Mức độ đáp ứng nhu cầu xã hội của chương trình đào tạo ngành Giáo dục mầm non trường Đại học Sài Gòn từ góc độ của người sử dụng lao động

TÓM TẮT Bài báo trình bày khái quát về chương trình đào tạo ngành Giáo dục Mầm non giai đoạn 2011-2015, phân tích những đánh giá từ phía người sử dụng lao động về chương trình đào tạo và sinh viên ngành Giáo dục Mầm non được đào tạo trong giai đoạn 2011-2015 (Chương trình đào tạo ngành Giáo dục Mầm non giai đoạn 2016-2020 chưa có sinh viên tốt nghiệp). Đồng thời, trên cơ sở đó, bài báo cũng đưa ra những định hướng xây dựng và phát triển chương trình đào tạo giai đoạn 2020-2024 nhằm đảm bảo đáp ứng nhu cầu xã hội, tăng thêm cơ hội làm việc và khả năng thích ứng cho người học cũng như góp phần nâng cao chất lượng giáo dục tại các đơn vị sử dụng lao động.

pdf10 trang | Chia sẻ: thanhle95 | Lượt xem: 18 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Mức độ đáp ứng nhu cầu xã hội của chương trình đào tạo ngành Giáo dục mầm non trường Đại học Sài Gòn từ góc độ của người sử dụng lao động, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN SAIGON UNIVERSITY TẠP CHÍ KHOA HỌC SCIENTIFIC JOURNAL ĐẠI HỌC SÀI GÒN OF SAIGON UNIVERSITY Số 69 (03/2020) No. 69 (03/2020) Email: tcdhsg@sgu.edu.vn ; Website: 107 MỨC ĐỘ ĐÁP ỨNG NHU CẦU XÃ HỘI CỦA CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO NGÀNH GIÁO DỤC MẦM NON TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN TỪ GÓC ĐỘ CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG The levels of meeting social needs of Preschool education curriculum of Saigon University from the perspective of employers ThS. Trần Thị Tâm Minh Trường Đại học Sài Gòn TÓM TẮT Bài báo trình bày khái quát về chương trình đào tạo ngành Giáo dục Mầm non giai đoạn 2011-2015, phân tích những đánh giá từ phía người sử dụng lao động về chương trình đào tạo và sinh viên ngành Giáo dục Mầm non được đào tạo trong giai đoạn 2011-2015 (Chương trình đào tạo ngành Giáo dục Mầm non giai đoạn 2016-2020 chưa có sinh viên tốt nghiệp). Đồng thời, trên cơ sở đó, bài báo cũng đưa ra những định hướng xây dựng và phát triển chương trình đào tạo giai đoạn 2020-2024 nhằm đảm bảo đáp ứng nhu cầu xã hội, tăng thêm cơ hội làm việc và khả năng thích ứng cho người học cũng như góp phần nâng cao chất lượng giáo dục tại các đơn vị sử dụng lao động. Từ khóa: chương trình đào tạo, đáp ứng nhu cầu xã hội, Giáo dục Mầm non, người sử dụng lao động ABSTRACT The article presents an overview of the preschool education curriculum in the period of 2011-2015 and analyzes the assessments from the employers on the curriculum and the learners of Preschool Education Department trained in that period (The preschool education curriculum for the period 2016-2020 has no graduates yet). At the same time, on that basis, the paper sets out the orientations for constructing and developing a curriculum for the period 2020-2024 to ensure meeting social