Một vài suy nghĩ về nội dung chương trình và phương pháp đào tạo sinh viên ngành Giáo dục chính trị

TÓM TẮT Một trong những nhân tố quan trọng góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết số 29-NQ/TW Hội nghị lần thứ 8, Ban chấp hành Trung ương khóa XI về đổi mới c n bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đ c biệt là đổi mới giáo dục đại học, đó chính là điều chỉnh, đổi mới nội dung chương trình và phương pháp đào tạo. Trong bài viết này, tác giả nêu một vài suy nghĩ về việc điều chỉnh chương trình và đề xuất một số phương pháp tiêu biểu trong quá trình dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động cho sinh viên đại học nói chung và ngành giáo dục chính trị ở Trường ại học Sài Gòn nói riêng.

pdf7 trang | Chia sẻ: thanhle95 | Lượt xem: 119 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Một vài suy nghĩ về nội dung chương trình và phương pháp đào tạo sinh viên ngành Giáo dục chính trị, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
PHAN THỊ XUÂN YẾN1 TÓM TẮT Một trong những nhân tố quan trọng góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết số 29-NQ/TW Hội nghị lần thứ 8, Ban chấp hành Trung ương khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đ c biệt là đổi mới giáo dục đại học, đó chính là điều chỉnh, đổi mới nội dung chương trình và phương pháp đào tạo. Trong bài viết này, tác giả nêu một vài suy nghĩ về việc điều chỉnh chương trình và đề xuất một số phương pháp tiêu biểu trong quá trình dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động cho sinh viên đại học nói chung và ngành giáo dục chính trị ở Trường ại học Sài Gòn nói riêng. 1. Đ t v n đ Để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước trong giai đoạn hiện nay, giáo dục đại học nước ta phải đổi mới một cách mạnh mẽ, c bản và toàn diện. Tại phiên họp Chính phủ t áng 7 năm 2005, C n p ủ đã quyết định về Đ án đổi mới giáo d c đại h c Vi t Nam với những nội dung: “Đổi mới giáo dục đại học phải đảm bảo tính thực tiễn, hiệu quả v đồng bộ; lựa chọn âu đột p á, lĩn vực ưu tiên v c sở trọng điểm để tập trung nguồn lực tạo bước chuyển rõ rệt. Việc mở rộng quy mô phải đi đôi với nâng cao chất lượng; thực hiện công bằng xã hội đi đôi với đảm bảo hiệu quả đ o tạo; phải tiến n đổi mới từ mục tiêu, quy trình, nội dung đến p ư ng p áp dạy và học, p ư ng t ức đán giá ết quả học tập”. Ngh quyết Hội ngh ng ư ng 8 hó X v đổi mới căn bản, toàn di n giáo d c đ tạo với mục tiêu tổng quát: “Tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đ o tạo; Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, ả năng sáng tạo của mỗi cá n ân; yêu gia đ n , yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu quả” . Vì vậy, đòi ỏi hệ thống các trường đại học nói c ung v Đại học S i Gòn nói riêng đẩy 1 TS, Trường Đại ọc S i Gòn mạnh quá trình xây dựng, rà soát, sửa đổi, chỉnh lý nội dung c ư ng tr n , p ư ng p áp tổ chức đ o tạot eo tin t ần Nghị quyết 8 và phù hợp với nhu cầu xã hội hiện nay là điều cấp thiết. chính vì lẽ đó, trong t ời gian gần đây trường Đại học S i Gòn đã tổ chức nhiều Hội thảo xoay quanh vấn đề: Đổi mới nội dung c ư ng v p ư ng p áp đ o tạo giáo viên. Đặc biệt sắp tới đây tổ chức Hội thảo to n trường với chủ đề : “ Đổi mới chư ng t ình đ tạo ngành giáo d c chính tr và giáo d c c ng n” có ý ng ĩa t iết thực nhằm góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu: “Đổi mới c bản và toàn diện giáo dục đại học, tạo được chuyển biến c bản về chất lượng, hiệu quả v quy mô, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại oá đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế và nhu cầu học tập của nhân dân. 2. Nội dung Thực trạng của vi c dạy h c môn Giáo d c công dân ở TP.HCM Giáo dục công dân l một trong n ững môn ọc quan trọng trong n trường. Nếu ở bậc tiểu ọc môn đạo đức sẽ trang bị c o ọc sin n ững b i ọc l m người t đến bậc p ổ t ông môn ọc n y trang bị c o ọc sin n ững iến t ức p ong p ú, đa dạng, giúp ọc sin biết p ân biệt p ải trái; biết tôn trọng bản t ân v người ác; biết sống trung t ực, iêm tốn, dũng cảmĐặc biệt, n ững iến t ức của môn giáo dục công dân giúp ọc sin n t n n ững ỹ năng sống c bản để vững v ng bước v o đời: ý t ức tổ c ức ỷ luật, có t ái độ đúng đắn trong việc n ận t ức v c ấp n p áp luật. Đồng t ời, môn giáo dục công dân còn trang bị c o ọc sin iểu biết về các quy địn p áp luật căn bản, lối sống của con người, đồng t ời giúp ọc sin xác địn được trác n iệm công dân trong việc t ực iện các c ủ trư ng của Đảng, c n sác , p áp luật của N nước, biết vận dụng iến t ức đã ọc để đán giá các vấn đề xảy ra trong t ực tiễn, lựa c ọn n vi ứng xử p ù ợp với các giá trị xã ội.Mặc dù môn ọc có vai trò quan trọng l vậy n ưng iện nay việc dạy v ọc môn giáo dục công dân ở các n trường còn bị xem n ẹ, c ưa được c ú trọng; ọc sin còn l l , với tâm lý l môn p ụ nên không chú tâm ọc tập, ọc cốt đủ điểm để lên lớp dẫn đến c ất lượng giáo dục của môn ọc n y c ưa p át uy ết iệu quả. ua ng iên cứu t ực tiễn dạy v ọc bộ môn GDCD ở một số trường THCS v THPT, c o c úng tôi n ận t ấy một số nguyên n ân tác động tới tâm lý của ọc sin . Đúng n ư ý iến của một số t ầy cô đang trực tiếp giảng dạy: -“Chán ì thiếu tính thực tiễn" Nói về những kiến thức GDCD đang ọc, N.H.T - HS lớp 7 Trường THCS Chu Văn An, .1, TP.HCM, n ận xét: “Có n iều bài học khó hiểu, khi kiểm tra c úng em đều phải cố học thuộc lòng hết các khái niệm và nhiều lúc cảm thấy c ưa cần thiết”. Còn giáo viên Nguyễn T n Long, Trường THCS Nguyễn Gia Thiều, .Tân B n , cũng n n nhận: “N iều nội dung biên soạn c ưa p ù ợp với độ tuổi của HS. Chẳng hạn ở lớp 7 (12 tuổi) HS phải nắm hết kiến thức về quốc hội, HĐND các cấp ở các bài về bộ máy nhà nước sau đó l m b i tập với các câu hỏi muốn đăng ý tạm trú, kết hôn... phải đến những c quan n o? Hay n ư ở bài Quyền tự do t n ngưỡng và tôn giáo, các em phải nghe giảng về tình hình tôn giáo ở Việt Nam, các đường lối chính sách của Đảng v N nước. Ở lớp 10, hầu hết HS đều choáng với môn GDCD vì những nội dung thuộc phạm trù triết học n ư t ế giới quan duy vật, p ư ng p áp luật biện chứng, cách thức vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng Trực tiếp giảng dạy, bà Nguyễn Thị Ngọc Án , Trường THPT Thủ Thiêm (Q.2), cho rằng: “Vừa bước chân vào một bậc học, phải tiếp nhận những kiến thức n ư vậy khó cho các em vì nó khá trừu tượng”. Đồng tình với quan điểm này, ông Hiệu trưởng Trường THPT Quang Trung (huyện Củ Chi), thẳng thắn: “Nội dung hết sức nặng nề. Những kiến thức trùng lắp sẽ được học ở bậc học cao n t nên để lúc đó dạy chắc chắn phù hợp với nhận thức của HS n”.Một giáo viên ở Q.3 nhận địn :“ K i phải tiếp nhận những kiến thức vượt quá lứa tuổi, khó hiểu, m ồ, lâu dần các em sẽ cảm