Nghiên cứu, bảo tồn và phát huy giá trị di sản khảo cổ học ở Hội An: Thành tựu, thách thức và triển vọng

Tóm tắt Hội An nằm ở lưu vực sông Thu Bồn, là nơi tập trung đậm đặc nhất các di tích văn hóa Sa Huỳnh (được biết cho tới nay). Các di tích khảo cổ học Tiền, Sơ sử ở Hội An có giá trị nổi bật về quá trình liên tục (kế thừa và phát triển) văn hóa, chứng tỏ mảnh đất này hội tụ đầy đủ các điều kiện thiên thời - địa lợi - nhân hòa và có những chuyển biến bước ngoặt về chính trị, tư tưởng, trong suốt mấy ngàn năm (từ cách đây 3.500 năm đến hiện nay). Các di sản khảo cổ học ở Hội An đã và đang được quản lý một cách bài bản, đúng luật và thực sự đã phát huy giá trị qua hệ thống bảo tàng tổng hợp và chuyên đề ngay trong di sản phố cổ, qua các hoạt động lễ hội hay hoạt động văn hóa lồng ghép vật thể với phi vật thể. Có thể nói, Hội An là một điển hình về sử dụng giá trị của quá khứ cho phát triển hiện tại và tương lai. Tuy nhiên, giống như nhiều đô thị du lịch khác trên thế giới cũng như Việt Nam, các di sản khảo cổ học ở Hội An đang đối mặt với rất nhiều thách thức và nguy cơ từ đô thị hóa, gia tăng dân số, quá tải du lịch, toàn cầu hóa, biến đổi khí hậu, đòi hỏi cần tiếp tục nghiên cứu, đưa ra những giải pháp tiên tiến khả thi trong việc bảo vệ và phát huy giá trị của những tài nguyên “không tái tạo” này.

pdf9 trang | Chia sẻ: thanhle95 | Lượt xem: 134 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Nghiên cứu, bảo tồn và phát huy giá trị di sản khảo cổ học ở Hội An: Thành tựu, thách thức và triển vọng, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
5Số 30 (Tháng 12 - 2019) DI SẢN VĂN HÓA NGHIÊN CỨUVĂ N HÓA NGHIÊN CỨU, BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN KHẢO CỔ HỌC Ở HỘI AN: THÀNH TỰU, THÁCH THỨC VÀ TRIỂN VỌNG LÂM THỊ MỸ DUNG ĐOÀN VĂN LUÂN Tóm tắt Hội An nằm ở lưu vực sông Thu Bồn, là nơi tập trung đậm đặc nhất các di tích văn hóa Sa Huỳnh (được biết cho tới nay). Các di tích khảo cổ học Tiền, Sơ sử ở Hội An có giá trị nổi bật về quá trình liên tục (kế thừa và phát triển) văn hóa, chứng tỏ mảnh đất này hội tụ đầy đủ các điều kiện thiên thời - địa lợi - nhân hòa và có những chuyển biến bước ngoặt về chính trị, tư tưởng, trong suốt mấy ngàn năm (từ cách đây 3.500 năm đến hiện nay). Các di sản khảo cổ học ở Hội An đã và đang được quản lý một cách bài bản, đúng luật và thực sự đã phát huy giá trị qua hệ thống bảo tàng tổng hợp và chuyên đề ngay trong di sản phố cổ, qua các hoạt động lễ hội hay hoạt động văn hóa lồng ghép vật thể với phi vật thể. Có thể nói, Hội An là một điển hình về sử dụng giá trị của quá khứ cho phát triển hiện tại và tương lai. Tuy nhiên, giống như nhiều đô thị du lịch khác trên thế giới cũng như Việt Nam, các di sản khảo cổ học ở Hội An đang đối mặt với rất nhiều thách thức và nguy cơ từ đô thị hóa, gia tăng dân số, quá tải du lịch, toàn cầu hóa, biến đổi khí hậu, đòi hỏi cần tiếp tục nghiên cứu, đưa ra những giải pháp tiên tiến khả thi trong việc bảo vệ và phát huy giá