Nhập môn những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin

I. Khái lược về chủ nghĩa Mác - Lênin 1. Chủ nghĩa Mác - Lênin và ba bộ phận cấu thành - Chủ nghĩa Mác - Lênin là hệ thống quan điểm và học thuyết khoa học của C.Mác (Karl Marx 1818 - 1883), Ph.Ăngghen (Friedrich Egels, 1820 - 1895) và sự phát triển của V. I. Lênin (Vladimir Ilich Lenin 1870 - 1924). Chủ nghĩa Mác -Lênin được hình thành và phát triển trên cơ sở kế thừa những giá trị tư tưởng nhân loại và tổng kết thực tiễn thời đại; là thế giới quan, phương pháp luận phổ biến của nhận thức khoa học và thực tiễn cách mạng; là khoa học về sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sản và nhân dân lao động khỏi chế độ áp bức, bóc lột và tiến tới giải phóng con người. - Nội dung của chủ nghĩa Mác - Lênin bao gồm 3 bộ phận lý luận là: + Triết học Mác - Lênin + Kinh tế chính trị Mác - Lênin + Chủ nghĩa xã hội khoa học

doc47 trang | Chia sẻ: tranhoai21 | Lượt xem: 1402 | Lượt tải: 2download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Nhập môn những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
CHƯƠNG MỞ ĐẦU NHẬP MÔN NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN I. Khái lược về chủ nghĩa Mác - Lênin 1. Chủ nghĩa Mác - Lênin và ba bộ phận cấu thành - Chủ nghĩa Mác - Lênin là hệ thống quan điểm và học thuyết khoa học của C.Mác (Karl Marx 1818 - 1883), Ph.Ăngghen (Friedrich Egels, 1820 - 1895) và sự phát triển của V. I. Lênin (Vladimir Ilich Lenin 1870 - 1924). Chủ nghĩa Mác -Lênin được hình thành và phát triển trên cơ sở kế thừa những giá trị tư tưởng nhân loại và tổng kết thực tiễn thời đại; là thế giới quan, phương pháp luận phổ biến của nhận thức khoa học và thực tiễn cách mạng; là khoa học về sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sản và nhân dân lao động khỏi chế độ áp bức, bóc lột và tiến tới giải phóng con người. - Nội dung của chủ nghĩa Mác - Lênin bao gồm 3 bộ phận lý luận là: + Triết học Mác - Lênin + Kinh tế chính trị Mác - Lênin + Chủ nghĩa xã hội khoa học - Đối tượng, vị trí, vai trò và tính thống nhất của 3 bộ phận lý luận cấu thành chủ nghĩa Mác - Lênin + Triết học Mác - Lênin nghiên cứu những quy luật vận động, phát triển chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy; xây dựng thế giới quan và phương pháp luận chung nhất của nhận thức khoa học và thực tiễn cách mạng. + Kinh tế chính trị Mác - Lênin nghiên cứu những quy luật kinh tế của xã hội đặc biệt là những quy luật kinh tế của quá trình ra đời, phát triển và suy tàn của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và sự ra đời, phát triển của phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa. + Chủ nghĩa xã hội khoa học là sự vận dụng thế giới quan và phương pháp luận triết học, kinh tế chính trị Mác - Lênin vào việc nghiên cứu những quy luật khách quan của quá trình cách mạng XHCN – bước chuyển từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội và tiến tới chủ nghĩa cộng sản. Ngày nay có nhiều học thuyết với lý tưởng nhân đạo về giải phóng giai cấp, giải phóng nhân dân lao động, giải phóng con người nhưng chỉ có chủ nghĩa Mác - Lênin là học thuyết khoa học nhất, cách mạng nhất và chân chính nhất để thực hiện lý tưởng đó. 2. Khái lược sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa Mác - Lênin a. Những điều kiện, tiền đề của sự ra đời chủ nghĩa Mác * Điều kiện về kinh tế - xã hội - Chủ nghĩa Mác ra đời vào những năm 40 của thế kỷ XIX. Đây là thời kỳ phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ở các nước Tây Âu phát triển mạnh mẽ trên nền tảng cuộc cách mạng công nghiệp (trước tiên được thực hiện ở Anh vào cuối thế kỷ XVIII). Cuộc cách mạng công nghiệp này đã đem lại: + Lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ. Tính chất xã hội hoá của lực lượng sản xuất trên cơ sở phân công lao động diễn ra ngày càng sâu sắc, đánh dấu bước chuyển từ nền sản xuất thủ công tư bản chủ nghĩa sang nền sản xuất đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa. + Làm thay đổi sâu sắc cục diện xã hội mà trước hết là sự hình thành và phát triển của giai cấp vô sản. + Sự phát triển chủ nghĩa tư bản càng làm cho mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất phát triển cao và mang tính chất xã hội hoá sâu sắc với quan hệ sản xuất tư bản, dựa trên chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, biểu hiện về mặt xã hội của mâu thuẫn này là mâu thuẫn giai cấp giữa giai cấp vô sản với giai cấp tư sản ngày càng gay gắt. Từ đó dẫn đến hàng loạt cuộc đấu tranh của công nhân chống lại giai cấp tư sản: Ở Pháp có khởi nghĩa của công nhân dệt ở Liông 1831 và 1834; ở Anh có phong trào Hiến Chương (10 năm) vào cuối những năm 30, đầu những năm 40 của thế kỷ XIX; Đức có phong trào đấu tranh của công nhân dệt ở Xilêdi => Những phong trào đấu tranh trên là bằng chứng lịch sử thể hiện giai cấp vô sản đã trở thành lực lượng chính trị độc lập, tiên phong trong cuộc đấu tranh cho nền dân chủ, công bằng và tiến bộ xã hội. + Phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản nổ ra mạnh mẽ nhưng lần lượt thất bại, nó đặt ra yêu cầu khách quan là cần phải được soi sáng bằng lý luận khoa học. Chủ nghĩa Mác ra đời đã đáp ứng nhu cầu khách quan đó, đồng thời chính thực tiễn cách mạng đó cũng trở thành tiền đề cho sự khái quát và phát triển không ngừng lý luận của chủ nghĩa Mác. * Tiền đề lý luận Chủ nghĩa Mác ra đời là sự kế thừa di sản lý luận của nhân loại mà trực tiếp nhất là triết học cổ điển Đức, kinh tế chính trị cổ điển Anh và chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp. - Triết học cổ điển Đức (G.W. Ph.Hêghen, và L.Phoiơbắc) -> Triết học cổ điển Đức (triết học của Hêgghen và Phoiơbắc) đã ảnh hưởng sâu sắc đến sự hình thành thế giới quan và phương pháp luận triết học của chủ nghĩa Mác. + Hêghen: -> Công lao của Ph.Hêghen: phê phán tư duy siêu hình; là người đầu tiên diễn đạt được nội dung của phép biện chứng dưới dạng lý luận chặt chẽ thông qua hệ thống các quy luật, phạm trù -> Hạn chế trong triết học Hêgghen: hệ thống triết học của ông mang tính chất duy tâm thần bí. Vì vậy, phép biện chứng của ông cũng chỉ là biện chứng của tư duy --> C.Mác, Ph. Ăngghen đã phê phán tính chất duy tâm thần bí và kế thừa phép biện chứng của Hêghen để xây dựng phép biện chứng duy vật. + L.Phoiơbắc: -> Công lao của L.Phoiơbắc: đấu tranh chống lại chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo, tiếp tục bảo vệ và phát triển chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII - XVIII; khẳng định quan điểm duy vật triệt để trong lĩnh vực tự nhiên: Giới tự nhiên là tính thứ nhất, tồn tại vĩnh viễn và không phụ thuộc vào ý thức con người. -> Hạn chế trong triết học Phoiơbắc: quan điểm duy tâm về lĩnh vực xã hội; chủ nghĩa duy vật của ông mang tính chất siêu hình (chưa triệt để) --> Mác, Ph. Ăngghen đã phê phán tính chất siêu hình, đánh giá cao chủ nghĩa duy vật vô thần của ông, đây là tiền đề quan trọng cho bước chuyển biến của C.Mác, Ph.Ăngghen từ thế giới quan duy tâm sang duy vật, từ lập trường của chủ nghĩa dân chủ cách mạng sang lập trường chủ nghĩa cộng sản. Như vậy, C.Mác, Ph.Ăngghen đã lọc bỏ tính chất duy tâm thần bí, kế thừa phát triển phép biện chứng trong triết học Hêghen, đồng thời, lọc bỏ tính siêu hình và kế thừa phát triển chủ nghĩa duy vật trong triết học Phoiơbắc, kết hợp chúng để sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật biện chứng khoa học. Do vậy chủ nghĩa duy vật biện chứng của C. Mác và Ph. Ăngghen đã phản ánh đúng đắn sự tồn tại khách quan, biện chứng của thế giới. - Kinh tế chính trị học cổ điển Anh (A. Smít, Đ. Ricácđô) + A.Xmít và Đ.Ricácđô -> Công lao lịch sử của A.Xmít và Đ.Ricácđô: là những người mở đầu xây dựng lý luận về giá trị lao động trong lĩnh vực nghiên cứu kinh tế chính trị học; đưa ra nhiều kết luận quan trọng về giá trị và nguồn gốc của lợi nhuận, tính chất quan trọng của quá trình sản xuất vật chất, về những quy luật kinh tế khách quan -> Hạn chế về phương pháp nghiên cứu nên: không thấy được tính lịch sử của giá trị; không thấy được mâu thuẫn của hàng hoá và sản xuất hàng hoá; không thấy được tính hai mặt của sản xuất hàng hoá; không phân biệt được sản xuất hàng hoá giản đơn với sản xuất hàng hoá tư bản chủ nghĩa; chưa phân tích được chính xác những biểu hiện của giá trị trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. -> C.Mác, Ph.Ăngghen đã kế thừa những yếu tố khoa học trong lý luận về giá trị lao động và những tư tưởng tiến bộ đồng thời giải quyết những bế tắc mà các nhà kinh tế chính trị cổ điển Anh đã không thể vượt qua. Từ đó C.Mác, Ph.Ăngghen xây dựng nên: lý luận về giá trị thặng dư; luận chứng khoa học về bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản và nguồn gốc kinh tế dẫn đến diệt vọng tất yếu của chủ nghĩa tư bản và sự ra đời tất yếu của chủ nghĩa xã hội. - Chủ nghĩa xã hội không tưởng cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX H.Xanh Ximông, S.Phuriê, R.Ôoen + Công lao lịch sử của các nhà tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng: thể hiện đậm nét nhân văn, đã phê phán mạnh mẽ chủ nghĩa tư bản và vạch trần nỗi khốn khổ của người lao động trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa; đưa ra nhiều quan điểm sâu sắc về quá trình phát triển của lịch sử cũng như dự đoán về những đặc trưng cơ bản về xã hội tương lai + Hạn chế: không luận chứng được một cách khoa học về bản chất của chủ nghĩa tư bản; không phát hiện được quy luật phát triển của chủ nghĩa tư bản; chưa nhận thức được vai trò, sứ mệnh của giai cấp công nhân với tư cách là lực lượng xã hội có khả năng xoá bỏ chủ nghĩa tư bản xây dựng một xã hội mới bình đẳng, không có bóc lột + C.Mác, Ph.Ăngghen đã khắc phục những hạn chế của chủ nghĩa xã hội không tưởng và kế thừa những mặt tích cực đặc biệt là quan điểm đúng đắn về lịch sử, về đặc trưng của xã hội tương lai đã trở thành một trong những tiền đề lý luận về chủ nghĩa xã hội khoa học trong chủ nghĩa Mác. * Tiền đề khoa học tự nhiên - Những thành tựu của khoa học tự nhiên vừa là tiền đề, vừa là luận cứ để khẳng định tính đúng đắn về thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Thế kỷ XIX có 3 phát minh vĩ đại: -> Định luật bảo toàn và chuyển hoá năng lượng, phát minh khoa học này đã chứng minh tính thống nhất vật chất của thế giới, đồng thời chỉ ra rằng, mọi sự vật và hiện tượng trong thế giới luôn nằm trong mối liên hệ tác động qua lại lẫn nhau -> Thuyết tế bào; thuyết tiến hoá đã chứng minh sự thống nhất về mặt kết cấu sinh học của thế giới hữu sinh; chỉ ra rằng, sự sống và sự đa dạng phong phú của các loài sinh, động vật là kết quả tiến hoá, lâu dài của giới tự nhiên. Những phát minh này tạo ra điều kiện, tiền đề cho thế giới quan duy vật và phương pháp biện chứng ra đời. Như vậy triết học Mác ra đời là một tất yếu lịch sử, tất nhiên phải có những điều kiện chủ quan như sự thông minh, lòng yêu thương những người lao động của chính Mác và Ăngghen. b. Giai đoạn hình thành và phát triển của chủ nghĩa Mác * Thứ nhất: C. Mác và Ph.