thấy c án ngán. Đó l c ưa ể tâm lý môn phụ, không thi nên không tránh khỏi việc HS ngủ gật trong lớp”. - Cái gì cũng đư DCD Ông Nguyễn Phạm Đại, Hiệu trưởng Trường THPT Tân Bình (Q.Tân Phú), nói: “Môn n y còn “gán ” t êm quá n iều nội dung ác n ư: p òng c ống tội phạm, giáo dục giới tính, bảo vệ môi trường, giáo dục pháp luật, giáo dục về an toàn giao thông, giáo dục chính sách quốc phòng... Thấy dư luận xã hội lên tiếng HS thời nay thiếu kỹ năng g là lập tức môn GDCD có “ ng đ n èm”. Đưa quá n iều nội dung làm HS bội thực còn giáo viên nhiều khi không biết dạy gì. Vì thế, giáo viên cho biết việc giảng dạy nhiều lúc rất nặng tính hình thức”.Trên t ực tế, việc lồng ghép hoạt động khác vào bộ môn này hoàn toàn không hiệu quả vì thời lượng quá ít. Với 1 tiết/tuần may ra chỉ đủ để giáo viên giới thiệu kiến thức trọng tâm chứ khó lòng dẫn chứng thực tế hay phối hợp hoạt động. - Nên gắn li n với cuộc s ng Trước thực tế này, ông Nguyễn Phạm Đại khẳng địn : “Nếu ông t ay đổi ngay nội dung giảng dạy thì từ HS, giáo viên và ngay chính phụ uyn cũng bị sốc khi GDCD trở thành môn học bắt buộc sau một thời gian dài dạy và học theo kiểu đối phó, thờ ”. Cụ thể n, ông Trần Văn Đức, Hiệu trưởng Trường THPT Long Trường ( . ), đề nghị: “Để trở thành một trong những môn học có nội dung trong kỳ thi tốt nghiệp thì ngay từ bây giờ c ư ng tr n GDCD p ải có sự t ay đổi. Nội dung học phải thực tế, gắn với i thở của cuộc sống thì mới làm HS hứng thú. Bên cạn đó, giáo viên cần t ay đổi p ư ng pháp giảng dạy, đừng tự bằng lòng với sự yếu thế của môn học mà phải l m sao để mỗi i c uông reo đến giờ dạy của mình HS lại náo nức”. Trong i đó, b Lê T ị Hồng Anh, chuyên viên Phòng Công tác HS-SV Sở GD-ĐT TP.HCM, c o rằng: “Cần chắt lọc, cô đọng lại. Bên cạn đó nên giảm bớt khái niệm, phạm trù m tăng cường những bài học kinh nghiệm, những mẩu chuyện, bài báo, tin tức. Đã gọi là GDCD thì nên tập trung vào giáo dục đạo đức, kỹ năng sống c o HS. Sau i đã c uẩn bị cho HS một nền tảng đạo đức vững chắc cùng với kỹ năng sống t lúc đó c ắc chắn các em dễ dàng tiếp nhận những kiến thức c bản n ư triết học, kinh tế chính trị”.1 V chư ng t ình đ tạo Qua ý kiến của một số thầy cô và nhà quản lý ở một số trường THCS, THPT đã cho chúng tôi ,với tư các l n ững người thầy đang trực tiếp giảng dạy, đ o tạo thế hệ sinh viên trẻ theo ngành giáo dục chính trị i ra trường trực tiếp dạy bộ môn GDCD ở hệ thống trường phổ thông có những băn oăn, trăn trở, suy ng ĩ l m sao để đ o tạo sinh viên trở thành những thầy, cô giáo có những kiến thức c bản về khoa học xã hội và n ân văn; có n ững hiểu biết và kiến thức c bản về lý luận chính trị cũng n ư iến thức chuyên môn sâu về giáo dục công dân. Hiểu và nắm vững các kiến thức về lý luận dạy học, về các p ư ng p áp v n t ực tổ chức dạy học, về kỹ thuật dạy và học, về kiểm tra đán giá ết quả dạy học. Có kỹ năng sư p ạm và biết vận dụng các thành tựu mới của công nghệ giáo dục để hoàn thành tốt những nhiệm vụ của nhà giáo trong sự nghiệp đổi mới giáo dục hiện nay... Trước hết, phải điều chỉnh nội dung c ư ng tr n đ o tạo của ngành hiện có để đáp ứng với yêu cầu thực tiễn đặt ra hôm nay.Rà soát lại c ư ng tr n đ o tạo ngành Giáo 1 .B c T an . Hội t ảo đổi mới p ư ng p áp day môn giáo dục công dân tại trường THPT T ới B n , ng y 26 2 2014. dục Chính trị của Trường Đại học S i Gòn năm 2012 (đã