trị của những tài nguyên “không tái tạo” này. Từ khóa: Di sản khảo cổ học, tài nguyên văn hóa, bảo tồn phát huy, Hội An Abstract Hoi An is located in the Thu Bon river basin, which has the most condensed concentration of Sa Huynh cultural relics (up to present). Archaeological vestiges of pre-history and early history in Hoi An have a remarkable value on the continuous process (inheriting and developing) of culture, proving that this land has full converges of conditions and making significant changes in politics, ideology,... during thousands of years (from 3,500 years ago to present). The archaeological heritages in Hoi An have been methodically and legally managed and really promoted their values through the system of integrated and thematic museums right in the heritage of the old town, through festival activities or cultural activities that integrate tangible objects with intangible objects. It can be said that Hoi An is a typical example of using the value of the past for present and future development. However, like many other tourist cities in the world as well as in Vietnam, the archaeological heritage in Hoi An has been facing many challenges and risks from urbanization, population growth, globalization and overloaded tourism, climate change, etc. It requires further research and proposals of feasible advanced solutions to protect and promote the value of these “non-renewable” resources. Keywords: Archaeological heritage, cultural resources, conservation, promotion, Hoi An 1. Quá trình nghiên cứu di sản khảo cổ học ở Hội An Việc nghiên cứu khảo cổ học (KCH) ở Hội An, đặc biệt là các di tích Tiền, Sơ sử thật sự bắt đầu từ năm 1989 với những cuộc khảo sát toàn diện khu vực nội thị và ngoại thị đô thị cổ của Trung tâm Nghiên cứu liên văn hóa lịch sử, Khoa Lịch sử, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Số 30 (Tháng 12 - 2019)6 NGHIÊN CỨUVĂ N HÓA Quốc gia Hà Nội) phối hợp cùng Ban Quản lý di tích Hội An. Từ đó đến nay, việc nghiên cứu KCH vẫn được duy trì lúc liên tục, lúc ngắt quãng. Kết quả nghiên cứu KCH Hội An đóng góp đáng kể vào việc xây dựng hồ sơ đệ trình ghi danh di sản thế giới UNESCO và luôn được phát huy giá trị trong đời sống hiện nay dưới các hình thức trưng bày bảo tàng, du lịch văn hóa Những nghiên cứu KCH ở Hội An luôn là sự kết hợp hài hòa và chặt chẽ, bình đẳng giữa Trung ương và địa phương. Từ những cuộc nghiên cứu này, đội ngũ cán bộ KCH, dân tộc học và bảo tàng học Hội An được hình thành và lớn mạnh không ngừng. Kết quả khai quật và nghiên cứu cho thấy tại Hội An một diễn trình văn hóa khảo cổ của các thời kỳ lịch sử như sau: Từ cách đây 3.500 năm (văn hóa Tiền Sa Huỳnh); từ cách đây 2.300 năm đến cuối thế kỷ I TCN (văn hóa Sa Huỳnh); thời kỳ Quận Nhật Nam; thời kỳ Lâm Ấp; thời kỳ Champa. 