong những điều kiện của một hình thái kinh tế-xã hội nhất định. Lối sống tổng hòa những hình thức hoạt động cơ bản phụ thuộc vào điều kiện và những nhu cầu của con người do những điều kiện đó qui định. Lối sống bị qui định bởi hoàn cảnh khách quan của xã hội, bởi những điều kiện sống củ các giai cấp, dân tộcNghĩa là lối sống một mặt, do quan hệ thực tế của con người với tự nhiên, do trình độ trang bị kỹ thuật, năng suất lao động của họ, trạng thái của lực lượng sản xuất và do đó cả tính chất tiêu dùng, mặt khác do tính chất quan hệ sản xuất, chế độ kinh tế của xã hội là cơ sở của toàn bộ hệ thống quan hệ xã hội, qui định. Tuy nhiên, nhấn mạnh hoàn cảnh khách quan của lối sống không vó nghĩa là loại trừ khả năng lựa chọn của con người về một hình thức hoạt động nào đó. Những phương hướng có mục đích rõ ràng, những định hướng giá trị của con người tạo nên mặt chủ quan của lối sống. Lối sống của con người phải được hiểu trong sự thống nhất giữa mặt lượng và mặt chất. Nhân tố quyết định mặt chất của lối sống là tính chất của chế độ xã hội, địa vị giai cấp trong hệ thống các quan hệ kinh tế và chính trị. Các nhân tố quyết định mặt lượng và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và tiêu dùng, thể hiện trước hết ở mức sống và một số chỉ tiêu khác. Khái niệm lối sống luôn chứa đựng câu trả lời cho câu hỏi : con người làm gì và làm như thế nào. Karl Marx khẳng định : hoạt động Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software For evaluation only. Xaõ hoäi hoïc loái soáng Haø Vaên Taùc 2 sống của các cá nhân như thế nào thì bản thân họ là như thế. Do đó, tư cách của họ là cái gì thì sẽ trùng với sự sản xuất của họ – trùng với việc họ sản xuất ra cái gì cũng như trùng với việc họ sản xuất như thế nào. Trong định nghĩa khái niệm lối sống, việc phân biệt nó với khái niệm những điều kiện sống, hệ thống những nhân tố xã hội và tự nhiên chứa đựng nội dung và tính chất của lối sống có một ý nghĩa quan trọng mang tính nguyên tắc. Vì rằng lối sống không phải là cái gì khác ngoài cách thức đặc thù mà trong đó những điều kiện sống, và trước hết, phương thức sản xuất trong hoạt động sống hàng ngày của con người, đã được nhận biết, được phản ánh và biểu hiện trong sự cảm thụ, nhận thức và sự tái tạo hiện thực. Lối sống là sinh hoạt cá nhân, chủ quan hóa của hệ thống những quan hệ xã hội, của toàn bộ tổng thể những điều kiện sống, thể hiện ra trong những hoạt động của con người. Nhận thức khái niệm lối sống như vậy sẽ giúp tránh được việc qui nó thành một yếu tố nhất định của hoạt động sống của con người, chẳng hạn không qui nó vào việc thỏa mãn các nhu cầu của họ, hoặc vào mức sống của họ, đồng thời cũng tránh được việc xử lý khái niệm lối sống một cách quá rộng, đồng nhất nó với khái niệm xã hội, khái niệm phương thức sản xuất, làm cho nó mất ý nghĩa khoa học độc lập. 1.2. Phân biệt các khái niệm: lối sống, nếp sống, cách sống. - Lối sống có sự kết hợp biện chứng giữa yếu tố vật chất và yếu tố tinh thần, gắn liền với phương thức sản xuất của xã hội với chế độ chính trị xã hội, với hình thái kinh tế – xã hội. Vì vậy khi nói xây dựng một lối sống là gắn với xây dựng một hình thái kinh tế – xã hội, một nền văn hóa xã hội. - Nếp