needs, increasing employment opportunities and adaptability for learners as well as improving the quality of education in employer agencies. Keywords: curriculum, meeting social needs, Preschool education, the employer 1. Đặt vấn đề Xây dựng và phát triển chương trình đào tạo đại học đáp ứng nhu cầu xã hội là một trong những vấn đề cốt lõi, thể hiện năng lực đào tạo cũng như khả năng cạnh tranh của cơ sở đào tạo nói chung và khoa/ngành đào tạo nói riêng. Việc gắn kết chương trình đào tạo với nhu cầu xã hội đem lại cho đơn vị đào tạo cơ hội thu hút người học nhờ gia tăng khả năng cạnh tranh cho nguồn nhân lực được đào tạo tại đơn vị đó với nguồn nhân lực tốt nghiệp từ các đơn vị khác (Lê Thanh Sơn, Trần Thị Tú Anh, 2012, tr.1). Bên cạnh đó, đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội sẽ hạn chế lãng phí (nhân lực, tài lực, thời gian.v.v.) (Nguyễn Email: tamminhtran.gdmn@gmail.com SCIENTIFIC JOURNAL OF SAIGON UNIVERSITY No. 69 (03/2020) 108 Huy Vị, 2015, tr.22). Đối với ngành Giáo dục Mầm non (GDMN), là ngành học có nhu cầu sử dụng lao động luôn ở mức cao, nguy cơ thất nghiệp thấp nhưng vẫn đòi hỏi sự cạnh tranh về chất lượng đào tạo. Với những thay đổi của xã hội, nghề giáo viên mầm non (GVMN) cũng có nhiều yêu cầu cao hơn về sự thích ứng với công việc nhờ vào kỹ năng thực tế, thích ứng các mô hình giáo dục hiện đại hoặc linh hoạt với những thay đổi của chương trình theo từng năm hoặc có năng lực làm việc trong môi trường quốc tế. Do đó, để xây dựng và phát triển chương trình đào tạo ngành Giáo dục Mầm non - Trường Đại học Sài Gòn, giai đoạn 2020-2024 đạt hiệu quả hơn, tăng khả năng cạnh tranh, việc đánh giá mức độ đáp ứng nhu cầu xã hội của chương trình đào tạo trong giai đoạn 2011-2015 là cần thiết. (Chương trình giai đoạn 2016-2020 chưa có sinh viên tốt nghiệp). Nhu cầu xã hội bao gồm nhu cầu của nhà nước, của phụ huynh, của người học, của người sử dụng lao động (đơn vị sử dụng lao động), của xu hướng phát triển thế giới.v.v. (Nguyễn Xuân Thủy, 2013, tr.3) Bài báo này trình bày và phân tích sự đáp ứng nhu cầu xã hội ở góc độ người sử dụng lao động. 2. Giải quyết vấn đề 2.1. Khái niệm 2.1.1. Nhu cầu xã hội - Đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội, theo cách hiểu thông thường là các trường phải đào tạo ngành nghề mà xã hội có nhu cầu với chỉ tiêu hợp lý, không dư thừa, vì như thế là gây lãng phí. Ngành nghề mà xã hội đang cần, cũng như chỉ tiêu cần được xác định thông qua dự báo có cơ sở khoa học trong thời gian ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội cũng có thể hiểu là trình độ sinh viên khi tốt nghiệp phải đáp ứng được mong đợi của người sử dụng lao động. Bài viết này tiếp cận theo cách hiểu thứ hai. - Nhu cầu sử dụng lao động là những mong muốn của các tổ chức, cơ quan, doanh nghiệp đối với người lao động mà họ cần tuyển dụng về kiến thức, kĩ năng, thái độ hành nghề để đảm bảo đúng chức năng nhiệm vụ được giao (Lê Thanh Sơn, Trần Thị Tú Anh, 2012, tr.3). 2.1.2. Chương trình đào tạo Chương trình đào tạo là kế hoạch tổng thể bao gồm: mục đích đào tạo, mục tiêu, chuẩn đầu ra, nội dung đào tạo (với độ rộng và sâu), phương thức đào tạo và hình thức tổ chức đào tạo (với các phương pháp, phương tiện, công cụ dạy học), phương thức đánh giá kết quả đào tạo (trong so sánh, đối chiếu với chuẩn đầu ra) (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2016, tr.21). 2.2. Tiêu chí về sự đáp ứng nhu cầu xã hội của chương trình đào tạo Theo Phan Văn Kha sự phù hợp giữa chương trình đào tạo với nhu cầu xã hội thể hiện qua nguyên tắc 3P: Performance (thỏa mãn về tiềm năng, năng lực), Punctuality (thời điểm cung cấp sản phẩm) và Price (giá thành sản phẩm) (Phan Văn Kha, 2007, tr.32). Tiêu chí cụ thể để đánh giá sự đáp ứng nhu cầu xã hội của chương trình đào tạo GVMN như sau: - Tiêu chí “Thỏa mãn về tiềm năng, năng lực” Bao gồm các yêu cầu về kiến thức, kĩ năng, thái độ hành nghề được xây dựng theo chuẩn nghề nghiệp do nhà nước ban hành và phù hợp với định hướng phát triển chương trình của các trường mầm non, nhất là các trường mầm non tư thục chất lượng cao hoặc trường quốc tế thực thụ với TRẦN THỊ TÂM MINH TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN 109 mô hình giáo dục riêng. - Tiêu chí “Thời điểm cung cấp sản phẩm-người lao động” Chương trình có thời gian đào tạo hợp lý, không quá dài vì sẽ gặp nguy cơ lỗi thời, lạc hậu nhưng cũng không rút ngắn thời gian đào tạo quá mức vì sẽ gặp vấn đề về chất lượng chuyên môn. - Tiêu chí “Giá thành sản phẩm” Ở góc độ người lao động, giá thành sản phẩm tốt là học phí không cao nhưng cơ hội làm việc có thu nhập cao, nhiều cơ hội thăng tiến sẽ là tiêu chí hàng đầu. Ở góc độ người sử dụng lao động chuyên nghiệp, giá thành sản phẩm tốt là năng lực của GVMN tương xứng với mức thu nhập được chi trả. Tuy nhiên, hiện nay, ngành sư phạm vẫn được nhà nước hỗ trợ học phí, với học sinh xuất sắc và giỏi vẫn được nhận học bổng, nên chi phí đào tạo không phải là tiêu chí đánh giá chất lượng chương trình. Bên cạnh đó, vì nhiều lí do khách quan, thu nhập của GVMN nhìn chung vẫn ở mức thấp, chưa tương xứng với công sức lao động thực tế. Do đó, chương trình đào tạo có giá thành sản phẩm tốt là chương trình đảm bảo cơ hội việc làm với mức thu nhập phù hợp, cơ hội thăng tiến cho sinh viên sau tốt nghiệp. 2.3. Chương trình đào tạo ngành Giáo dục Mầm non giai đoạn 2011-2015 của Trường Đại học Sài Gòn Chương trình đào tạo ngành GDMN giai đoạn 2011-2015 là sự kế thừa từ chương trình giai đoạn trước, trên cơ sở tiếp thu, học hỏi các chương trình đào tạo GVMN trong và ngoài nước. Chương trình đào tạo theo niên chế, thời gian đào tạo 4 năm với 134 tín chỉ (chưa bao gồm học phần Giáo dục thể chất và Giáo dục quốc phòng). Trong đó: - Khối kiến thức chung: 25 tín chỉ - Khối kiến thức cơ sở: 40 tín chỉ - Khối kiến thức ngành: 50 tín chỉ - Thực tập nghề nghiệp: 9 tín chỉ - Khóa luận