1.1. Thời kỳ Tiền Sa Huỳnh - Sa Huỳnh Dấu tích Tiền Sa Huỳnh ở Hội An được phát hiện tại Bãi Ông, được đào thám sát tháng 3/1999 và khai quật tháng 6/2000. Địa điểm nằm tại cồn cát trong, sát núi, phía sau khu vực Lăng Ông - Bãi Ông - Hòn Lao Chàm, có diện phân bố rộng, bao phủ phần lớn diện tích của cồn cát trong, nằm kẹp giữa hai khe nước. Di vật Bãi Ông điển hình cho giai đoạn Long Thạnh tìm thấy cả trên đất liền và trên các đảo. Điều này cho thấy mối liên quan chặt chẽ giữa các cộng đồng cư dân từ cách đây trên 3.000 năm. Di tích đã được khoanh vùng bảo vệ, nhưng trên thực tế đã bị phá hủy khá nhiều do các yếu tố tự nhiên cũng như xã hội. Các di tích và di vật văn hóa Sa Huỳnh ở Hội An được phát hiện khá muộn so với nhiều địa bàn khác, từ 1989. Bên cạnh những nét chung, có nhiều điểm riêng, độc đáo, đó là tính chất giao lưu, giao thương mạnh mẽ thể hiện qua sự hiện diện của các cộng đồng cư dân giàu có của lãnh địa Sa Huỳnh ở lưu vực sông Thu Bồn, sinh sống và buôn bán tại những điểm nút quan trọng trong giao thương, giao lưu và cho thấy những chứng cứ chứng minh sự nối tiếp giữa Sa Huỳnh - Lâm Ấp - Champa. Văn hóa Sa Huỳnh ở Hội An có hai giai đoạn đều thuộc thời kỳ muộn và thời kỳ kết thúc của nền văn hóa này. Nhóm muộn gồm những địa điểm mộ chum giai đoạn phát triển của văn hoá Sa Huỳnh, với loại quan tài gốm, chủ đạo là chum hình trụ có kích thước lớn, đồ tuỳ táng có công cụ sắt, trang sức bằng thuỷ tinh, mã não. Loại hình mộ đất vẫn được thực hành bên cạnh mộ chum, trong nhiều địa điểm đã xuất hiện đồ đồng (gương, lục lạc, đồ đựng, đồ dùng) có nguồn gốc từ Trung Hoa (Hán), bắt đầu xuất hiện một số loại hình và trang trí gốm và kim loại xem ra chịu ảnh hưởng của Hán như dao sắt có chuôi hình vành khăn kiểu Tây Hán, qua đồng, qua sắt, bát có chân trổ lỗ tam giác kiểu “đậu” ở Động Cườm Những địa điểm điển hình: An Bang, Hậu Xá, (tương đương với các địa điểm như Bình Yên, Gò Dừa, Lai Nghi, Tiên Lãnh, Đại Lãnh, Động Cườm, ở các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định). Nhóm muộn nhất thuộc giai đoạn kết thúc của văn hoá Sa Huỳnh và kéo dài tới những thế kỷ đầu Công nguyên. Chum mai táng nhiều loại hình. Đồ tuỳ táng bằng sắt và bằng đồng, đồ trang sức bằng mã não, thủy tinh, vàng. Bộ đồ tuỳ táng này vẫn tiếp tục phản ánh quan hệ giao lưu văn hoá mạnh mẽ với bên ngoài như Trung Hoa và Ấn Độ. Sưu tập hiện vật Hậu Xá II cho thấy ở Hội An có những cộng đồng cư dân thuộc thời kỳ kết thúc của văn hóa Sa Huỳnh. Hội An nằm ở hạ lưu sông Thu Bồn, lưu vực sông này cùng các chi lưu là nơi tập trung đậm đặc nhất các di tích văn hóa Sa Huỳnh (được biết cho tới nay) và có thể xác định những cụm di tích lớn tại vùng thượng lưu, trung lưu và hạ lưu các sông Thu Bồn, sông Vu Gia. Điển hình là cụm từ Hội An đến Điện Bàn với những khu mộ chum lớn Hậu Xá I, Hậu Xá II, An Bang, Lai Nghi; cụm Gò Mả Vôi - Gò Miếu Ông - Thôn Tư; Gò Dừa ở Duy Xuyên; cụm di tích tại các huyện Đại Lộc, Tiên Phước; cụm di tích huyện 7Số 30 (Tháng 12 - 2019) DI SẢN VĂN HÓA NGHIÊN CỨUVĂ N HÓA Hiệp Đức Đặc biệt là những khu mộ địa giàu có của những cộng đồng thu gom sản vật núi rừng Quế Lộc, Đại Lãnh, Bình An, Gò Đình, hay khu mộ địa của cộng đồng thương nhân Lai Nghi, Hậu Xá cửa sông ven biển. Trong số đó có cụm mộ chum Cẩm Hà (Hội An) và Lai Nghi (Điện Bàn), những khu mộ địa giàu có nhất có nhiều khả năng là của cộng đồng thương nhân Sa Huỳnh buôn bán tại cảng thị sơ khai tiền thân của Đại Chiêm Hải khẩu Lâm Ấp Phố sau này, với các đồ tùy táng đồ nghi lễ bằng đồng như gương, đỉnh, chậu, bát, mang phong cách đồ đồng hậu kỳ Tây Hán, sơ kỳ Đông Hán và những hàng hóa có nguồn gốc từ Ấn Độ [2, tr.80-83]. Những cộng đồng cư dân Sa Huỳnh lưu vực sông Thu Bồn chắc chắn đóng góp nguồn lực đáng kể vào sự hình thành của tiểu quốc Lâm Ấp từ những thế kỷ đầu Công nguyên và Amaravati với kinh thành Simhapura từ thế kỷ IV, V trở về sau. 1.2. Thời kỳ Lâm Ấp Champa * Những dấu tích khảo cổ học từ thế kỷ I, II CN trở về sau Trong quá trình thi công Dự án Tu bổ tôn tạo di tích Lai Viễn Kiều năm 2006 ở địa điểm Chùa Cầu, trong khi thi công hồ điều hòa, người ta đã phát hiện một vò gốm tương đối nguyên vẹn cũng như rất nhiều mảnh gốm thuộc loại hình vò, nồi, hũ, nắp, và xương thô, hơi thô, mịn, hoa văn trang trí khá đa dạng. Trong đó có 01 bình hình trứng khá nguyên vẹn, kích thước rất lớn (lớn nhất cho tới nay trong số bình hình trứng đã phát hiện ở miền Trung Việt Nam), nhiều mảnh miệng, thân và đáy của một số cá thể bình hình trứng khác. Ngoài ra còn có những mảnh nồi, vò, bình,... gốm thuộc loại gốm mịn và thô, trang trí văn in ô vuông, văn khắc chìm hình vòng tròn bao quanh vai và hoa văn hình cánh sen, hình con vật (có thể là hình con voi) Dựa vào ảnh chụp hiện trường phát hiện và số lượng mảnh, số lượng cá thể gốm, chúng tôi cho rằng, tại khu vực Chùa Cầu có 01 di chỉ Champa sớm, tầng văn hóa dày từ 0,5m đến 1m. Về thời gian, có thể tương đương với lớp dưới Trà Kiệu khai quật năm 1990 hay lớp dưới cùng, lớp dưới và bắt đầu chuyển sang lớp trên ở hố khai quật Trà Kiệu của đoàn công tác Việt - Anh - Nhật. Niên đại chung của sưu tập gốm Hồ Điều Hòa từ thế kỷ I đến thế kỷ IV, V CN. Dấu tích cư trú Champa sớm phân bố liền kề khu mộ địa văn hoá Sa Huỳnh Hậu Xá. Các nhà địa chất của Đoàn 206 đã xác định, cách đây 2.000 năm địa điểm này là vùng đầm phá. Những hiện vật khảo cổ và những vết tích sinh hoạt của người xưa nằm trên trầm tích sông biển. Đại diện cho thời kỳ sớm này là di chỉ Hậu Xá I. Đây là địa điểm cư trú có thời gian tồn tại kéo dài và có thể xác định quá trình văn hoá phát triển liên tục từ sớm đến phát triển của Champa, những tích tụ văn hoá - dấu tích của người cổ còn nguyên vẹn. Tầng văn hoá dưới dày 1,1m (từ độ sâu 1,2m đến 2,3m), tầng văn hoá trên dày 0,6m (từ độ sâu 0,6m đến 1,2m). Cụm gốm gồm 3 hiện vật gốm xám mốc lồng vào nhau: 01 nồi gốm nhỏ ở trong cùng; bên ngoài là đồ gốm hình cái cối hay chuông có lỗ tròn thủng ở đáy; ngoài cùng là nồi gốm giống với nồi gốm trong cùng nhưng lớn hơn, nằm sát sinh thổ. * Những dấu tích khảo cổ học từ thế kỷ III, IV CN trở về sau Ruộng Đồng Cao trước thuộc Khu vực I, phường Cẩm Phô (xưa là xóm Hậu Xá, làng