sống hàm chứa ý nghĩa hẹp hơn. Nếp sống bao gồm những cách thức, hành động và suy nghĩ, những qui ước được lặp đi lặp lại hàng ngày trở thành thói quen, tập quán trong sản xuất, sinh hoạt, trong phong tục, nghi lễ, trong hành vi đạo đức, pháp luật. Trong thói quen ngôn ngữ Việt Nam hiện nay đều dùng cả hai từ lối Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software For evaluation only. Xaõ hoäi hoïc loái soáng Haø Vaên Taùc 3 sống và nếp sống một cách lẫn lộn không phân biệt nghĩa. Nhưng nhìn chung đều được hiểu theo nghĩa lối sống. - Điểm khác rất căn bản giữa lối sống và nếp sống mà trong nhiều trường hợp buộc phải dùng một cách chính xác là lối sống nói lên tính định hướng, định tính, chỉ ra phương hướng chính trị và tư tưởng của vấn đề, còn nếp sống nói lên tính định hình, định lượng. - Cách sống có nghĩa hẹp và cụ thể. Đó là kiểu sống cụ thể theo cá tính và thị hiếu của cá nhân hoặc theo một điều kiện qui định cụ thể nào đó của một môi trường nhỏ. Chẳng hạn, nói cách sống của một gia đình, cách sống người già, cách sống người độc thân, cách sống của một nghệ sĩ. Tuy nhiên cách sống được đánh giá trên cơ sở một lối sống, nếp sống nào đó. [Trần Độ.1984.7] 1.3. Nội dung và mối quan hệ của các khái niệm số lượng, chất lượng của lối sống, mức sống và chất lượng sống. - Chất lượng lối sống phản ánh trình độ tự do mà con người đạt được trong khi họ hành động. Mặt chất lượng của lối sống được thể hiện qua các chỉ dẫn về số lượng trong các lĩnh vực hoạt động : lao động sản xuất; phúc lợi, tiêu dùng, sinh hoạt hàng ngày; giáo dục văn hóa; sức khỏe dân cư; hoạt động chính trị xã hội.v.v. Hệ thống các chỉ tiêu số lượng của lối sống là một hệ thống mở, nó phát triển tùy trình độ từng nước, từng giai đoạn cụ thể. Hệ thống các chỉ tiêu số lượng này biểu thị mức sống của con người. Do đó không thể tách rời mức sống với lối sống. Mức sống trong chừng mực nhất định có ảnh hưởng quyết định đến lối sống. - Khái niệm chất lượng sống chỉ dùng trong xã hội học tư bản. Khái niệm này không phản ánh đúng nội dung khoa học cần biểu đạt. Trong xã hội học Mác xít không dùng khái niệm chất lượng sống mà chỉ dùng khái niệm chất lượng của lối sống. 1.4. Phân loại lối sống Lối sống được phân loại theo các tiêu chí khách quan : Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software For evaluation only. Xaõ hoäi hoïc loái soáng Haø Vaên Taùc 4 - Theo hình thái kinh tế – xã hội:lối sống phong kiến, lối sống TBCN, lối sống XHCN - Theo giai cấp : lối sống tư sản, tiểu tư sản, nông dân, công nhân, trí thức - Theo trình độ chuyên môn: lối sống người lao động giản đơn, lối sống người lao động phức tạp, lối sống công nhân có tay nghề bậc cao - Theo lứa tuổi, giới tính: lối sống thanh niên; lối sống người về hưu, lối sống phụ nữ - Theo lãnh thổ: lối sống nông thôn, lối sống đô thị, lối sống đồng bằng, lối sống miền núi. - Theo tiêu chí dân tộc: lối sống người Kinh, người Tày, người Khmer - Theo tiêu chí quản lý: lối sống những người thực hiện chức năng quản lý và lối sống cộng đồng những người thừa hành. - Theo tiêu chí đoàn thể: lối sống đảng viên và người ngoài đảng, lối sống đoàn viên thanh niên cộng sản - Theo tiêu chí sức khỏe: lối sống