tốt nghiệp/các học phần thay thế: 10 tín chỉ. Mục tiêu chính của chương trình như sau: 2.3.1. Mục tiêu chung Đào tạo cử nhân ngành giáo dục mầm non có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, phẩm chất đạo đức nghề nghiệp để thực hiện công tác giáo dục trẻ và có khả năng học ở trình độ cao hơn. 2.3.2. Mục tiêu cụ thể và chuẩn đầu ra 2.3.2.1. Yêu cầu về phẩm chất đạo đức Sinh viên tốt nghiệp phải đạt những yêu cầu sau đây về phẩm chất chính trị và đạo đức nghề: Phẩm chất chính trị Có lập trường tư tưởng vững vàng, yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội; nghiêm chỉnh chấp hành đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Biết vận dụng sáng tạo đường lối giáo dục của Đảng và Nhà nước vào việc chăm sóc và giáo dục trẻ em. Phẩm chất nghề nghiệp - Yêu nghề, say mê, tận tụy với công việc; - Yêu trẻ, tôn trọng và có tinh thần trách nhiệm cao với trẻ; - Có tác phong nhanh nhẹn, linh hoạt, năng động, độc lập; giao tiếp cởi mở, chân tình, thân thương, gợi được cảm giác an toàn ở trẻ; - Có lối sống lành mạnh, trung thực, giản dị, nêu gương tốt cho trẻ; - Có văn hóa giao tiếp; đoàn kết, khiêm tốn học hỏi, sẵn sàng giúp đỡ đồng nghiệp trong chuyên môn, quan hệ tốt với cha mẹ trẻ và cộng đồng; - Có ý thức rèn luyện để hoàn thiện bản thân, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, thích ứng nhanh trước những biến đổi của xã hội và của SCIENTIFIC JOURNAL OF SAIGON UNIVERSITY No. 69 (03/2020) 110 ngành GDMN. 2.3.2.2. Yêu cầu về kiến thức Bên cạnh phẩm chất đạo đức, sinh viên tốt nghiệp phải dạt các yêu cầu về kiến thức nghề nghiệp, cụ thể: - Hiểu biết về kiến thức giáo dục đại cương để vận dụng một cách sáng tạo vào thực tiễn GDMN; - Nắm vững hệ thống kiến thức khoa học GDMN ở trình độ cao đẳng để thực hiện tốt công tác chăm sóc-giáo dục trẻ; - Hiểu biết đầy đủ về mục tiêu, nội dung chương trình GDMN, phương pháp tổ chức, đánh giá các hoạt động giáo dục và sự phát triển của trẻ em ở các độ tuổi khác nhau; - Áp dụng kiến thức khoa học GDMN vào việc tổ chức và đánh giá các hoạt động chăm sóc - giáo dục trẻ ở tất cả các nhóm tuổi, các loại hình trường, lớp mầm non khác nhau. 2.3.2.3. Yêu cầu về kĩ năng Ngoài những yêu cầu trên, sinh viên cần có những kĩ năng nghề sau: - Phân tích chương trình giáo dục mầm non; - Quan sát, tìm hiểu và đánh giá các hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ; - Lập kế hoạch chăm sóc và giáo dục trẻ lứa tuổi mầm non; - Tổ chức, quản lý và thực hiện chế độ sinh hoạt; các hoạt động chăm sóc-giáo dục cho trẻ lứa tuổi mầm non theo kế hoạch; - Giao tiếp và ứng xử sư phạm với các đối tượng khác nhau; - Làm việc trong nhóm; khả năng thích ứng với yêu cầu của công tác chăm sóc giáo dục trẻ; - Tuyên truyền khoa học giáo dục, vận động xã hội hóa GDMN; - Ứng dụng công nghệ thông tin, thành tựu giáo dục mầm non trong và ngoài nước vào công tác chăm sóc giáo dục trẻ; - Tự nghiên cứu khoa học giáo dục mầm non, tự