Ăngghen và quá trình chuyển biến tư tưởng của các ông từ CNDT và dân chủ cách mạng sang CNDV và chủ nghĩa cộng sản * Thứ hai: Giai đoạn đề xuất những nguyên lý triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử * Thứ ba: Giai đoạn Mác và Ăngghen bổ sung, phát triển lý luận triết học * Thứ tư: Thực chất và ý nghĩa của cuộc cách mạng trong triết học do C.Mác và Ph.Ăngghen thực hiện: - Thực chất cuộc cách mạng trong triết học do Mác và Ăngghen thực hiện thể hiện ở những điểm chủ yếu sau: + Một là, khắc phục sự tách rời giữa thế giới quan duy vật và phương pháp biện chứng trong triết học trước đó, Mác và Ăngghen đã tạo ra sự thống nhất hữu cơ giữa chủ nghĩa duy vật và phương pháp biện chứng là chủ nghĩa duy vật biện chứng. Đây là bước phát triển cách mạng trong triết học do Mác và Ăngghen thực hiện + Hai là, sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật lịch sử làm cho triết học của C. Mác và Ph.Ăngghen trở nên triệt để. Trước khi triết học Mác ra đời chưa có một nhà triết học nào giải thích được một cách duy vật lĩnh vực lịch sử – xã hội – tinh thần. Triết học Mác ra đời đã khắc phục được những hạn chế này + Ba là, với sự sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Mác và Ăngghen đã khắc phục sự đối lập giữa triết học với hoạt động thực tiễn. Triết học của hai ông trở thành công cụ nhận thức và cải tạo thế giới của nhân loại tiến bộ. Triết học của hai ông đã gắn bó với phong trào cách mạng của giai cấp vô sản, còn phong trào vô sản cần đến sự chỉ đưòng, dẫn dắt của triết học này + Bốn là, với sự ra đời của triết học Mác, Mác và Ăngghen đã khắc phục sự đối lập giữa triết học với các khoa học cụ thể. Trước khi triết học Mác ra đời thì triết học hoặc là đối lập với các khoa học cụ thể, hoặc là hoà tan vào nó. Từ khi triết học Mác ra đời thì quan hệ giữa triết học Mác với các khoa học cụ thể là quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau. Các khoa học cụ thể cung cấp cho triết học Mác các thông số, dữ liệu khoa học, tài liệu khoa học để triết học Mác khái quát, còn triết học Mác đóng vai trò thế giới quan, phương pháp luận chung nhất cho các khoa học cụ thể. - Ý nghĩa của cuộc cách mạng trong triết học do C. Mác và Ph.Ăngghen thực hiện: + Làm cho triết học thay đổi cả về vai trò, vị trí, chức năng trong hệ thống tri thức khoa học. + Làm cho chủ nghĩa xã hội không tưởng có cơ sở trở thành khoa học + Làm cho triết học Mác trở thành công cụ nhận thức và cải tạo thế giới của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. * Thứ năm: Giai đoạn V.I.Lênin trong sự phát triển triết học Mác V.I.Lênin (1870 - 1924) đã vận dụng sáng tạo học thuyết của Mác để giải quyết những vấn đề của cách mạng vô sản trong thời đại chủ nghĩa đế quốc và bước đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trong quá trình đó, ông đã đóng góp to lớn vào sự phát triển lý luận của chủ nghĩa Mác nói chung, triết học Mác nói riêng. II. Đối tượng, mục đích và yêu cầu về phương pháp học tập, nghiên cứu môn học những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin 1. Đối tượng và mục đích của việc học tập, nghiên cứu a. Đối tượng * Trong phạm vi lý luận của triết học Mác - Lênin đó là những nguyên lý cơ bản về thế giới quan và phương pháp luận chung nhất bao gồm: + Những nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng với tính cách là hạt nhân lý luận của thế giới quan khoa học + Phép biện chứng với tư cách là khoa học về mối liên hệ phổ biến và sự phát triển, về những quy luật chung nhất của sự vận động và phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy + Chủ nghĩa duy vật lịch sử với tư cách là sự vận dụng những nguyên lý của chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng vào việc nghiên cứu đời sống xã hội * Trong phạm vi kinh tế chính trị của chủ nghĩa Mác - Lênin bao gồm: Học thuyết về giá trị (giá trị lao động), học thuyết giá trị thặng dư, học thuyết về chủ nghĩa tư bản độc quyền và chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước, khái quát những quy luật kinh tế cơ bản của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa từ giai đoạn hình thành đến giai đoạn phát triển cao. * Trong phạm vi chủ nghĩa xã hội khoa học bao gồm: Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa, các quy luật chính trị - xã hội của quá trình hình thành, phát triển hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa và những định hướng cho giai cấp công nhân trong quá trình thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình. b. Mục đích Việc học tập, nghiên cứu môn học “Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin” nhằm: + Nắm vững những quan điểm khoa học, cách mạng, nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lênin + Hiểu rõ cơ sở lý luận quan trọng nhất của tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam + Xây dựng thế giới quan và phương pháp luận khoa học, nhân sinh quan cách mạng, niềm tin, lý tưởng cách mạng + Vận dụng sáng tạo những nhân tố trên trong nhận thức và thực tiễn, trong rèn luyện, tu dưỡng đạo đức đáp ứng nhu cầu về nhân tố con người trong sự nghiệp bảo vệ tổ quốc và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội 2. Một số yêu cầu cơ bản về phương pháp học tập, nghiên cứu Thứ 1: Phải hiểu đúng tinh thần, thực chất của nó, chống xu hướng kinh viện, giáo điều Thứ 2: Đặt chúng trong mối quan hệ với các luận điểm khác, các bộ phận cấu thành khác để thấy sự thống nhất trong tính đa dạng, nhất quán của mỗi tư tưởng nói riêng, của toàn bộ chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung Thứ 3: Để hiểu rõ cơ sở lý luận quan trọng nhất của tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam là những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin thì cần phải gắn những luận điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin với thực tiễn cách mạng Việt Nam và thực tiễn thời đại. Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin trong từng giai đoạn lịch sử Thứ 4: Nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin để đáp ứng những yêu cầu của con người Việt Nam trong giai đoạn mới vì vậy quá trình học tập, nghiên cứu đồng thời phải là quá trình giáo dục, tự giáo dục, tu dưỡng và rèn luyện để từng bước hoàn thiện mình trong đời sống cá nhân và trong cộng đồng xã hội Thứ 5: Chủ nghĩa Mác - Lênin là hệ thống lý luận mở, không ngừng phát triển trên cơ sở phát triển của thực tiễn xã hội. Vì vậy, quá trình học tập, nghiên cứu một mặt phải là quá trình tổng kết, đúc rút kinh nghiệm để góp phần phát triển tính khoa học, tính nhân văn vốn có của nó. Mặt khác, phải đặt nó trong lịch sử phát triển của tư tưởng nhân loại vì nó là sự kế thừa tinh hoa nhân loại trong điều kiện lịch sử mới. PHẦN I THẾ GIỚI QUAN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN TRIẾT HỌC CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN CHƯƠNG I CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG I. Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy vật biện chứng 1. Vấn đề cơ bản của triết học và sự đối lập giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm trong việc giải quyết vấn đề cơ bản của triết học a. Quan niệm về triết học Triết học là hệ thống những quan điểm lý luận chung nhất về thế giới và về vị trí của con người trong thế giới đó. b. Vấn đề cơ bản của triết học và sự đối lập giữa CNDV và CNDT trong việc giải quyết vấn đề cơ bản của triết học * Vấn đề cơ bản của triết học: Ph.