Mẫu hình nam nhi đời trần qua bài thơ Thuật hoài của Phạm Ngũ Lão

Tóm tắt. Mẫu hình nam nhi để lại dấu ấn sớm nhất có lẽ là trong bài thơ Thuật hoài của Phạm Ngũ Lão đã cho chúng ta những cảm nhận về một nhân cách cao đẹp đời Trần của chí làm trai: Nam nhi phải có khí phách trượng phu, có lí tưởng anh hùng và trách nhiệm, tâm huyết thực sự với triều đình mình phụng sự. Bởi vậy vũ đài hoạt động của người anh hùng trong Thuật hoài phải là “giang sơn” - hình ảnh biểu trưng cho vũ trụ, nguồn cội cấp nhân cách cao quý cho nam nhi.

pdf7 trang | Chia sẻ: thanhle95 | Lượt xem: 194 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Mẫu hình nam nhi đời trần qua bài thơ Thuật hoài của Phạm Ngũ Lão, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
JOURNAL OF SCIENCE OF HNUE Social Sci., 2012, Vol. 57, No. 2, pp. 58-64 MẪU HÌNH NAM NHI ĐỜI TRẦN QUA BÀI THƠ THUẬT HOÀI CỦA PHẠM NGŨ LÃO Nguyễn Thị Giang Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội E-mail: anhthu-it@yahoo.com.vn Tóm tắt. Mẫu hình nam nhi để lại dấu ấn sớm nhất có lẽ là trong bài thơ Thuật hoài của Phạm Ngũ Lão đã cho chúng ta những cảm nhận về một nhân cách cao đẹp đời Trần của chí làm trai: Nam nhi phải có khí phách trượng phu, có lí tưởng anh hùng và trách nhiệm, tâm huyết thực sự với triều đình mình phụng sự. Bởi vậy vũ đài hoạt động của người anh hùng trong Thuật hoài phải là “giang sơn” - hình ảnh biểu trưng cho vũ trụ, nguồn cội cấp nhân cách cao quý cho nam nhi. Từ khóa:Mẫu hình nam nhi, chí làm trai, khí phách trượng phu, Thuật hoài, Phạm Ngũ Lão. 1. Mở đầu Thời Trần có những con người mà Lê Quý Đôn khen là phong độ như sĩ quân tử đời Hán, đời sau ít ai sánh kịp. Họ là ai, liệu Lê Quý Đôn có xác đáng không? Nam nhi có phải là mẫu người mà Lê Quý Đôn định nói tới không? Và mẫu người lí tưởng đó đã được thể hiện trong văn học như thế nào? Như chúng ta đều biết thời đại nhà Trần là một thời đại oanh liệt với chiến công rực rỡ ba lần đánh tan quân Nguyên - Mông, một đội quân hùng mạnh nhất thời bấy giờ. Thời đại anh hùng tất sản sinh ra những anh hùng và nhân cách lớn. Những tác giả như Trần Quang Khải, Trần Quốc Tuấn, Phạm Ngũ Lão, Đặng Dung... vừa là võ tướng, vừa thuộc dòng dõi thế gia. Bởi vậy ở họ vừa có vinh quang, danh tiếng vừa có nghĩa vụ, trách nhiệm đối với bản thân và triều đình. Địa vị xã hội, quyền lợi của đẳng cấp lãnh đạo tất nhiên chi phối đến quan niệm sống, lí tưởng sống của họ và ảnh hưởng đến sự biểu hiện cái tôi trữ tình – nhân vật trữ tình trong thơ ca của họ. Sự thôi thúc mãnh liệt, sục sôi trong những con người thời đại luôn muốn mang tài đức để phụng sự hết mình cho triều đình, để xứng đáng với dòng dõi quý tộc, tôn thất của mình như Trần Quang Khải, Trần Quốc Tuấn, Phạm Ngũ Lão, Đặng Dung. . . đã tạo nên một mẫu hình nhân cách cao đẹp trong thơ ca đời Trần. Trong số những bài thơ đời Lí - Trần còn lại ngày nay, chúng ta thường xuyên bắt gặp hai chữ NAMNHI như là một cảm nhận đã trở nên quen thuộc