Khóa luận Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào khu công nghiệp và khu chế xuất

1. Tính cấp thiết của đềtài: Xu thếkhu vực hoá, toàn cầu hoá nền kinh tếthếgiới đã tạo ra nhiều cơhội cũng nhưkhông ít thách thức lớn cho sựphát triển của nền kinh tế của các nước, đặc biệt là các nước đang phát triển. Trong nhiều thập kỷtrở lại đây, việc thu hút vốn đầu tưnước ngoài đặc biệt là vốn đầu tưtrực tiếp nước ngoài (FDI) đã và đang trởthành mục tiêu hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tếcủa các nước trên thếgiới nói chung và các nước đang phát triển nói riêng. Theo kinh nghiệm các nước, muốn phát triển kinh tế, Việt Nam hay bất kỳmột quốc gia nào đều phải tìm cho mình trọng điểm ưu tiên, trong đó có khu công nghiệp va khu chếxuất (KCN, KCX). Một số nước đang phát triển ởkhu vực Châu Á -Thái Bình Dương trong thời gian qua đã coi việc phát triển các KCN, KCX là một giải pháp quan trọng nhằm thu hút vốn đầu tưnước ngoài, phát triển nội lực, đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá hướng vềxuất khẩu. Rất nhiều nước thành công trong việc xây dựng và triển khai mô hình kinh tếkiểu này đểphát triển đất nước. Tuy nhiên thực tếcho thấy không thểtiến hành cùng một lúc và giống nhau vềhình thức, nội dung, trình độ, quy mô các loại hình phát triển trên toàn bộlãnh thổmột quốc gia, đặc biệt đối với các nước chậm pháttriển, khảnăng kinh tế, công nghệ, kỹthuật còn yếu kém. Chính vì vậy có một chính sách tập trung đầu tưcho một sốvùng có chọn lọc với mục đích tập trung vốn và lao động cho sựphát triển kinh tế, xã hội nhằm kéo theo sựphát triển các vệtinh khác, tạo đà phát triển cho toàn bộnền kinh tếlà điều mà nước ta cần phải quan tâm. Xuất phát từmục tiêu, chiến lược phát triển kinh tếcủa đất nước và những kinh nghiệm rút ra từviệc xây dựng và triển khai các KCN, KCX của một sốnước trong khu vực, từnăm 1997, Chính phủta đã cho phép thành lập một sốKCX ởcác địa phương có điều kiện thuận lợi. Đây là chủ trương kịp thời, đúng đắn phù hợp với xu thếphát triển của thời đại và thực tiễn ởnước ta. Tính đến tháng 10 năm 2002, chúng ta đã thành lập được72 KCN, KCX, KCNC tập trung ởba vùng kinh tếtrọng điểm trong cảnước và đã có những đóng góp ban đầu quan trọng cho nền kinh tếquốc dân. Tuy nhiên thực tiễn cho thấy trong nhiều năm qua, hoạt động của các KCN, KCX còn nhiều tồn tại và yếu kém: vềquy hoạch tổng thể, cơchếbộ máy quản lý, thủtục hành chính, nguồn nhân lực. Những hạn chếnày đã và đang cản trởhiệu quảhoạt động của các KCN, KCX. Do vậy, nghiên cứu một cách nghiêm túc những vấn đềlý luận, thực tiễn phát triển các KCN, KCX và việc thu hút FDI ởnước ta thời gian qua cũng nhưviệc đúc rút những bài học kinh nghiệm phát triển KCN, KCX của các nước trong khu vực đểlàm luận cứkhoa học cho việc đềra các chính sách, biện pháp phù hợp với tình hình hiện nay là hết sức cần thiết. 2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của khoá luận là một sốvấn đềcơ bản vềKCN, KCX, đánh giá những kết quả đã đạt được và phân tích những tồn tại và nguyên nhân hạn chếsựphát triển của các KCN, KCX được hình thành trên phạm vi cảnước trong 10 năm qua. 3. Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sửdụng phương pháp tổng hợp, so sánh, phương pháp chứng thực và dựbáo. Cơsởlý luận cho các phương pháp trên là các quan điểm, đường lối, chính sách phát triển kinh tếcủa Đảng và Nhà nước ta. 4. Mục đích nghiên cứu: Em chọn đềtài: “Đầu tưtrực tiếp nước ngoài vào khu công nghiệp, khu chếxuất”làm đềtài cho khoá luận của mình với mục đích nâng cao hiểu biết của bản thân vềnhững vấn đềlý luận chung vềKCN, KCX, đánh giá thực trạng phát triển KCN, KCX ởnước ta trong 10 năm qua, từ đó phần nào nêu ra những giải pháp tăng cường thu hút vốn FDI nhằm phát triển KCN, KCX ởnước mình. 5. Bốcục của luận văn Nội dung chính của khoá luận gồm ba chương: Chương 1: Những vấn đềlý luận chung vềKCN, KCX Chương 2: Thực trạng thu hút FDI vào KCN, KCX ởViệt Nam thời gian qua Chương 3: Một sốgiải pháp nhằm tăng cường thu hút FDI đểphát triển KCN, KCX

pdf107 trang | Chia sẻ: franklove | Lượt xem: 1872 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Khóa luận Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào khu công nghiệp và khu chế xuất, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Nguyễn Thị Hoàng Hà - Trung 1 K37D 1 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG……………….. LUẬN VĂN Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào khu công nghiệp, khu chế xuất Nguyễn Thị Hoàng Hà - Trung 1 K37D 2 1. Tính cấp thiết của đề tài: Xu thế khu vực hoá, toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới đã tạo ra nhiều cơ hội cũng như không ít thách thức lớn cho sự phát triển của nền kinh tế của các nước, đặc biệt là các nước đang phát triển. Trong nhiều thập kỷ trở lại đây, việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài đặc biệt là vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã và đang trở thành mục tiêu hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế của các nước trên thế giới nói chung và các nước đang phát triển nói riêng. Theo kinh nghiệm các nước, muốn phát triển kinh tế, Việt Nam hay bất kỳ một quốc gia nào đều phải tìm cho mình trọng điểm ưu tiên, trong đó có khu công nghiệp va khu chế xuất (KCN, KCX). Một số nước đang phát triển ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương trong thời gian qua đã coi việc phát triển các KCN, KCX là một giải pháp quan trọng nhằm thu hút vốn đầu tư nước ngoài, phát triển nội lực, đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá hướng về xuất khẩu. Rất nhiều nước thành công trong việc xây dựng và triển khai mô hình kinh tế kiểu này để phát triển đất nước. Tuy nhiên thực tế cho thấy không thể tiến hành cùng một lúc và giống nhau về hình thức, nội dung, trình độ, quy mô các loại hình phát triển trên toàn bộ lãnh thổ một quốc gia, đặc biệt đối với các nước chậm phát triển, khả năng kinh tế, công nghệ, kỹ thuật còn yếu kém. Chính vì vậy có một chính sách tập trung đầu tư cho một số vùng có chọn lọc với mục đích tập trung vốn và lao động cho sự phát triển kinh tế, xã hội nhằm kéo theo sự phát triển các vệ tinh khác, tạo đà phát triển cho toàn bộ nền kinh tế là điều mà nước ta cần phải quan tâm. Xuất phát từ mục tiêu, chiến lược phát triển kinh tế của đất nước và những kinh nghiệm rút ra từ việc xây dựng và triển khai các KCN, KCX của một số nước trong khu vực, từ năm 1997, Chính phủ ta đã cho phép thành lập một số KCX ở các địa phương có điều kiện thuận lợi. Đây là chủ trương kịp thời, đúng đắn phù hợp với xu thế phát triển của thời đại và thực Nguyễn Thị Hoàng Hà - Trung 1 K37D 3 tiễn ở nước ta. Tính đến tháng 10 năm 2002, chúng ta đã thành lập được72 KCN, KCX, KCNC tập trung ở ba vùng kinh tế trọng điểm trong cả nước và đã có những đóng góp ban đầu quan trọng cho nền kinh tế quốc dân. Tuy nhiên thực