Ăngghen định nghĩa: “Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là triết học hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại”. -> Vì sao quan hệ giữa tư duy và tồn tại lại là vấn đề cơ bản của triết học? * Vấn đề cơ bản của triết học có 2 mặt: (2 mặt của một vấn đề) - Mặt thứ nhất (bản thể luận): Giữa ý thức và vật chất, cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào? - Mặt thứ hai (nhận thức luận): Con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không? VẬT CHẤT HAY Ý THỨC CÓ TRƯỚC? QUYẾT ĐỊNH? VẬT CHẤT CÓ TRƯỚC, QUYẾT ĐỊNH Ý THỨC Ý THỨC CÓ TRƯỚC, QUYẾT ĐỊNH VẬT CHẤT VẬTCHẤT, Ý THỨC CÙNG TỒN TẠI ĐỘC LẬP NHAU CNDV CNDT NHỊ NGUYÊN CON NGƯỜI CÓ THỂ NHẬN THỨC ĐƯỢC THẾ GIỚI KHÔNG? CÓ THỂ NHẬN THỨC ĐƯỢC KHÔNG THỂ NHẬN THỨC ĐƯỢC Nhận thức là sự phản ánh thế giới KQ Nhận thức là sự phản ánh trạng thái chủ quan Nhận thức là sự tự nhận thức của YN TĐ Hoài nghi khả năng nhận thức của con người Nhận thức chỉ p.a hiện tượng không p.a được bản chất DTKQ Hoài nghi BKT CNDT DTCQ CNDV NHỊ NGUYÊN 2. Chủ nghĩa duy vật biện chứng - hình thức phát triển cao nhất của CNDV Thời gian Hình thức Đặc điểm Thế kỷ VI - III TCN CNDV chất phác Đồng nhất vật chất với một hay một số chất cụ thể nào đó; mang tính tự phát, ngây thơ, cảm tính, dựa trên những quan sát trực tiếp và phỏng đoán về thế giới tự nhiên. Thế kỷ XVII –XVIII CNDV siêu hình Chịu sự tác động của phương pháp tư duy siêu hình, máy móc, thế giới được coi như tổng số các sự vật biệt lập, không vận động, không phát triển. Thế kỷ XIX –XX CNDV biện chứng Là sự thống nhất giữa CNDV khoa học và phương pháp biện chứng, phản ánh đúng đắn hiện thực khách quan trong mối liên hệ phổ biến và sự phát triển. II. Quan điểm duy vật biện chứng về vật chất, ý thức và mối quan hệ giữa vật chất và ý thức 1. Vật chất a. Phạm trù vật chất * Quan điểm của các nhà duy vật thời kỳ cổ đại Khuynh hướng chung của các nhà triết học duy vật cổ đại: Đi tìm bản nguyên vật chất đầu tiên và coi đó là nguyên tố đầu tiên tạo ra mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới, chẳng hạn, Ta lét: nước; Anaximen: không khí; Hêraclít: Lửa; Đêmôcrít: nguyên tử... * Quan điểm của các nhà duy vật thời kỳ cận đại - Thế kỷ XVII – XVIII, KHTN phát triển rất mạnh, thu được nhiều thành tựu mới trong việc nghiên cứu thế giới khách quan (Cơ học, toán học, vật lý học, sinh vật học.). Tuy vậy những quan niệm siêu hình vẫn chi phối những hiểu biết triết học về thế giới: Nguyên tử vẫn tiếp tục được coi là phần tử vật chất nhỏ nhất, không thể phân chia; vận động của vật chất chỉ được coi là vận động cơ học, nguồn gốc của vận động nằm ngoài sự vật, thừa nhận “cái hích” đầu tiên của thượng đế. - Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, vật lý học hiện đại, nhất là vật lý học vi mô đã có những phát hiện mới về cấu trúc của vật chất làm biến đổi sâu sắc quan niệm của con người về nguyên tử: 1895: Rơnghen tìm ra tia X - Một loại sóng điện từ có bước sóng cực ngắn); 1896: Beccơren phát hiện ra hiện tượng phóng xạ Þ Quan niệm về sự bất biến của nguyên tử trước đây là không chính xác; 1897: Tômxơn phát hiện ra điện tử và chứng minh được điện tử là một trong những thành phần cấu tạo nên nguyên tử... => Những phát hiện nói trên của vật lý học đã mâu thuẫn với quan niệm về vật chất của CNDV thế kỷ XVII - XVIII. CNDT đã lợi dụng tình hình đó để tuyên truyền quan điểm duy tâm: tuyên bố vật chất “tiêu tan”, vật chấ