nhóm người tàn tật, lối sống nhóm người khỏe mạnh. - Theo tiêu chí sự phát triển và lĩnh vực sản xuất: lối sống nông nghiệp và lối sống công nghiệp Việc phân loại lối sống có ý nghĩa cần thiết là giúp lãnh đạo quản lý có cơ sở đi sâu phân tích đặc điểm từng đối tượng từng nhóm xã hội để xác định phương thức cụ thể xây dựng lối sống mới cho phù hợp. 2. ĐỐI TƯỢNG, CHỨC NĂNG VÀ NHIỆM VỤ CỦA XÃ HỘI HỌC LỐI SỐNG. 2.1. Đối tượng của xã hội học lối sống. - Khách thể nghiên cứu của xã hội học lối sống là các nhóm xã hội. - Đối tượng nghiên cứu của xã hội học lối sống là những nét căn bản đặc trưng cho hoạt động của các nhóm xã hội trong những điều Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software For evaluation only. Xaõ hoäi hoïc loái soáng Haø Vaên Taùc 5 kiện xã hội cụ thể. Nó tìm hiểu những yếu tố tác động đến sự biến đổi và qui luật phát triển của lối sống. - Khác với chủ nghĩa xã hội khoa học, xã hội học lối sống không chỉ nghiên cứu những đặc điểm chung về lối sống của các nhóm lớn mà còn làm sáng tỏ lối sống đặc thù của từng nhóm nhỏ. 2.2. Chức năng và nhiệm vụ của xã hội học lối sống. Với tư cách là chuyên ngành xã hội học, xã hội học lối sống cũng thực hiện các chức năng của xã hội học như : chức năng nhận thức, chức năng thực tiễn trong điều hành quản lý xã hội, chức năng dự đoán, dự báo về sự phát triển của lối sống, chức năng tư tưởng.V.V. Thứ nhất, xã hội học lối sống cung cấp những tri thức cần thiết để hiểu biết thực trạng của lối sống một nhóm xã hội hay cả một xã xã hội cụ thể. Nó tái tạo lại bức tranh hiện thức sinh động để làm cho những ai quan tâm đến lối sống có được cách nhìn nhận đúng bản chất của lối sống một nhóm hay toàn bộ xã hội. Và qua đó nó thực hiện chức năng nhận thức. Nhiệm vụ lý luận của xã hội học lối sống thể hiện ra ở chỗ nó cung cấp những tri thức lý thuyết về xã hội học lối sống, trên cơ sở đó định hình một hệ thống tri thức khoa học về lĩnh vực này. Xã hội học lối sống phải đưa ra một hệ thống khái niệm, phạm trù để nghiên cứu những khía cạnh khác nhau của lối sống. Thứ hai, khi triển khai khảo sát nghiên cứu xã hội học về những khía cạnh của lối sống, xã hội học lối sống sẽ cung cấp và làm giàu hệ thống tri thức về lối sống nói chung, bổ sung vào kho tàng nhận thức về một hiện tượng đặc thù của thế giới khách quan. Các nghiên cứu cụ thể của xã hội học lối sống sẽ đem lại những cách nhìn khoa học về cơ chế vận hành, cách thức biến đổi của lối sống từng nhóm xã hội. Những nghiên cứu này sẽ đem lại những thông tin cho công tác quản lý, điều hành xã hội. Những thông tin, những đề xuất và kiến nghị cụ thể của các cuộc nghiên cứu về lối sống sẽ đem lại đóng góp nhất định cho việc tạo cơ sở để đề ra các chính sách đúng hợp quy luật tác động định hướng, hình thành lối sống mới tiến bộ. Thứ ba, mục tiêu chung của mọi nghiên cứu xã hội học về lối sống là đều thống nhất ở chỗ, bằng những số liệu, thông tin thu thập Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software For evaluation only. Xaõ hoäi hoïc loái soáng Haø Vaên Taùc 6 một cách khoa học, các nhà nghiên cứu xã hội học có những khuyến nghị về phương pháp, giải pháp nhằm cải tạo và thay những mục tiêu kinh tế – xã hội để