tiễn cho thấy trong nhiều năm qua, hoạt động của các KCN, KCX còn nhiều tồn tại và yếu kém: về quy hoạch tổng thể, cơ chế bộ máy quản lý, thủ tục hành chính, nguồn nhân lực... Những hạn chế này đã và đang cản trở hiệu quả hoạt động của các KCN, KCX. Do vậy, nghiên cứu một cách nghiêm túc những vấn đề lý luận, thực tiễn phát triển các KCN, KCX và việc thu hút FDI ở nước ta thời gian qua cũng như việc đúc rút những bài học kinh nghiệm phát triển KCN, KCX của các nước trong khu vực để làm luận cứ khoa học cho việc đề ra các chính sách, biện pháp phù hợp với tình hình hiện nay là hết sức cần thiết. 2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của khoá luận là một số vấn đề cơ bản về KCN, KCX, đánh giá những kết quả đã đạt được và phân tích những tồn tại và nguyên nhân hạn chế sự phát triển của các KCN, KCX được hình thành trên phạm vi cả nước trong 10 năm qua. 3. Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp tổng hợp, so sánh, phương pháp chứng thực và dự báo. Cơ sở lý luận cho các phương pháp trên là các quan điểm, đường lối, chính sách phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước ta. 4. Mục đích nghiên cứu: Em chọn đề tài: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào khu công nghiệp, khu chế xuất” làm đề tài cho khoá luận của mình với mục đích nâng cao hiểu biết của bản thân về những vấn đề lý luận chung về KCN, KCX, đánh giá thực trạng phát triển KCN, KCX ở nước ta trong 10 năm qua, từ đó phần nào nêu ra những giải pháp tăng cường thu hút vốn FDI nhằm phát triển KCN, KCX ở nước mình. Nguyễn Thị Hoàng Hà - Trung 1 K37D 4 5. Bố cục của luận văn Nội dung chính của khoá luận gồm ba chương: Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về KCN, KCX Chương 2: Thực trạng thu hút FDI vào KCN, KCX ở Việt Nam thời gian qua Chương 3: Một số giải pháp nhằm tăng cường thu hút FDI để phát triển KCN, KCX Ngoài ra còn có phần lời nói đầu, mục lục, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục. Là một sinh viên, trình độ hiểu biết còn hạn chế, kinh nghiệm chưa tích luỹ được nhiều, thời gian nghiên cứu ngắn, đứng trước một đề tài hết sức phức tạp này em sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế. Em rất mong được sự đóng góp ý kiến và chỉ bảo của thầy cô, bạn bè về nội dung và hình thức của khoá luận này. Em xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của TS Vũ Chí Lộc, giảng viên bộ môn đầu tư và chuyển giao công nghệ trường Đại học Ngoại Thương, cùng sự giúp đỡ nhiệt tình của các cô chú ở Vụ Đầu tư - Bộ Thương mại, Ban quản lý KCN, KCX - Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã giúp em hoàn thành khoá luận này. Hà nội tháng 12 - 2002 Sinh viên: Nguyễn Thị Hoàng Hà Nguyễn Thị Hoàng Hà - Trung 1 K37D 5 MỤC LỤC Chương 1 Những vấn đề lý luận chung về KCN & KCX 1 Khái quát chung về KCN & KCX 1.1 Khái niệm và đặc điểm về KCN& KCX 1.1.1 Khu chế xuất 1.1.2 Khu công nghiệp 1.2 Điểm giống và khác nhau giữa KCN & KCX 1.3 Quan hệ giữa FDI và sự phát triển của KCN & KCX 2 Kinh nghiệm xây dựng KCN & KCX của một số nước và bài học đối với Việt Nam 2.1 Kinh nghiệm từ sự thành công 2.1.1 Đài Loan 2.1.2 Thái Lan 2.1.3 Trung Quốc 2.2 Kinh nghiệm từ sự thất bại 2.2.1 Philippin 2.2.2 Thái lan Chương 2 Thực trạng thu hút FDI vào KCN & KCX ở Việt Nam 1 Tình hình thu hút FDI và phát triển KCN & KCX ở Việt Nam thời gian qua 1.1 Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam thời gian qua 1.1.1 Nhận xét chung 1.1.2 Kết quả thu hút FDI 1.2 Hoạt động của các KCN & KCX ở Việt nam 1.2.1 Số lượng các KCN & KCX đã hình thành 1.2.2 Thực trạng xây dựng hạ tầng các KCN, KCX 1.2.3 Tỷ lệ lấp đầy 1.2.4 Tình hình sản xuất kinh doanh 1.2.5 Vấn đề lao động 1.2.6 Vấn đề môi trường 1.3 Đóng góp của KCN & KCX vào nền kinh tế quốc dân Nguyễn Thị Hoàng Hà - Trung 1 K37D 6 2 Vài nét khái quát về các KCN & KCX ở ba vùng kinh tế động lực 2.1 Vùng kinh tế động lực Bắc Bộ 2.2 Vùng kinh tế động lực Trung Bộ 2.3 Vùng kinh tế động lực Nam Bộ 3 Công tác quản lý của nhà nước đối với việc phát triển KCN & KCX 3.1 Về chính sách đối với các doanh nghiệp trong KCN & KCX 3.2 Về cơ chế quản lý các doanh nghiệp trong các KCN & KCX 3.3 Một số bất cập trong công tác quản lý của nhà nước 3.4 Hướng giải quyết các vấn đề quản lý KCN trước mắt 4 Một số vấn đề tồn tại chủ yếu 4.1 Vấn đề khung pháp lý 4.2 Vấn đề liên quan đến quản lý nhà nước và thủ tục hành chính 4.3 Vấn đề liên quan đến tổ chức bộ máy của Ban quản lý 4.4 Vấn đề liên quan đến đất đai và cơ sở hạ tầng 4.5 Vấn đề liên quan đến dịch vụ Chương 3 Một số giải pháp nhằm tăng cường thu hút FDI vào KCN 1 Định hướng xây dựng và phát triển các KCN, KCX 1.1 Mục tiêu 1.2 Định hướng 2 Một số giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển KCN & KCX ở Việt Nam 2.1 Về chính sách, luật pháp 2.2 Về phía cơ quan nhà nước Trung ương 2.3 Về phía Ban quản lý và các địa phương Nguyễn Thị Hoàng Hà - Trung 1 K37D 7 CHƯƠNG 1 KHU CÔNG NGHIỆP VÀ KHU CHẾ XUẤT MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN 1. KHÁI QUÁT VỀ KHU CÔNG NGHIỆP VÀ KHU CHẾ XUẤT 1.1. Khái quát chung về Khu công nghiệp và Khu chế xuất Trong những thập kỷ gần đây, đầu tư nước ngoài đặc biệt là đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), đã trở thành một đặc điểm nổi bật trong xu thế khu vực hoà và toàn cầu hoà nền kinh tế thế giới. Quan sát “dòng chảy” của thị trường vốn quốc tế vào đầu thế kỷ XX, người ta thấy đó là một “dòng chảy thuận”, tức là từ các nước tư bản phát triển thiếu vốn nhằm mục tiêu thu lợi nhuận tối đa. Nhưng vào những năm 60, 70 “dòng chảy nghịch” đã xuất hiện. Tức là dòng vốn đầu tư ra nước của các nước ngoài lại chảy “ngược” vào các nước công nghiệp phát triển. Chẳng hạn tại Mỹ, các nhà kinh tế đã thống kê và cho thấy rằng, nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào Mỹ tăng rất nhanh vượt cả tốc độ đầu tư của Mỹ ra nước ngoài, làm cho Mỹ trở thành nước tiếp nhận đầu tư trực tiếp lớn nhất thế giới. Đến năm 1989, tổng vốn đầu tư của nước ngoài lớn gần gấp đôi (2.288 tỷ USD)[11]. Sở dĩ có hiện tượng này là do cuộc cách mạng khoa học công nghệ đã làm cho hàm lượng khoa học, trí tuệ trong sản phẩm làm ra đóng vai trò quyết định đến việc nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng lợi nhuận, chứ không phải là nguyên liệu và giá nhân công hạ như trước kia. Do đó, cuộc “chiến tranh kinh tế” ắt phải diễn ra trên thương trường giữa các nước công nghiệp phát triển để tranh thủ kỹ thuật và công nghệ của nhau thông qua việc thu hút nguồn đầu tư. Vì vậy sự cạnh tranh thu hút FDI cho nhu cầu tăng trưởng kinh tế ở các nước ngày càng gay gắt. Trong bối cảnh đó, các nước đang phát triển phải tìm kiếm con đường thích hợp để khuyến khích, thu hút nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài, [11] Tạp chí cộng sản, số 11 năm 1997 Nguyễn Thị Hoàng Hà - Trung 1 K37D 8 đặc biệt là từ các nước công nghiệp