được chỉnh sửa), chúng tôi hoàn toàn nhất trí các học phần cùng với số lượng tín chỉ ở phần 1.Kiến thức giáo dục đại cư ng v ở phần 2.Kiến thức Giáo dục chuyên nghiệp, chỉ đồng ý với phần 2.1: Kiến thức c sở ngành; 2.2.1: các học phần thuộc kiến thức chung của ng n c n v nó đáp ứng đúng c uyên ng n đ o tạo và yêu cầu thực tiễn đặt ra. Tuy nhiên ở phần 2.2.2. Kiến thức chuyên sâu của ng n m đưa v o môn ọc “Lịch sử phong trào cộng sản và công nhân quốc tế; Lịch sử thế giới đại cư ng; Lịch sử Việt Nam đại cư ng” l bất hợp lý bởi lẽ đã l “Đại cư ng” sao có t ể để vào phần kiến thức chuyên sâu của ng n được. Trong quá trình giảng dạy chúng tôi thấy rằng phải điều chỉnh lại phần 2.2.2. Kiến thức chuyên sâu của ngành (trong ung c ư ng tr n ), nên đưa các môn ọc với nội dung đúng ng ĩa chuyên sâu bổ sung cho phần 2.2.1. Kiến thức chung của ngành. Cụ thể n ư bộ môn: “Giới thiệu một số tác phẩm in điển của Mác- ng g en-Lê nin về triết học về kinh tế chính trị”, (học trước); “Giới thiệu một số tác phẩm của Hồ C Min ” nên xếp phía sau “Một số tác phẩm in điển). Tham khảo một số c ư ng tr n đ o tạo ngành Giáo dục chính trị của Đại học Sư p ạm Tp. Hồ C Min , Đại học Huế, Đại học Vin , Đại học Đồng Tháp, chúng tôi thấy rằng cũng nên t ay n ững học phần khác mang tính chuyên sâu của ngành thay cho bộ môn: Lịch sử Việt Nam đại cư ng; Lịch sử thế giới đại cư ng; Lịch sử phong trào cộng sản công nhân quốc tế ... Chẳng hạn nên đưa bộ môn: “Xây dựng Đảng” ((2TC) (c ư ng tr n ung của các trường bạn đều có môn này) thay vào môn Lịch sử Việt Nam Đại cư ng. Bởi lẽ , môn Xây dựng Đảngcung cấp những luận cứ, c sở khoa học cho việc hoạc địn đường lối, nghị quyết của Đảng; p ư ng t ức và nguyên tắc lãn đạo của Đảng; làm cho sinh viên hiểu rõ n: Công tác tư tưởng của Đảng; Công tác cán bộ của Đảng; Công tác kiểm tra của Đảng; Công tác vận động quần chúng của Đảng trong thời kỳ đổi mới; Phong cách làm việc của người lãn đạo; Nâng cao chất lượng lãn đạo của cấp ủy Đảng; Xây dựng đội ngũ đảng viên của Đảng. Đảng luôn luôn coi trọng phát triển lý luận v t ường xuyên tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra.Giáo dục, động viên toàn dân nói chung và thế hệ trẻ nói riêng tin tưởng vào sự lãn đạo của Đảng và tích cực tham gia xây dựng Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh theo tinh thần Nghị quyết 04 (khóa XI) hiện nay. Với những kiến thức trọng tâm nói trên của môn học “Xây dựng Đảng”sẽ giúp ích bổ trợ cho kiến thức chung của ngành (phần 2.2.1). Hoặc chúng ta mạnh dạn bỏ đi n ững môn học ông còn đáp ứng với thực tiễn hiện nay, t ay v o đó tăng số tín chỉ cho học phần p ư ng p áp ng iên cứu khoa học và kỹ năng sư p ạm. Về p ư ng p áp dạy học Đáp ứng với tinh thần của Nghị quyết 08 (khóa XI) hiện nay chính là P ư ng p áp dạy học t eo ướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học, ướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, ng ĩa l tập trung vào phát huy tính tích cực của người học chứ không phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của người dạy. Tuy n iên để dạy học t eo p ư ng p áp t c cực thì giáo viên phải nỗ lực nhiều n nắm vững sâu chuyên môn và vận dụng công nghệ thông tin vào bài soạn, bài giảng. Các p ư ng p áp dạy học tích cực c bản baogồm: P ư ng p áp thuyết tr n ; p ư ng p áp nêu vấn đề; lấy ý kiến ghi lên bảng; PP hỏi- đáp; l m việc nhóm; đặt tình huống... Trước tiên, bản t ân người thầy phải “đổi mới c n m n ”, từ bỏ lối truyền thụ kiến thức một chiều “thao thao bất tuyệt” trên lớp t n p ư ng p áp i dậy tính tích cực, sáng tạo của học trò.