nâng cao chất lượng lối sống vì hạnh phúc cá nhân và sự phát triển xã hội. Nhiệm vụ thực tiễn của xã hội học lối sống là nghiên cứu để giải thích những hiện tượng mới nảy sinh về lối sống trong tiến trình đổi mới của đất nước. Nhiệm vụ này được thực hiện trong các nghiên cứu xã hội học thực nghiệm. Nhiệm vụ lý luận của xã hội học lối sống được thể hiện ở chỗ, xây dựng được hệ thống các khái niệm, phạm trù để từ đó xây dựng một lý thuyết xã hội học về lối sống, đáp ứng được sự phát triển của lý luận xã hội học ở Việt Nam hiện nay. Mặt khác, nó cần phải đưa ra được những dữ liệu để cho phép trên cơ sở đó hoạch định được chính sách phát triển lối sống văn hóa trong thời kỳ công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước hiện nay, chỉ ra những xu thế tất yếu của việc hình thành lối sống mới – lối sống xã hội chủ nghĩa- một lối sống tiên tiến và đậm đà bản sắc truyền thống dân tộc, để Việt Nam vừa hội nhập tốt vừa giữ được độc lập, ổn định và phát triển. 3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA XÃ HỘI HỌC LỐI SỐNG. 3.1. Về phương pháp luận : Xã hội học lối sống cần vận dụng triệt để quan niệm duy vật về lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin. Sử dụng phương pháp biện chứng duy vật cho phép đem lại cách nhìn nhận toàn diện, khách quan, cụ thể về những hiện tượng và các quá trình xã hội. Quan niệm duy vật lịch sử là cơ sở phương pháp luận cho nghiên cứu xã hội học thực nghiệm. Bởi lẽ, muốn hay không, để nghiên cứu xã hội học thành công thì nghiên cứu đó phải luôn xuất phát từ tiền đề thực tiễn : con người hiện thực, hoạt động hiện thực của có người và những điều kiện sống và hoạt động của họ. Vì vậy, nghiên cứu lối sống là nghiên cứu hoạt động của con người trong mối quan hệ với điều kiện sống. Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software For evaluation only. Xaõ hoäi hoïc loái soáng Haø Vaên Taùc 7 3.2. Một số cách tiếp cận trong nghiên cứu xã hội học lối sống. - Cách tiếp cận hệ thống. Nghĩa là xem xét lối sống như một chỉnh thể, là tổng thể của các thành tố có quan hệ với nhau và đối với môi trường. Đặc trưng của cách tiếp cận này thể hiện ra ở chỗ, nó cho phép xem xét cơ cấu của lối sống và cơ cấu của những điều kiện lối sống. Vì thế, khi tiến hành nghiên cứu xã hội học lối sống cho phép xem xét toàn diện, khách quan cụ thể các mối quan hệ giữa các loại hoạt động với các điều kiện của hoạt động, giữa các cá nhân, các nhóm, cộng đồng với nhau trong quá trình hình thành biến đổi phát triển một lối sống. - Cách tiếp cận lịch sử – cụ thể. Theo cách tiếp cận này, nó cho phép nghiên cứu các hiện tượng, quá trình xã hội, các qui luật xã hội và sự ảnh hưởng của nó đối với những hoạt động tương tác của các chủ thể hoạt động trong những nhóm xã hội nhất định trong những điều kiện kinh tế và xã hội nhất định. Nó cho phép nghiên cứu những yếu tố truyền thống còn đang chi phối các hành động của cá nhân, nhóm, cộng đồng xã hội trong quá trình hoạt động sống chung của các chủ thể hành động này. - Cách tiếp cận cấu trúc – chức năng. Cách tiếp cận này xuất phát từ quan niệm cho rằng bất kỳ hệ thống hành động nào đều có những nét nổi bật chung nhằm hoạt động thành công và những điều