Thanh Hà), hiện thuộc khối Lâm Sa, phường Cẩm Phô, thành phố Hội An. Tọa độ của di tích 15°52’59.35’’ Bắc và 108°19’08.21’’ Đông, cao 5m so với mực nước biển. Di tích được phát hiện năm 1998, thám sát và khai quật các năm 1999 và 2009, xác định di tích cư trú Champa dạng các cụm ven sông, niên đại thế kỷ III, IV CN. Di tích nằm trong khu vực có nhiều địa điểm mộ chum văn hóa Sa Huỳnh và cư trú giai đoạn Lâm Ấp, Champa. Qua ba lần khai quật và thám sát, có thể thấy, trên sườn nam của Ruộng Đồng Cao lệch về phía đông có những tích tụ dấu tích văn hóa cổ tập trung thành Số 30 (Tháng 12 - 2019)8 NGHIÊN CỨUVĂ N HÓA từng đám, kiểu sinh hoạt hay cư trú ven dòng chảy của các nhóm cư dân từ sau thế kỷ III. Khu vực này đã bị san ủi làm cơ sở hạ tầng cho khu dân cư mới. Hậu quả của đô thị hóa đã làm cho hầu hết các dấu tích văn hóa cổ đã bị xúc ủi, di chỉ nay chỉ còn lại tên trong danh mục và bản đồ KCH. Khảo sát những ụ đất do máy xúc hất lên, đoàn khai quật năm 2018 đã thu nhặt được nhiều đồ gốm, bán sứ, đất nung có niên đại kéo dài từ thế kỷ I, II đến thế kỷ IX, X. Đáng chú ý là sự phát hiện một số mảnh bình hình trứng, loại hình gốm tiêu biểu cho tầng văn hóa sớm nhất, niên đại thế kỷ I, II ở Gò Cấm, Trà Kiệu (huyện Duy Xuyên). Di chỉ Ruộng Đồng Cao nằm sát Hậu Xá I là nơi tìm thấy dấu tích văn hóa diễn biến liên tục trong suốt thiên niên kỷ I CN. Di tích và di vật từ thế kỷ I, II đến thế kỷ VIII, IX tại Hồ Điều Hòa (Chùa Cầu), Hậu Xá, Trảng Sỏi, chứng minh tại khu vực Hội An có diễn trình lịch sử văn hóa tương đương, tương đồng với khu vực Trà Kiệu và cả hai khu vực này có những mối quan hệ tương hỗ với nhau, làm cơ sở vững chắc cho một dạng tiền nhà nước (lãnh địa) thời Sa Huỳnh và nhà nước sớm thời Lâm Ấp - Champa. * Những dấu tích khảo cổ học từ thế kỷ IX, X trở về sau Địa điểm KCH Bãi Làng trên đảo Cù Lao Chàm được phát hiện trong đợt điều tra KCH năm 1993, được tiến hành khai quật bốn lần trong các năm 1998, 1999, 2017 và 2018, phát hiện nhiều gốm sứ Trung Hoa từ các lò Trường Sa, Việt Châu, Quảng Đông và các di vật gốm sứ, hạt chuỗi, thủy tinh có nguồn gốc Tây Á, Trung Cận Đông Bên cạnh đó là một số lượng lớn các loại hình đồ gốm vật dụng thường ngày như nồi, bát, cốc, bình, hạt chuỗi thủy tinh sản xuất tại chỗ... trong tầng văn hóa, cho thấy Bãi Làng là một khu cư trú của người Champa. Bên cạnh đó, những sản phẩm mang đặc trưng của con đường buôn bán trên Biển Đông như gốm Islam, thủy tinh Islam, hạt chuỗi Indopacific, gốm Đường,... cho thấy Bãi Làng còn là một thương cảng trên con đường buôn bán Trung Quốc - Đông Nam Á - Tây Á. Dựa trên tổ hợp loại hình gốm Champa, gốm men thời Đường, gốm Islam và đặc biệt là các hạt chuỗi thủy tinh Indopacific và thủy tinh Tây Á, các nhà KCH trong cả bốn lần khai quật đã xác định niên đại thế kỷ IX, X cho di tích Bãi Làng. * Các dấu tích đền tháp và điêu khắc Champa Ngoài những dấu tích cư trú, bến cảng, ở khu vực Hội An còn có nhiều dấu tích kiến trúc, điêu khắc có niên đại từ thế kỷ VII đến thế kỷ XII và một loạt những giếng Champa được xác định có liên quan đến những hoạt động của Lâm Ấp Phố, một trung tâm thương mại quan trọng của vương quốc Champa giai đoạn Lâm Ấp và giai đoạn Champa. Khu vực Hội An, từ những năm 90 của thế kỷ XX, bắt đầu được biết đến như là địa bàn phân bố dày đặc các di tích cư trú và mộ táng (làng - bến chợ ven sông, làng cư trú, nơi thờ tự, nghĩa địa, thời kỳ từ thế kỷ III TCN đến thế kỷ VII - X. Có một quy luật phổ biến là những di tích Champa sớm thường phân bố ngay trên những di tích văn hoá Sa Huỳnh muộn. Các địa điểm phân bố chủ yếu trên dải cồn cát Cẩm Hà, cồn này có nguồn gốc tích tụ sông - biển, cao 2m - 3m, phân bố dọc sông Thu Bồn và đã bị dòng Thu Bồn đào khoét, phá huỷ và chia cắt nên chỉ còn lại những chỏm sót. Theo những nghiên cứu địa chất, địa mạo, tuổi của bề mặt này có niên đại từ 2.000 đến 4.000 năm. Đa số các di tích có tầng văn hoá phát triển liên tục qua nhiều thế kỷ, bao trùm suốt giai đoạn hình thành (nửa đầu thiên niên kỷ I) và cực thịnh của vương quốc Champa (thế kỷ VII - X). Như vậy, về tính chất, đây là những di tích giai đoạn Lâm Ấp và Champa. Hội An, với tính chất cửa ngõ giao lưu sông biển, đã là nơi tiếp xúc văn hoá mạnh mẽ và cũng là nơi tiếp thu, thâu nhận đầu tiên nhiều yếu tố văn hoá ngoại sinh. Chính những điều này đã làm cho văn hoá Sa 9Số 30 (Tháng 12 - 2019) DI SẢN VĂN HÓA NGHIÊN CỨUVĂ N HÓA Huỳnh và văn hoá Champa sớm ở Hội An có tính tiên phong, đổi mới mạnh mẽ và sâu rộng. Những nhóm di tích Champa giai đoạn Lâm Ấp và Champa ở khu vực Hội An có mối liên quan mật thiết với nhóm di tích cùng thời ở vùng Duy Xuyên, đặc biệt là Trà Kiệu, tạo thành một khu vực văn hoá - kinh tế - chính trị có quy mô lớn và quan trọng ở hạ lưu sông Thu Bồn trong những thế kỷ đầu Công nguyên. Sự có mặt của những di tích này càng củng cố thêm vị trí quan trọng của lưu vực sông Thu Bồn những thế kỷ trước và sau Công nguyên cũng như giúp khẳng định chắc chắn hơn Trà Kiệu là trung tâm hành chính - chính trị của Champa thời kỳ Lâm Ấp. 2. Giá trị của các di sản/tài nguyên văn hóa khảo cổ học ở Hội An Mỗi di tích KCH dù dưới đất, trên mặt đất hay dưới nước đều là sở hữu của nhà nước và được bảo vệ theo Luật Di sản nước CHXHCN Việt Nam. Việc nghiên cứu để bảo vệ và phát huy giá trị của những tài nguyên “không tái tạo” này là nhiệm vụ và trách nhiệm của tất cả các bên liên quan: Người quản lý - người nghiên cứu khoa học - cộng đồng cư dân sở hữu/sống tại nơi có di sản và cộng đồng cư dân thụ hưởng di sản. Trong đó, người quản lý có vai trò quan trọng trong hoạch định và triển khai chính sách, điều luật, giải pháp ở tầm vĩ mô đến vi mô. Người nghiên cứu có vai trò quyết định trong xác định trữ lượng, phân loại loại hình, đánh giá giá trị, dự báo tiềm năng, rủi ro, thách thức và đưa ra những mô hình khả thi bảo tồn và phát huy giá trị các tài nguyên KCH. Cộng đồng cư dân có vai trò mang tính sống còn đối với bảo tồn, giữ gìn và phát huy giá trị. Không có