phát triển, các nước NICs Châu Á và tiếp theo là các nước ASEAN đã sớm nhận ra và khắc phục. Để hấp dẫn đầu tư nước ngoài, các nước cần có một môi trường đầu tư thuận lợi, bao gồm môi trường pháp lý hoàn thiện và môi trường kinh doanh thuận lợi. Nhiều nước đang phát triển tìm kiếm, lựa chọn và thực tế đã thành công ở nhiều nước là xây dựng các KCN và KCX cũng như các mô hình tương tự khác, để qua đó thu hút FDI trong khi chưa tạo được môi trường đâu tư hoàn chỉnh trên phạm vi cả nước. 1.1.1. Khu chế xuất Khái niệm: Khu chế xuất (Export processing zone - EPZ) là từ gọi tắt của khu chế biến xuất khẩu. Nó được gọi bằng nhiều tên gọi khác nhau, thậm chí có cả định nghĩa khác nhau. Theo khái niệm của Tổ chức phát triển Công nghiệp của Liên hiệp quốc UNIDO thì: KCX là một khu tương đối nhỏ phân cách về địa lý trong một quốc gia nhằm mục tiêu thu hút các doanh nghiệp (chủ yếu là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) hướng về xuất khẩu, bằng cách cung cấp cho các doanh nghiệp những điều kiện về đầu tư và mậu dịch đặc biệt thuận lợi so với phần lãnh thổ còn lại của nước chủ nhà. Đặc biệt, KCX cho phép nhập khẩu hàng hoá dùng cho sản xuất xuất khẩu miễn thuế[20]. Ở nước ta, theo quy định trong Nghị định 36/CP ngày 24/4/1997, ban hành kèm theo Quy chế Khu công nghiệp, Khu chế xuất, khu công nghệ cao quy định: Khu chế xuất là KCN tập trung các doanh nghiệp chế xuất chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ phục vụ sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống, do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập. [20] Tạp chí thông tin lý luận, số 6 năm 1994 Nguyễn Thị Hoàng Hà - Trung 1 K37D 9 KCX là một mô hình đã có lịch sử phát triển từ lâu, song việc hình thành các KCX với ý nghĩa là một công cụ thu hút FDI và khuyến khích sản xuất xuất khẩu đã trở thành một quan điểm chính sách phát triển công nghiệp được áp dụng khá rộng rãi tại hàng loạt các quốc gia đang phát triển trong vài thập kỷ gần đây. Khu chế xuất là hình ảnh của một thể chế pháp lý đơn giản rõ ràng, gói gọn trong một bộ luật của KCX, đảm bảo quyền lợi của các nhà đầu tư một cách thoả đáng, tạo sự an toàn, yên tâm đầu tư cho họ. Các nước tiếp nhận FDI, đều muốn duy trì hình thức này vì nó không trực tiếp cạnh tranh với sản phẩm sản xuất trong nước. Đặc điểm: Mặc dù KCX ở từng nước có quy định cụ thể khác nhau, song những đặc trưng sau đây được coi là đặc điểm của một khu chế xuất điển hình.  KCX là một khu đất thuộc lãnh thổ của một nước được quy hoạch riêng ra, thường được ngăn bằng tường rào kiên cố để tách biệt hoạt động với phần nội địa.  Mục đích hoạt động của các KCX là thu hút các nhà sản xuất công nghiệp nước ngoài và trong nước định hướng sản xuất xuất khẩu bằng những biện pháp đặc biệt ưu đãi về thuế quan, về các điều kiện mậu dịch và các loại thuế khác.  Hàng hoá, tư liệu sản xuất nhập khẩu vào KCX để sản xuất hàng xuất khẩu được miễn thuế hải quan (nếu nhập khẩu từ KCX vào nội địa phải nộp thuế nhập khẩu).  Những hoạt động trong khu chế xuất được sử dụng cơ sở hạ tầng tốt như đường giao thông, thông tin liên lạc, cung cấp điện, nước... và giảm thiểu các thủ tục hành chính.  