về một mẫu hình người quân tử trong quá khứ. 58 Mẫu hình nam nhi đời Trần qua bài thơ Thuật hoài của Phạm Ngũ Lão 2. Nội dung nghiên cứu 2.1. Khái niệm Nam nhi và quan niệm Nam nhi thời trung đại Người Việt Nam khi giành được độc lập cũng luôn chủ động tìm kiếm kinh nghiệm xây dựng mẫu hình nhân cách từ tư tưởng, triết học, văn hóa Trung Quốc để làm giàu cho mình. Việc các trí thức, các tác giả văn học trung đại Việt Nam chịu ảnh hưởng từ tư tưởng, nhân cách của các danh nhân văn học Trung Quốc như Khuất Nguyên, Đào Uyên Minh, Đỗ Phủ, Lí Bạch. . . là những liên hệ có thể thấy rõ trong các văn bản tác phẩm. . .Với chí Nam nhi từ thời Lí - Trần cũng đã được nhắc đến. Chúng ta biết đến một Quảng Nghiêm thiền sư ( 1122- 1190) với cách nói: “Nam nhi tự hữu xung thiên chí/ Hưu hướng Như Lai hành xứ hành”; một Phạm Ngũ Lão với nỗi niềm: “Nam nhi vị liễu công danh trái/ Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu”. Hai người, một nhà sư, một nhà nho nhưng phương pháp tư duy của họ giống nhau: đứng từ góc độ thực tiễn để phát biểu cho chí nam nhi. Cũng trong tinh thần khẳng định sự hành động của chí làm trai, sang thế kỉ XVI, Phùng Khắc Khoan (1528- 1613) cũng nói đến chí nam nhi: “Nam nhi tự hữu hiển dương sự/ Khẳng tác ngang tàng nhất trượng phu” (Tài trai phải có sự nghiệp vẻ vang cho cha mẹ. Không chịu làm một đấng trượng phu ngông ngênh - Tự thuật). . . Theo quan niệm thời trung đại, người nam nhi hay anh hùng là những người có nguồn gốc cao quý, là tinh hoa của vũ trụ nên cuộc đời là việc trả lại món nợ mà giang sơn, trời đất, núi sông đã ưu ái cấp cho họ. Người đàn ông lí tưởng theo yêu cầu của thời bấy giờ không chỉ có Tài, có Tâm mà còn phải có Chí, có khát vọng để theo đuổi và thực hiện đến cùng những ước mơ, hoài bão. Chí là chí làm trai mang tinh thần tích cực của Nho giáo: lập đức, lập công (có công danh sự nghiệp), lập danh (có danh tiếng tốt đẹp). Quan niệm lập công danh đã trở thành quan niệm lí tưởng của nam nhi thời phong kiến. Và như một tất yếu, công danh được coi là món nợ đời phải trả của kẻ làm trai. Trả xong nợ công danh có nghĩa là đã hoàn thành nhiệm vụ với đời, với dân, với nước. Chí làm trai ở thời bấy giờ có tác dụng cổ vũ con người từ bỏ lối sống tầm thường, ích kỉ, sẵn sàng hi sinh chiến đấu cho sự nghiệp lớn lao - sự nghiệp cứu nước cứu dân để cùng trời đất “muôn đời bất hủ”. Nhìn chung, có thể hiểu nam nhi thường nhấn mạnh đến phương diện con người anh hùng, chí nam nhi là chí khí anh hùng, là khí phách trượng phu. Người nam nhi luôn có khát vọng tạo nên sự nghiệp lừng lẫy trong trời đất để xứng đáng với nguồn gốc cao quý. Cũng cần phần biệt giữa Nam nhi (thiên về anh hùng) với kẻ sĩ, quân tử. Khái niệm sĩ nói về phương diện trí thức, hiểu biết chính trị, lịch sử, văn hóa, làm cố vấn, tham mưu cho vua chúa (xưa gọi là rường cột trong chốn lăng miếu). Nguyễn Công Trứ từng luận về kẻ sĩ: “Có giang sơn thời đã có tên/ Từ Chu Hán vốn sĩ này đã quý” (Luận kẻ sĩ). Còn khái niệm Nam nhi, giống như anh hùng, trượng phu, hào kiệt nhấn mạnh khía cạnh giới tính nam giới, nam nhi là người đàn ông, mạnh mẽ, họ hay nói họ không phải nhi nữ như thường tình, không ru rú ở trong nhà mà phải xông pha trên trường đời, lập công danh. Phan Bội Châu viết: “Đầu óc cũng tròn vo, sâu xoáy - Râu mày xem đáng thảy nam nhi”. “Râu mày” là biểu hiện nam tính trên khuôn mặt (người xưa có ý thức tập trung tả khuôn mặt kể cả nhân vật nam và nữ), đồng thời là hình ảnh hoán dụ của đàn ông nói chung; còn 59 Nguyễn Thị Giang “đầu óc” là tinh thần, là trí tuệ. Nguyễn Công Trứ có nói đến kiếm cung, tu mi nam tử (con trai có râu mày), Phạm Ngũ Lão nói đến giáo (vũ khí), Trần Quang Khải cũng nói đến quân công cướp giáo giặc, Đặng Dung có hình ảnh mài gươm, ngay như trong thơ chữ Hán Nguyễn Du cũng có tráng sĩ và hùng tâm, có lúc còn nói đến đeo gươm nữa. Nếu như kẻ sĩ hoạt động thiên về tri thức, mưu kế, đường lối thống trị về tư tưởng thì Nam nhi là lí tưởng anh hùng, là hành động thực tiễn. Tuy nhiên cũng thấy không có sự khác biệt tuyệt đối, trong những tình thế nào đó, kẻ sĩ cũng chuyển thành nam nhi. Chẳng hạn, Nguyễn Trãi là người nói nhiều đến sĩ nho, quân tử nhưng có những lúc con người “cháy hết mình trong hành động” ấy cũng nhắc tới lí tưởng anh hùng, hành động anh hùng có khi của bản thân, có khi là thay lời Lê Lợi: “Trừ độc, trừ tham, trừ bạo ngược/Có nhân, có trí, có anh hùng” (Bảo kinh cảnh giới, Số 5); “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân/ Quân điếu phạt trước lo trừ” (Bình ngô đại cáo)... Hoặc thế kỉ XVIII- XIX khi Pháp xâm lược, Nguyễn Công Trứ vừa luận kẻ sĩ vừa nói chí nam nhi. . . Vấn đề nam nhi cũng như kẻ sĩ là những vấn đề hết sức lí thú trong văn học trung đại Việt Nam, chúng tôi sẽ bàn về mẫu hình kẻ sĩ trong một bài viết khác. . . Sức hấp dẫn của hình tượng nam nhi còn kéo dài đến cả thế kỉ XVIII- XIX, mà người nói đến da diết, mãnh liệt nhất có lẽ là Nguyễn Công Trứ. Trong sáng tác của Nguyễn Công Trứ - cả thơ và hát nói, tần số những từ ngữ thể hiện cho chí khí anh hùng xuất hiện khá cao như: chí nam nhi, chí làm trai, nợ anh hùng, nợ tang bồng, tang bồng hồ thỉ, nợ công danh. Nguyễn Công Trứ ôm ấp chí nam nhi và luôn tin tưởng, quyết tâm vào khả năng thành công. Không hẳn đã muốn làm một võ tướng thậm chí một Từ Hải trong văn chương hay một Nguyễn Huệ, Nguyễn Ánh ngoài đời nhưng ở ông quan niệm về công danh với mộng công hầu danh tướng, lòng thèm muốn lưu danh thiên cổ với những suy nghĩ phải thi đỗ, phải làm quan, phải được vinh hiển để cho rõ anh hùng: “Trong vũ trụ đã đành phận sự/ Phải có danh mà đối với non sông” (Chí nam nhi); “Đã mang tiếng ở trong trời đất/ Phải có danh gì với núi sông” (Nợ tang bồng); “Chí làm trai xẻ núi lấp sông/ Làm nên đấng anh hùng đâu đấy tỏ” (Chí khí anh hùng). . . Trương Tửu cho rằng chí nam nhi theo ý Nguyễn Công Trứ là “hiếu danh đến tột độ” [1;585]. Nguyễn Lộc thì nhận xét: “Trong thơ Nguyễn Công Trứ đằng sau ý thức, bổn phận, vai trò của cá nhân cũng được nhà thơ đề cao (. . . ) Nhưng cũng cần vạch ra rằng chí nam nhi của Nguyễn Công Trứ không có tí liên hệ nào với quần chúng, thậm chí có lúc còn đi ngược lại quyền lợi của quần chúng. . . ” [1;722-723-724]. Chí nam nhi ở Nguyễn Công Trứ có rất nhiều mặt tích cực: tràn đầy tin tưởng, lạc quan, nó “khoáng đạt, to nhớn, rộng rãi và kiêu sa” song cũng có những mặt còn hạn chế như mục đích chí nam nhi chỉ để thỏa mãn sự hiếu danh, còn nhiều ảo tưởng nên không tránh khỏi sự cô độc và thất bại mà Trương Tửu và Nguyễn Lộc đã chỉ ra ở trên. Đây là những điểm khác biệt lớn so với chí nam nhi đời Trần mà chúng tôi sẽ phân tích ở phần sau: thời Trần nam nhi không hiếu danh, nam nhi có lý tưởng và trách nhiệm, tâm huyết thực sự. Đó là những người có phong độ như sĩ quân tử đời Hán mà Lê Quý Đôn nhắc đến. . . Tóm lại, chí nam nhi hay chí khí anh hùng, chí làm trượng phu hiển hách đã tạo nên một mẫu hình nhân cách hấp dẫn, góp phần làm giàu thêm cho hình ảnh con người Việt Nam trong quá khứ. Để giúp hiểu thêm quan niệm về người anh hùng, về chí làm trai 60 Mẫu hình nam nhi đời Trần qua bài thơ Thuật hoài của Phạm Ngũ Lão trong văn học Lí - Trần, trong khuôn khổ bài viết này chúng tôi sẽ đi vào phân tích mẫu hình Nam nhi đời Trần trong bài thơ nổi tiếng của Phạm Ngũ Lão: Thuật hoài (Tỏ lòng). 2.2. Mẫu hình Nam nhi đời Trần qua Thuật hoài của Phạm Ngũ Lão Đại Việt sử kí toàn thư được coi như một di sản văn hóa dân tộc. Tác phẩm không chỉ có giá trị lịch sử to lớn mà còn có giá trị văn học sâu sắc. Ngoài ra nguồn sử liệu phong phú trong tác phẩm còn là tư liệu quý giá cho nghiên cứu và sáng tác văn học. Chân dung những người anh hùng đời Trần như Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Đặng Dung. . . cũng được tác giả Đại Việt sử kí toàn thư ghi chép lại khá kĩ. Về Phạm Ngũ Lão: “Tháng 11, điện súy thượng tướng quân Phạm Ngũ Lão chết ở phủ đệ vua, chôn tại vườn cau trong thành, thọ 66 tuổi. Vua nghỉ chầu 5 ngày, đó là ân điển đặc biệt. Ngũ Lão (người làng Phù Ủng huyện Đường Hào, châu Thượng Hồng) tuổi ngoại hai mươi, Hưng Đạo đại vương trông thấy cho là người có tài giỏi, đem con gái nuôi gả cho, và dùng làm gia thần. Vì được vương dạy bảo thêm cho, nên tài khí hơn người. Vương tiến cử lên. Ngũ Lão tuy xuất thân trong hàng quân ngũ, nhưng thích đọc sách, là người phóng khoáng, có chí làm việc lớn, thích ngâm thơ, về việc võ hình như không để ý đến. Nhưng quân của ông coi đều một lòng thân yêu như cha với con, đánh đâu tất được đấy. . . Ông coi quân có kỉ luật, đối đãi với tướng hiệu như người nhà, cùng quân lính chia ngọt sẻ đắng, cho nên đánh đâu không ai địch nổi. Phàm đánh dẹp lấy được gì đều bỏ vào việc chi dùng cho quân lính, coi của cải như không, là danh tướng giỏi trong một thời” [2;354-355]. Các sử gia khi viết về Phạm Ngũ Lão cũng đã nhắc đến bài thơ nổi tiếng Thuật hoài của ông. Trở lên, khi đọc Thuật hoài của Phạm Ngũ Lão - dấu ấn sớm