kiện tiên quyết phải được thực thi. Để nghiên cứu một hệ thống, cần miêu tả những cấu trúc đặc trưng và chức năng của hệ thống rồi nghiên cứu xem trạng thái ổn định của hệ thống trong quá trình tương tác giữa hai hoặc nhiều chủ thể hành động được hình thành và duy trì thế nào. Talcott Parsons – người khởi xướng thuyết cấu trúc chức năng cho rằng, có 4 chức năng thể hiện ra cho mỗi hệ thống (theo sơ đồ A G I L) : Phù hợp (Adaptation); Đạt mục đích (Goal attainment); Hòa nhập (Integration); Bảo toàn cấu trúc (Latency). Với cách tiếp cận này, cho phép xem xét quá trình hình thành lối sống như là một quá trình xã hội hóa Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software For evaluation only. Xaõ hoäi hoïc loái soáng Haø Vaên Taùc 8 trong gia đình, trong cộng đồng thân tộc, trong cộng đồng xã hội, trong tập thể lao động - Ngoài ra người ta có thể tiếp cận theo giới tính, lứa tuổi, dân tộc, vùng, miền, cộng đồng lãnh thổ 3.3. Hệ phương pháp nghiên cứu xã hội học lối sống. - Phương pháp thực nghiệm. Ở đây người ta chọn ra một đối tượng nghiên cứu nhất định với những điều kiện đặt ra để tiến hành tác động thực nghiệm. Nhà nghiên cứu xây dựng chương trình nghiên cứu, tìm những điều kiện nhất định để khống chế những tác động ngẫu nhiên trong phạm vi nghiên cứu của mình; sử dụng những tác động đã dự định, sau đó quan sát, ghi chép và phân tích những biến động nảy sinh trong quá trình nghiên cứu, chỉ ra những nguyên nhân và những qui luật nảy sinh những biến đổi đó. Đây là phương pháp quan trọng để người nghiên cứu chủ động tìm tòi những qui luật biến đổi xã hội một cách khách quan. Tuy nhiên nó rất khó thực hiện bởi vì nó đòi hỏi thời gan, công sức. Hơn nữa con người hoạt động không giống như những chất liệu tự nhiên nên trong quá trình thực nghiệm sẽ có nảy sinh những biến cố ngoài dự định. Vì thế ít được sử dụng trong thực tế. - Phương pháp lịch sử. Nhờ phương pháp này người ta có thể khảo cứu sự hình thành và phát triển lối sống trong tiến trình lịch sử của nó. Vận dụng phương pháp này bằng cách phân tích tài liệu để tái dựng lại bức tranh về hoàn cảnh điều kiện kinh tế xã hội để xác định nghĩa gốc ra đời cũng như diễn biến và trình tự phát triển của lối sống, điều kiện lịch sử làm cho cơ cấu các mặt bên trong của lối sống bị thay đổi. - Phương pháp thống kê xã hội học. Hiện nay, những phương pháp xử lý thông tin xã hội học theo cách thức xử lý thống kê được các nhà lập trình tin học chương trình hóa thành chương trình xử lý chung cho các khoa học xã hội (SPSS + version 6.0). Chương trình đó là một công cụ hữu hiệu để xử lý và thu được những thông tin định lượng của một cuộc nghiên cứu xã Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software For evaluation only. Xaõ hoäi hoïc loái soáng Haø Vaên Taùc 9 hội học. Để sử dụng được chương trình này, các nhà nghiên cứu, các tác giả xã hội học không những cần có sự hiểu biết và cách sử dụng chương trình, mà còn phải hiểu cách xác lập những mối quan hệ, các tương quan giữa những biến cố được quan sát trong khảo sát nghiên cứu xã hội học nói chung và nghiên cứu xã hội học lối sống nói riêng. - Phương pháp chọn mẫu trong nghiên cứu xã hội học lối sống. Để có mẫu mang tính đại diện cao, cần phải có phương pháp chọn mẫu đúng, tùy theo đối tượng. Các cách chọn mẫu thường dùng : chọn mẫu ngẫu nhiên thuần túy; chọn mẫu khoảng cách (ngẫu nhiên cơ học); chọn mẫu tỷ lệ, chọn mẫu phân tầng 3.4. Hệ phương pháp thu thập thông tin xã hội học trong nghiên cứu xã hội học lối sống. - Phương pháp phân tích tài liệu. - Phương pháp quan sát. - Phương pháp phỏng vấn (Phỏng vấn bảng hỏi và phỏng vấn sâu). - Phương pháp trưng cầu ý kiến bằng bản anklet. 