sự tham gia một cách có ý thức của cộng đồng cư dân, không di sản nào có thể giữ được và sử dụng được trong đời sống đương đại. Các chính sách về văn hóa và luật văn hóa Việt Nam đều nhấn mạnh đến vị trí, vai trò và sự tham gia của cộng đồng như những yếu tố tiên quyết đảm bảo sự thành công của công cuộc bảo tồn. Nếu coi di sản là tài nguyên thì theo chiều thời gian, giá trị của tài nguyên di sản KCH gồm giá trị quá khứ, giá trị hiện tại và giá trị tương lai; theo nguồn gốc và tính chất, giá trị của tài nguyên di sản KCH gồm giá trị tự thân được kế thừa, giá trị tái tạo, giá trị sáng tạo của cộng đồng chủ nhân hay sở hữu di sản và giá trị chia sẻ/với các cộng đồng khác. Di sản KCH không chỉ là di sản vật thể mà còn chứa đựng khía cạnh phi vật thể, bao gồm những giá trị tinh thần và biểu tượng, những câu chuyện và ký ức, những kỹ thuật, kỹ năng bí truyền, những tri thức dân gian, những dấu ấn có thể cả tích cực và tiêu cực của quá trình lịch sử, chính sách văn hóa của mỗi thời kỳ, mỗi cộng đồng dân cư. Như vậy, việc đánh giá giá trị di sản KCH để từ đó đưa ra chiến lược bảo tồn, sử dụng và phát huy sẽ cần đề cập tới cả hai khía cạnh vật thể và phi vật thể [3]. Các di tích KCH Tiền, Sơ sử ở Hội An, khu vực hạ lưu sông Thu Bồn, có giá trị nổi bật về quá trình liên tục (kế thừa và phát triển) văn hóa. Điều này chứng tỏ mảnh đất này hội tụ đầy đủ các điều kiện thiên thời - địa lợi - nhân hòa, và có những chuyển biến bước ngoặt về chính trị, tư tưởng, từ cách đây 3.500 năm đến hiện nay. Những di sản KCH cho thấy khả năng thích ứng bằng những phương thức/ mô hình mưu sinh đa dạng với những điều kiện tự nhiên và môi trường sinh thái, những cộng đồng cư dân Sa Huỳnh Champa ở đây đã mở rộng mạng lưới quan hệ trao đổi nội vùng, liên vùng và quốc tế, gia tăng mức độ ứng dụng và sản xuất công cụ, vũ khí kim loại và phát triển nông nghiệp (trồng lúa nước) để đạt được những thành tựu to lớn tạo ra những chuyển biến sâu sắc trong đời sống kinh tế, xã hội. Những di sản KCH ở lưu vực sông Thu Bồn, đặc biệt là vùng hạ lưu, cho thấy rõ quá trình chuyển biến trong cả hạ tầng cơ sở và thượng tầng kiến trúc của những nhà nước ven biển được thành lập dựa trên những trung tâm buôn bán chợ thường tọa lạc ở cửa những hệ thống sông chính và duy trì mối quan hệ chặt chẽ với những làng trên thượng nguồn, Số 30 (Tháng 12 - 2019)10 NGHIÊN CỨUVĂ N HÓA đóng vai trò những điểm thu thập/mua bán sản phẩm rừng núi với miền xuôi. Những di vật và di tích khảo cổ Sa Huỳnh Champa ở lưu vực sông Thu Bồn mang những giá trị tiêu biểu, giúp chúng ta hình dung về một cơ cấu kinh tế đa ngành, đa lĩnh vực theo thế chân vạc, trong đó nông nghiệp và thủ công nghiệp đóng vai trò nền tảng, đảm bảo “an ninh lương thực” trong khi thương mại đường sông và đường dài trên biển tạo ra những thặng dư vật chất duy trì và thúc đẩy những khía cạnh đời sống tôn giáo phát triển, mà chứng cứ là những khu mộ địa rộng lớn với những chum quan tài kích thước lớn, đồ tùy táng phong phú