nhất về hình tượng nam nhi, ta lại thêm một lần hiểu được sự thôi thúc mạnh liệt, sục sôi trong những con người thời đại luôn muốn mang tài đức để phụng sự hết mình cho triều đình, để xứng đáng với dòng dõi quý tộc, tôn thất của mình. Chúng ta biết rằng giữa tác giả ngoài đời và nhân vật trữ tình trong thơ có quan hệ với nhau nhưng không đồng nhất. Tuy nhiên, trường hợp các nhân vật trữ tình nam nhi trong thơ Lí - Trần lại cho thấy khoảng cách giữa con người thật và nhân vật trữ tình rất gần nhau. Những tác giả viết về chí nam nhi thường là những người không học hành đỗ đạt cao mà chủ yếu là con người hành động, thuộc tầng lớp phong kiến thống trị, có quyền lợi và trách nhiệm gắn chặt với chế độ, với quốc gia dân tộc, lại là các võ tướng trải qua quân công như đã nói. Nội dung của chí nam nhi trong thơ rất thống nhất với con người thực. Đây là một điều thú vị và chúng tôi sẽ làm sáng tỏ khi đi vào phân tích cụ thể bài thơ của Phạm Ngũ Lão. Thuật hoài của Phạm Ngũ Lão đã xây dựng nên hình tượng nhân vật anh hùng vệ quốc - một mẫu hình nam nhi lí tưởng thời Trần: Phiên âm Dịch thơ Hoành sóc giang sơn cáp kỉ thu Múa giáo non sông trải mấy thu Tam quân tì hổ, khí thôn ngưu Ba quân hùng khí át Sao Ngưu Nam nhi vị liễu công danh trái Công danh nam tử còn vương nợ Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu. Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu. 61 Nguyễn Thị Giang Hai câu đầu đặc biệt lưu ý từ “hoành sóc” trong nguyên tác. “Cầm ngang ngọn giáo” hay hơn “múa giáo” bởi nó đã khắc họa được vẻ đẹp ngang tàng, oai phong lẫm liệt, vững chãi của vị võ tướng cầm quân ra trận, chinh chiến triền miên, dãi dầu sương gió. Thậm chí có người còn gọi đó là bức tượng đài bất hủ về vị tướng anh hùng vệ quốc. Đó là âm hưởng vang vọng của “hào khí Đông A” vậy. Ta bỗng nhớ đến hình ảnh người tráng sĩ trong Chinh phụ ngâm: “Múa gươm rượu tiễn chưa tàn - Chỉ ngang ngọn giáo vào ngàn hang beo”. Con người anh hùng ấy trở lên đẹp hơn trong nỗi băn khoăn, trăn trở về trách nhiệm và sứ mệnh của kẻ làm trai đứng trong trời đất. Ý thức về nghĩa vụ phụng sự đất nước ấy đã được Phạm Ngũ Lão thể hiện thật thấm thía trong hai câu kết: “Công danh nam tử còn vương nợ - Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu”. Câu thơ trực tiếp nói lên hai chữ Nam nhi tự nó đã chứng minh một điều: lí tưởng sống cao đẹp của người quân tử luôn có sức hấp dẫn. Trong ý thơ của mình, Phạm Ngũ Lão đã thể hiện một ý chí, một khát vọng muốn được cống hiến, muốn được làm tròn sứ mệnh của đấng nam nhi. Đại Việt sử kí toàn thư đã nhiều lần nhắc đến việc Phạm Ngũ Lão lập công cho triều đình và được triều đình khen thưởng: “Lấy Phạm Ngũ Lão làm Hữu kim ngô vệ đại tướng quân (. . . ). Có nghịch thần tên Biếm làm loạn, sai Phạm Ngũ Lão đi đánh giết Biếm. Cho Ngũ Lão làm điện súy ban cho hổ phù ( con so hình hổ)” [2;337]; “Nước Ai Lao sang cướp miền Đà Giang, sai Phạm Ngũ Lão đi đánh, gặp quân địch ở Mường Mai, giao chiến bắt