bồi dưỡng nâng cao năng lực sư phạm và trình độ chuyên môn. 2.3.3. Vị trí làm việc của người học sau khi tốt nghiệp Sau khi tốt nghiệp, người học có đủ khả năng để làm việc ở các vị trí sau: - Giáo viên mầm non ở các cơ sở giáo dục mầm non; - Chuyên viên trong các cơ quan, tổ chức có liên quan đến bậc học mầm non; - Giảng dạy trong các trường đào tạo giáo viên mầm non; - Cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục mầm non (phải tốt nghiệp loại xuất sắc hoặc giỏi). 2.3.4. Khả năng học tập và nâng cao trình độ sau khi tốt nghiệp Ngoài khả năng làm việc tại các vị trí vừa nêu, người học còn có khả năng tiếp tục học tập nâng cao sau khi tốt nghiệp, bao gồm: - Các chương trình bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ về giáo dục mầm non; - Các chương trình đào tạo sau đại học về giáo dục mầm non và quản lý giáo dục. 2.4. Mức độ đáp ứng nhu cầu xã hội của chương trình đào tạo giáo viên Mầm non giai đoạn 2011-2015 của Trường Đại học Sài Gòn, đánh giá từ góc độ của người sử dụng lao động Đối tượng được khảo sát bao gồm 41 cán bộ quản lý trường mầm non công lập, tư thục, quốc tế, các công ty hoạt động trong lĩnh vực giáo dục kỹ năng sống - tổ chức hoạt động ngoại khóa... trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh có sử dụng lao động là sinh viên ngành GDMN trường Đại học Sài Gòn đã được học chương trình giai đoạn 2011-2015. Phương pháp khảo sát được sử dụng là bảng hỏi và phỏng vấn. TRẦN THỊ TÂM MINH TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN 111 Nội dung khảo sát bao gồm: đánh giá về chương trình đào tạo, về năng lực làm việc của người lao động. Về tiêu chí “Thỏa mãn tiềm năng, năng lực” của chương trình đào tạo, kết quả thu được như sau: Bảng 2.1. Mức độ đáp ứng của chương trình đào tạo ngành GDMN giai đoạn 2011-2015 Trường Đại học Sài Gòn về thỏa mãn tiềm năng, năng lực STT Nội dung Phù hợp Chưa phù hợp 1 Mục tiêu đào tạo 100% 0% 2 Nội dung đào tạo 93% 7% 3 Chất lượng đào tạo 67% 33% Về mục tiêu đào tạo, 100% nhóm khảo sát đánh giá mục tiêu đào tạo phù hợp với chuẩn nghề nghiệp cũng như nhu cầu thực tiễn công việc. Tuy nhiên, vẫn cần bổ sung thêm hoặc chi tiết hóa một số mục tiêu quan trọng về giao tiếp sư phạm mầm non, ứng dụng công nghệ thông tin, lập kế hoạch giáo dục. Về nội dung chương trình, 7% đánh giá chưa phù hợp với những lý do sau: - Một số nội dung đào tạo trong các môn chuyên ngành như các môn phương pháp, lập kế hoạch giáo dục vẫn chưa cập nhật những chỉ đạo của Sở Giáo dục. - Một số kỹ năng cần có nhưng sinh viên lại chưa được trang bị như kỹ năng quản lý nhóm lớp, kỹ năng sử dụng bảng tương tác, kỹ năng xử lý các tình huống sư phạm .v.v 93% ý kiến cho rằng nội dung đào tạo phù hợp nhưng cũng có chia sẻ tương tự với nhóm trên. Tuy nhiên, nhóm khảo sát này cho rằng việc GVMN thiếu kỹ năng, chưa cập nhật các chỉ đạo mới vẫn có thể làm việc tốt sau một thời gian nếu có nền tảng cơ bản chắc chắn. Khoảng thời