Hàng hoá làm ra ở KCX chủ yếu để phục vụ xuất khẩu. Tuy nhiên, ở các nước khác nhau, trong các thời kỳ khác nhau, có thể mô hình KCX được vận dụng một cách khác nhau và có thể gọi bằng Nguyễn Thị Hoàng Hà - Trung 1 K37D 10 những cái tên không giống nhau. Nhưng dù có được gọi là gì đi chăng nữa thì KCX (theo cách gọi thông thường) cũng là một hình thức đặc biệt thu hút vốn đầu tư nước ngoài được nhiều quốc gia áp dụng, phát triển hoặc cải tiến cho phù hợp với điều kiện của quốc gia mình. 1.1.2. Khu công nghiệp Khái niệm: Khu công nghiệp (Industrial Zone; Industrial Park), hay còn gọi là KCN tập trung, là một quần thể liên hoàn các xí nghiệp công nghiệp xây dựng trên một vùng có thuận lợi về các yếu tố địa lý, tự nhiên, về kết cấu hạ tầng, về xã hội... để thu hút vốn đầu tư (chủ yếu là đầu tư nước ngoài) và hoạt động theo một cơ cấu hợp lý các doanh nghiệp công nghiệp và các doanh nghiệp dịch vụ, nhằm đạt hiệu quả cao trong sản xuất công nghiệp và kinh doanh. Ở nước ta, theo quy định trong Nghị định 36/CP ngày 24/4/1997, ban hành kèm theo Quy chế Khu công nghiệp, Khu chế xuất, khu công nghệ cao quy định[9]: Khu công nghiệp là khu tập trung các doanh nghiệp KCN chuyên sản xuất hàng công nghiệp, thực hiện các dịch vụ sản xuất hàng công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống, do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập. KCN về cơ bản cũng giống như KCX là địa bản sản xuất công nghiệp mà phần lớn là công nghiệp tiêu dùng, đều gồm những doanh nghiệp vừa và nhỏ và phần lớn là các khu vực không có dân cư sinh sống. Tuy vậy, điểm khác nhau cơ bản giữa hai loại hình này là: sản phẩm sản xuất ra trong KCX chủ yếu phải xuất khẩu, còn sản phẩm của KCN vừa xuất khẩu vừa được tiêu thụ ở thị trường nội địa, quan hệ giữa doanh nghiệp KCX và thị trường nội địa là quan hệ ngoại thương, còn quan hệ giữa doanh nghiệp KCN và thị trường nội địa là quan hệ nội thương. Hơn [9] Hướng dẫn đầu tư các các KCN, KCX, KCNC ở Việt Nam, NXB Thống Kê 1998 Nguyễn Thị Hoàng Hà - Trung 1 K37D 11 nữa, xét trên góc độ thị trường quốc tế, KCX có thể được coi là khu vực thương mại tự do, vì không có thuế xuất nhập khẩu, lại ít ràng buộc bởi các biện pháp phi thuế quan. KCN và KCX nhằm mục tiêu thu hút vốn đầu tư, chủ yếu là đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các ngành công nghiệp chế tạo, chế biên gia công xuất khẩu. Bên cạnh đó, mục tiêu quan trọng của việc hình thành KCN, KCX là để tăng hiệu quả sử dụng vốn đầu tư hạ tầng, vì trong KCN, KCX các doanh nghiệp dùng chung các công tình hạ tầng, nên giảm được chi phí trên một đơn vị diện tích và đơn vị sản phẩm, thực hiện phát triển công nghiệp theo một quy hoạch thống nhất kết hợp giữa quy hoạch phát triển ngành với quy hoạch lãnh thổ. Mặt khác, việc tập trung các doanh nghiệp trong KCN, KCX sẽ tạo điều kiện dễ dàng hơn trong việc xử lý chất thải công nghiệp, bảo vệ môi trường sinh thái, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, các doanh nghiệp công nghiệp có điều kiện thuận lợi liên kết, hợp tác với nhau, đổi mới công nghệ, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh. Ngoài ra, KCN, KCX còn là một mô hình kinh tế năng động và “không quan liêu” phù hợp với nên kinh tế thị trường. Bởi vì, trong việc phát triển và quản lý các khu này, các thủ tục hành chính đã được giảm thiểu đến mức tối đa thông qua cơ chế “một cửa” tập trung vào Ban quản lý các khu đó, trong khi chưa thể vận dụng rộng rãi trong phạm vi toàn quốc trong thu hút các nhà đầu tư nước ngoài. Những chính sách áp dụng trong các KCN, KCX gắn quyền lợi và nghĩa vụ của nhà đầu tư trong một hợp đồng, giảm thiểu thủ tục hành chính, cùng với hệ thống quy định hữu hiệu cho sản xuất