được quân địch rất nhiều. Phong Phạm Ngũ Lão làm Thân vệ đại tướng quân, ban cho qui phù (con so hình rùa)” [2;336]; “Phong Phạm Ngũ Lão tước quân nội hầu, ban cho phi ngư phù (con so hình con cá bay) và cho con làm quan” [2;352]. . . Qua đây, ta hiểu vì sao Phạm Ngũ Lão cũng như Trần Quang Khải, Trần Quốc Tuấn. . . luôn muốn được phụng sự hết mình vì chính triều Trần đã mang lại cho họ cơ hội để khẳng định chí nam nhi cũng như những đóng góp của họ luôn được khích lệ. Không những thế người đàn ông theo quan niệm của tác giả Thuật hoài còn phải có Tâm, có Lòng. Cho nên ta hiểu vì sao một con người đã từng “cắp ngang ngọn giáo” xông pha giữa trận tiền chống giặc suốt mấy thu rồi, thế mà vẫn nghĩ mình chưa làm tròn trách nhiệm, còn nợ với dân với nước, vẫn thấy “thẹn” khi mình chưa được như Vũ Hầu. Vũ Hầu tức Khổng Minh Gia Cát Lượng là một danh sĩ đời Tam Quốc. Mặc dù là người có đức tài cao - Khổng Minh tự ví mình như “Quản Trọng, Nhạc Nghị”; người đời thì xem ông như “Khương Tử Nha làm nên cơ nghiệp tám trăm năm của nhà Chu và Trương Tử Phòng làm nên cơ nghiệp bốn trăm năm của nhà Hán” [6;10] - nhưng ban đầu ông chỉ thích sống ẩn trên núi Ngọa Long, thích ngao du sơn thủy chứ chẳng màng đến chính sự. Tuy nhiên sau ba lần Lưu Bị đến lều tranh để cầu ông ra giúp khôi phục lại nhà Hán, ông đã cảm động và đồng ý phò tá Lưu Bị. Chương Tam cố thảo lư nổi tiếng trong cuốn Tam Quốc diễn nghĩa của La Quán Trung đã thuật lại rất kĩ ba lần Lưu Bị cùng hai em kết nghĩa Quan Trương đến gò Ngọa Long vất vả, khó khăn như thế nào để mong gặp Gia Cát Lượng. Và ta biết rằng từ khi rời lều tranh Khổng Minh đã dốc hết tâm lực, tài trí thậm chí sẵn sàng đem “gan óc lầy đất” để giúp Lưu Bị từng bước thực hiện được ý nguyện của mình. Phạm Ngũ Lão tự thẹn vì nghĩ mình vẫn chưa đem hết được tài đức để phụng sự cho minh chủ như Gia Cát Lượng. Đó là nỗi thẹn của một nhân cách lớn, nỗi thẹn mang 62 Mẫu hình nam nhi đời Trần qua bài thơ Thuật hoài của Phạm Ngũ Lão đầy tính nhân văn. Người Việt vay mượn chữ Hán, vay mượn luôn cả những cách diễn ngôn của thơ cổ Trung Quốc. Các yếu tố thi pháp nhân vật Nam nhi chịu sự qui định chặt chẽ của diễn ngôn về con người lí tưởng trong văn hóa Trung Quốc. Theo quan niệm này, những người tài năng, nhân cách phi thường lỗi lạc là tinh hoa của vũ trụ, non sông đất nước. Họ nhận được sự ưu ái của trời đất về tài năng, phẩm chất vĩ đại như nhận một món nợ nên phải trang trải món nợ ấy bằng sự nghiệp lớn, kinh thiên động địa, có giá trị trường cửu. Và yếu tố thi pháp nổi bật nhất là các nhà thơ luôn để người anh hùng xuất hiện trong không gian “giang sơn”: “Múa giáo non sông trải mấy thâu/ Ba quân hùng khí át Sao Ngưu”. Cảm giác không gian thiên nhiên vũ trụ đã thể hiện “hùng tâm tráng trí”, tầm vóc của người anh hùng. Thật lẫm liệt và hào sảng! Khi Phạm Ngũ Lão viết múa giáo giữa non sông ta thấy ngay là tác giả đã nhắc đến một hình ảnh biểu trưng cho vũ trụ là “giang sơn” - nguồn cội