gian để thích ứng ngắn hay dài phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhưng chủ đạo vẫn do nỗ lực của chính sinh viên. Do đó, để tăng khả năng thích ứng cũng như năng lực làm việc cho sinh viên mới tốt nghiệp, chương trình đào tạo cần bổ sung những nội dung sau: Bảng 2.2. Những kỹ năng cần bổ sung vào chương trình đào tạo GVMN STT Nội dung Tỉ lệ (N=41) 1 Kỹ năng quản lý nhóm lớp 100% 2 Kỹ năng quan sát, tự học hỏi 90% 3 Thái độ khiêm tốn và kỹ năng lắng nghe, tiếp thu ý kiến 88 % 4 Kỹ năng sử dụng bảng tương tác 85% 5 Kỹ năng xử lý tình huống sư phạm 78% 6 Kỹ năng làm việc nhóm 78% 7 Kỹ năng quản lý cảm xúc 66% 8 Kỹ năng lập kế hoạch giáo dục và tổ chức lễ hội 36% 9 Kỹ năng sử dụng nhạc cụ 14% 100% nhóm khảo sát cho rằng cần bổ sung nội dung về “Kỹ năng quản lý nhóm, lớp” vì sinh viên mới tốt nghiệp, tuy đã qua hai kỳ thực tập nhưng vẫn chưa có khả năng tổ chức nhóm lớp, bị lệ thuộc nhiều vào giáo viên còn lại trong lớp. Việc điều động trẻ trong các hoạt động hàng vẫn rất lúng túng, nhất là khi tổ chức giờ học hoặc cho trẻ di chuyển đến vị trí khác. Ngoài ra việc quan sát, nắm bắt tình hình của trẻ trong nhóm lớp còn thụ động và chưa bao quát. Đặc biệt là chưa giải quyết ổn thỏa SCIENTIFIC JOURNAL OF SAIGON UNIVERSITY No. 69 (03/2020) 112 những tình huống phát sinh từ trẻ như giúp trẻ mới thích nghi sớm, dỗ trẻ khóc.v.v. 90% nhóm khảo sát đồng ý bổ sung nội dung về “Kỹ năng quan sát, tự học hỏi” vì rất ít sinh viên mới tốt nghiệp tỏ ra năng động, tích cực học hỏi từ đồng nghiệp trong quá trình làm việc. Nếu sinh viên quan sát tốt, có thể thích ứng rất nhanh vì với đặc thù nghề GVMN, các cô thường không có nhiều thời gian để trao đổi, hướng dẫn cụ thể chi tiết. Bên cạnh đó, vẫn có nhiều giáo viên nhiều kinh nghiệm sẵn sàng chia sẻ, hướng dẫn đồng nghiệp mới, nhưng nhiều sinh viên không tiếp thu và một vài trường hợp thể hiện rõ thái độ không hài lòng vì cho rằng người góp ý có trình độ thấp hơn mình. Đây cũng là lí do một số cơ sở giáo dục mầm non rất quan ngại khi tuyển dụng GVMN có trình độ đại học. Do đó, “Thái độ khiêm tốn và kỹ năng lắng nghe, tiếp thu ý kiến” là nội dung được 88% ý kiến tán đồng. Ngoài ra, nội dung về ứng dụng công nghệ thông tin tuy đã có, nhưng cần bổ sung thêm về việc sử dụng bảng tương tác (85%), vì đa số trường mầm non hiện nay đều có bảng tương tác, nhưng sinh viên mới tốt nghiệp hoàn toàn không biết sử dụng phương tiện này. Song song đó là cách ứng biến với các tình huống sư phạm của sinh viên mới tốt nghiệp vẫn còn nhiều lúng túng, ngây ngô, nên cần bổ sung “Kỹ năng xử lý tình huống sư phạm” (78%). Có những tình huống rất đơn giản như đang trong giờ học, trẻ đi ra khỏi lớp hoặc đi vệ sinh giữa lớp, hoặc khóc òa lên... nhưng GVMN mới không biết cách xử lý hoặc làm ngơ cho qua. Trong ứng xử với phụ huynh càng thể hiện sự vụng về. Một số vấn đề thường gặp như thường xuyên than phiền về trẻ với phụ huynh vì nghĩ đó là biểu hiện của sự quan tâm nhưng không nhận ra thái độ không vui của phụ huynh, quên hoặc nhầm đồ của trẻ khi trả trẻ, thiếu nụ cười và lời chào khi phụ huynh đưa hoặc đón con, giải đáp thắc mắc của phụ huynh một cách qua loa hoặc thiếu chính xác, quát mắng phụ huynh khi phụ huynh cư xử thiếu tôn trọng .v.v Một trong những nguyên nhân tác động đến vấn đề ứng xử do kỹ năng quản lý cảm xúc chưa phù hợp trong các tình huống giao tiếp với phụ huynh, trẻ và đồng nghiệp. Do đó, cần bổ sung thêm mục tiêu về quản lý cảm xúc (66%). Ngoài ra, công việc của GVMN là công việc đòi hỏi sự hợp tác, làm việc đội nhóm, do đó, 78% ý kiến cho rằng cần bổ sung “Kỹ năng làm việc nhóm” vào nội dung đào tạo. “Kỹ năng lập kế hoạch và tổ chức lễ hội” cũng cần bổ sung vào dù đây không phải là công việc chính của GVMN, nhưng là một phần không thể thiếu trong hoạt động ở trường mầm non, vì trẻ học qua vui chơi, trong lễ hội cũng có màu sắc của hoạt động vui chơi. Bên cạnh đó, việc trang bị kỹ năng này có thể tạo điều kiện cho những sinh viên yêu trẻ nhưng không thể chịu được áp lực khi làm GVMN có thể chuyển hướng sang làm ở lĩnh vực tổ chức sự kiện cho trẻ mầm non. 14% ý kiến đề nghị bổ sung kỹ năng sử dụng nhạc cụ vì trường mầm non có trang bị đàn ở các lớp, nhưng giáo viên lại không biết sử dụng, vừa lãng phí vừa làm giảm hiệu quả giáo dục. Điều này hợp lý, vì trẻ mầm non giàu cảm xúc, thích vận động, thích cảm thụ cái đẹp, và âm nhạc chính là chất xúc tác tuyệt vời. Việc cô giáo biết sử dụng nhạc cụ sẽ đem lại cho trẻ nhiều cơ hội trải nghiệm cảm xúc, vận động tự do theo giai điệu ngẫu hứng của cô TRẦN THỊ TÂM MINH TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN 113 để phát triển tưởng tượng, sáng tạo hoặc chỉ đơn giản là phá vỡ bầu không khí trầm buồn trong lớp khi cần thiết. Đánh giá về sản phẩm đào tạo, 67% đánh giá “Phù hợp” vì nhận định rằng sinh viên ra trường đã đáp ứng cơ bản nhu cầu nghề nghiệp. 33% nhóm khảo sát đánh giá “Chưa phù hợp” vì nhận thấy mục tiêu chương trình đào tạo về cơ bản là đầy đủ, nhưng một số sinh viên ra trường vẫn còn thiếu nhiều mục tiêu đã đề ra, nổi bật là tinh thần trách nhiệm, khả năng tự học, tinh thần học hỏi và sự yêu nghề. Nhiều sinh viên đi làm chỉ quan tâm đến thu nhập, không quan tâm đến những cơ hội, điều kiện đã được nhận. Tình trạng này chủ yếu xảy ra ở các trường mầm non tư thục chất lượng cao, trường mầm non quốc tế. Những trường chất lượng thật sự thường có những yều cầu riêng về chuyên môn, nên sinh viên tốt nghiệp mới vào làm sẽ được huấn luyện thêm, không thu phí. Tuy nhiên, chủ các cơ sở luôn lo lắng công sức đào tạo của mình bị lãng phí do sinh viên thường có xu hướng tìm nơi thu nhập cao – việc ít dù điều kiện làm việc tại những cơ sở này rất tốt. Tuy nhu cầu tăng thu nhập là chính đáng nhưng thái độ vô ơn, quay lưng chỉ vì thu nhập là điều không được hoan nghênh. Một số trường mầm non có cách chế tài bằng hợp đồng bồi thường nếu không đả