Đã đến lúc giảng viên không thể tự mãn , chủ quan những g m n đang có m cần phải trau dồi nâng cao tr n độ chuyên môn, giỏi nghiệp vụ sư p ạm phù hợp với tinh thần cải các , đổi mới căn bản toàn diện giáo dục, nâng cao chất lượng dạy-học, đáp ứng với yêu cầu thực tiễn hiện nay nhằm đ o tạo sinh viên từ chỗ học vẹt, thuộc lòng đến chỗ học để hiểu bản chất vấn đề, cách giải quyết vấn đề và có tinh thần dám ng ĩ dám l m. Muốn vậy, nhiệm vụ đặt ra cho giáo viên: - Thiết kế c ư ng tr n v biên soạn bài giảng t eo các p ư ng p áp dạy học tích cực. - T ường xuyên nghiên cứu và thảo luận về p ư ng p áp dạy học tích cực để ngày càng hoàn thiện nghiệp vụ. - Phải t ay đổi định kỳ giáo án,sử dụng giáo án điện tử, cập nhật kiến thức mới và p ư ng p áp mới - Phải có năng lực biên soạn nhiều tài liệu tham khảo v ướng dẫn sinh viên nghiên cứu các nguồn tài liệu học và tham khảo một cách chuẩn xác, biết xử lý thông tin khoa học; ướng dẫn sinh viên nghiên cứu khoa học n ưng ông l m t ay ọ.Giáo viên vận dụng tổng hợp, linh hoạt nhiều p ư ng p áp, điển hình p ư ng p áp t uyết trình , PP nêu vần đề, đặt câu hỏi trên lớp được xem là hữu hiệu để phát huy tính tích cực, chủ động của sin viên, đồng thời kiểm tra đán giá được khả năng n ận thức v năng lực tự học, tự nghiên cứu. ó ại, t eo tin t ần ng ị quyết 8 của Đảng óa XI, “Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; đổi mới c cấu tổ chức, c c ế quản lý, nội dung, p ư ng p áp dạy và học; thực hiện “c uẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội óa”. Bồi dưỡng các giá trị văn óa trong thanh niên, học sin , sin viên đặc biệt l lý tưởng sống, lối sống, năng lực trí tuệ, đạo đức và bản lĩn sáng tạo của con người Việt Nam”. H n ai ết, ệ t ống các trường Đại ọc nói c ung, Đại ọc S i Gòn nói riêng cũng n ư bản t ân mỗi giảng viênđã tới lúc c ng t ấy rõ n iệm vụ quan trọng của m n trong t n n t ực tiễn iện nay, đó l t c cực t am gia tổ c ức biên sọan lại c ư ng tr n , giáo tr n , đổi mới p ư ng p áp dạy- ọc, giảng viên luôn luôn p ấn đấu ọc tập nâng cao tr n độ c uyên môn v đạo đức ng ề ng iệp để trở một lớp người năng động, sáng tạo, đáp ứng yêu cầu cung cấp nguồn n ân lực quan trọng p ục vụ đắc lực c o mục tiêu công ng iệp óa, iện đại óa trong điều iện đất nước đang c ủ động ội n ập quốc tế với n ững t ời c v cả t ác t ức rất lớn. . TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Đặng Xuân Hải (2012), “Kỹ thuật dạy học trong đào tạo theo học chế tín chỉ”; NXB Bách khoa, Hà Nội. 2. Lê Công Triêm (chủ biên), (2002), “Một số vấn đề hiện nay của phương pháp dạy học đại học” NXB Giáo dục. 3. Nguyễn Mai Hư ng, “Hoạt động tự học của sinh viên trong phương thức đào tạo theo tín chỉ” Tạp chí giáo dục số t áng năm 2010. 4. C ư ng tr n giáo dục đại học (ngành Giáo dục chính trị) của trường Đại học Sư p ạm, tp.Hồ C Min ; Đại học Sư p ạm Vin ; đại học Huế; Đại học Đồng Tháp. 5. Chương trình hành động của Chính phủ về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, Theo dangcongsan.vn, 12-06-2014. 6. Thái Duy Tuyên (2010), Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới, Nxb Giáo dục Việt Nam.
Tài liệu liên quan