cấp nhân cách cao quý cho nam nhi, vì thế mà không gian hoạt động của họ không thể là một không gian hẹp, cụ thể như ở sân điện hay ở một trận đánh. Non sông, đất nước chính là vũ đài hoạt động của người anh hùng, của kẻ làm trai. Tương ứng với không gian ấy là khí phách của đấng trượng phu: “khí thôn ngưu”. Với ba chữ “khí thôn ngưu” Phạm Ngũ Lão cũng đã nói lên hết được tầm vóc của con người vũ trụ trong tương quan với “non sông”. Từ trước đến nay nhiều sách vẫn giảng sai về ba chữ này với nghĩa là “nuốt trôi trâu”. Thực ra, “khí thôn ngưu” vốn được rút gọn từ một thành ngữ Hán “khí thôn ngưu đẩu” nghĩa là khí thế mạnh mẽ của tráng sĩ bốc lên tận không trung cao vợi (Ngưu là chòm sao Kim Ngưu, Đẩu là chòm sao Bắc Đẩu - Ngưu đẩu tượng trưng cho không trung cao vời vợi chứ không phải “nuốt trôi trâu”). . . Như vậy, qua bài thơ Thuật hoài chúng ta đã hình dung khá rõ bức chân dung con người yêu nước, thượng võ, của những đấng nam nhi thời Trần. Qua tiếng thơ Phạm Ngũ Lão ta vừa cảm nhận được âm hưởng của “hào khí Đông A” vừa hiểu sâu sắc hơn những tâm trạng, tấm lòng của những bậc võ tướng, anh hùng đối với dân tộc, đất nước. Và chính tác giả đã cho chúng ta những cảm nhận khá đầy đủ về mẫu hình Nam nhi của một thời với sự sôi nổi, hào hùng của chí làm trai. Dấu ấn ấy trải qua các thế kỉ cũng khó có sự lặp lại được. Sau này ta sẽ bắt gặp sự sôi nổi ấy trong thơ Nguyễn Phi Khanh, Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông. . . nhưng lại ở một dạng thức khác. Có lẽ hình ảnh người Nam nhi đời Trần với khát vọng lập công danh trong những tâm thế phóng khoáng, táo bạo, mạnh mẽ trong thơ Phạm Ngũ Lão chỉ được tiếp nối và truyền cảm hứng mạnh đến một số nhà Nho ở thế kỉ XVIII - XIX như Nguyễn Công Trứ, Phan Bội Châu. Nguyễn Công Trứ từng nói: “Thông minh nhất nam tử, yếu vi thiên hạ kì” - làm đấng nam nhi trên đời này phải làm điều kì lạ, kì tích để giúp đời, giúp dân, giúp nước. Ông quan niệm một cách dứt khoát: “Làm trai đứng ở trong trời đất- Phải có danh gì với núi sông”. Phan Bội Châu cũng thêm một lần khẳng định quan niệm về chí làm trai ấy- làm trai là phải tung hoành ngang dọc, dời non lấp bể: “Làm trai phải lạ ở trên đời- Há để càn khôn tự chuyển dời”. Tuy nhiên ta thấy rằng cũng nói về chí nam nhi với sự phóng khoáng, mãnh liệt nhưng ở Nguyễn Công Trứ lại vẫn có một điều khác những đấng nam nhi đời Trần kia: Nguyễn Công Trứ chỉ nói về chí làm trai cho thỏa lòng như một sự trổ tài, lưu danh thiên cổ, một sự thể hiện cá tính của mình chứ không nhấn mạnh đến sự phụng sự triều đình hay một lí tưởng nào đó. 63 Nguyễn Thị Giang Điểm mới và khác biệt lớn nhất trong quan niệm chí nam nhi của ông là vừa đề cao cả sự nghiệp lẫy lừng của con người trong trời đất vừa đề cao cả quyền được hưởng thụ khi có được công danh, sự nghiệp: “Khanh hầu xa mã tướng công lâu đài”. . . Như vậy chúng ta thấy rằng: cũng luận về chí khí anh hùng nhưng ở mỗi thời đại, mỗi cá nhân đã có sự khác nhau. Tuy chưa c