kinh doanh, đo đó để tạo ra được sự an toàn, yên tâm cho các nhà đầu tư. Nguyễn Thị Hoàng Hà - Trung 1 K37D 12 Tiêu thức so sánh Khu chế xuất Khu công nghiệp Khu công nghiệp cao Khái niệm (Theo pham vi hoạt động) Hẹp nhất Rộng hơn khu chế xuất, nhưng hẹp hơn khu công nghệ cao. Khái niệm rộng nhất hiện nay. Mục tiêu hoạt động Thu hút vốn đầu tư (chủ yếu là FDI ), phát triển xuất khẩu, tăng nguồn thu ngoại tệ, tạo công ăn việc làm, tiếp thu chuyển giao công nghệ. Thu hút vốn đầu tư (chủ yếu là FDI ), giải quyết vấn đề phát triển công nghiệp, phát triển kinh tế, tạo công ăn việc làm, tiếp thu chuyển giao công nghệ. Kết hợp giữa sản xuất và nghiên cứu khoa học- triển khai, đào tạo, làm đòn bẩy cho việc nâng cao trình độ công nghệ, đáp ứng nhu cầu chiến lược công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, thu hút FDI. Thị trường phục vụ Chủ yếu phục vụ thị trường ngoài nước. Thị trường trong nước cũng như ngoài nước. Thị trường trong nước cũng như ngoài nước. Nhân lực Sử dụng nhiều lao động, có ưu tiên cho những người có trình độ cao. Sử dụng nhiều lao động, có ưu tiên cho những người có trình độ cao. Tập trung cho những người có năng lực nghiên cứ và trình độ tay nghề cao. Ngành hoạt động Các ngành truyền thống (nông nghiệp, công nghiệp, hàng tiêu Các ngành truyền thống và các ngành công nghệ mới. Các ngành mới và công nghệ cao : Sản xuất định hướng R&D, công nghệ sinh 1.2 Điểm giống và khác nhau giữa Khu công nghiệp và Khu chế xuất Nguyễn Thị Hoàng Hà - Trung 1 K37D 13 dùng...) mà trong nước có lợi thế so sánh và các ngành công nghệ mới. học, vật liệu mới, quang học, cơ khí chính xác, điẹn tử vi mạch. Cơ sở hạ tầng Được cung cấp đầy đủ các yếu tố hạ tầng kỹ thuật hiện đại (điện nước, thông tin, xử lý chất thải...), đạt các tiêu chuẩn quy định cho hoạt động của các doanh nghiệp. Được cung cấp đầy đủ các yếu tố hạ tầng kỹ thuật hiện đại (điện nước, thông tin, xử lý chất thải...), đạt các tiêu chuẩn quy định cho hoạt động của các doanh nghiệp. Hiện đại theo các tiêu chuẩn tiên tiến nhất của thế giới, bao gồm các thuận lợi về điện nước, mạng lưới bưu chính viễn thông, môi trường phát triển công nghệ cao. Sản phẩm Sản phẩm công nghiệp chế tạo, gia công, lắp ráp, chế biến xuất khẩu và dịch vụ phục vụ sản xuất công nghiệp xuất khẩu. Sản phẩm công nghiệp chế tạo, gia công, chế biến, dịch vụ sản xuất công nghiệp. Các sản phẩm tạo ra bởi các doanh nghiệp trong khu được dùng cho xuất khẩu cũng như tiêu dùng trong nội địa. Sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao được tiêu thụ trong và ngoài nước, bản thân sản phẩm công nghệ cao được dùng để ứng dụng vào sản xuất của các doanh nghiệp trong khu hoặc được chuyển giao ra bên ngoài. Mật độ xây dựng xí nghiệp Diện tích xây dựng xí nghiệp chiếm trên 70% diện tích toàn khu. Diện tích xây dựng xí nghiệp chiếm trên 70% diện tích toàn khu. Có nhiều công viên cây xanh, diện tích dành cho xí nghiệp chiếm không quá 60% diện tích toàn khu. Nguyễn Thị Hoàng Hà - Trung 1 K37D 14 Điều kiện ưu đãi Được miễn thuế xuất nhập khẩu, các thủ tục mua bán được giải quyết nhanh gọn. Các doanh nghiệp KCX nộp thuế thu nhập doanh nghiệp là 10% và được miễn thuế trong 4 năm đối với doanh nghiệp sản xuất, nộp 15% và được miễn trong 2 năm đối với doanh nghiệp dịch vụ Được miễn giảm thuế xuất nhập khẩu đối với nguyên liệu phục vụ cho sản xuất hàng xuât khẩu. Các doanh nghiệp KCN nộp thuế thu nhập doanh
Tài liệu liên quan