3.5. Các bước tiến hành nghiên cứu xã hội học lối sống. Bước 1. Chọn đề tài nghiên cứu. Bước 2. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu. Bước 3. Lập giả thuyết nghiên cứu. Bước 4. Thao tác hóa khái niệm. Bước 5. Lựa chọn và xây dựng các phương pháp thích hợp để triển khai nghiên cứu. Bước 6. Lập bảng hỏi. Bước 7. Chuẩn bị địa bàn nghiên cứu, chọn mẫu nghiên cứu và điều tra thử. Bước 8. Tập huấn điều tra viên. Bước 9. Triển khai nghiên cứu tổng thể theo mẫu để thu thập thông tin. Bước 10. Xử lý, phân tích thông tin. Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software For evaluation only. Xaõ hoäi hoïc loái soáng Haø Vaên Taùc 10 Bước 11. Viết báo cáo về kết quả nghiên cứu. Chương 2: CƠ CẤU LỐI SỐNG VÀ CỦA NHỮNG ĐIỀU KIỆN SỐNG 1.CƠ CẤU CỦA LỐI SỐNG. 1.Cơ cấu lôi sống là gì ? Lối sống, là sự phản xạ động có mục đích và tích cực của hệ thống xã hội. Nó là sự tái hiện trở lại của hiện thực xã hội ở cấp độ cá nhân. Vì vậy cơ cấu của lối sống về căn bản là có sự tương đồng với cơ cấu xã hội. Cơ cấu của lối sống là một hệ thống những yếu tố, thành phần và những mối quan hệ cơ bản cấu tạo nên lối sống, qui định chất của lối sống. Thành phần cơ bản của lối sống là các loại, kiểu, biến dạng hoạt động sống của con người (trả lời câu hỏi con người làm gì) và các yếu tố thuộc mặt khách quan, chủ quan của hành động con người (trả lời câu hỏi con người làm như thế nào). 1.2. Nội dung cơ cấu lối sống 1.2.1. Các loại hoạt động cơ bản qui định chất lối sống. (Các chỉ số phản ánh con người làm gì). Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software For evaluation only. Xaõ hoäi hoïc loái soáng Haø Vaên Taùc 11 Xét những hoạt động sống cơ bản của con người và xã hội với tư cách một tổng thể và xét theo chỗ con người ta làm cái gì, thì hoạt động sống có thể được chia thành các loại, kiểu và biến dạng khác nhau. Những loại hoạt động cơ bản cũng sẽ là những thành phần cơ bản của lối sống xét theo tính chất các loại khác nhau của hoạt động nhằm thỏa mãn những nhu cầu tương ứng. Thường người ta chia các hoạt động của con người thành các loại cơ bản sau đây [V.Đô- bơ-ri-a-nốp.1985.218] : 1. Hoạt động sản xuất vật chất (lao động). 2. Hoạt động chính trị – xã hội. 3. Hoạt động văn hóa. 4. Hoạt động tái sinh sản. 5. Hoạt động giao tiếp. Trong mỗi loại hoạt động cơ bản đó, đều có thể đưa ra những dấu hiệu xác định những chỉ số nhờ đó mà người ta đưa vào thực nghiệm những khái niệm về các hoạt động cơ bản cần nghiên cứu. Chẳng hạn như trong hoạt động sản xuất vật chất có thể được cụ thể hóa thông qua việc phân loại các kiểu và các biến dạng hoạt động của con người và tần số của từng loại hoạt động riêng biệt như: nông nghiệp, công nghiệp Hoạt động chính trị - xã