Phát triển một số năng lực nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên thông qua mô hình “Nghiên cứu bài học”

Tóm tắt. “Nghiên cứu bài học” (NCBH) là một mô hình phát triển năng lực nghiệp vụ sư phạm (NVSP) của giáo viên (GV) thông qua việc cải tiến chất lượng dạy và học của từng bài học cụ thể, qua đó cải tiến chất lượng học của học sinh (HS). Việc NCBH giúp cho các GV phát triển được năng lực quan sát HS, năng lực tổ chức các hoạt động nhóm, năng lực chuyên môn cũng như khả năng tư duy, phân tích về các mục tiêu, phạm vi, nội dung của bài học.

pdf7 trang | Chia sẻ: thanhle95 | Lượt xem: 82 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Phát triển một số năng lực nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên thông qua mô hình “Nghiên cứu bài học”, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
JOURNAL OF SCIENCE OF HNUE Interdisciplinary Sci., 2014, Vol. 59, No. 1, pp. 69-75 PHÁT TRIỂN MỘT SỐ NĂNG LỰC NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM CHO GIÁO VIÊN THÔNG QUAMÔ HÌNH “NGHIÊN CỨU BÀI HỌC” Nguyễn Mậu Đức1, Hoàng Thị Chiên1, Trần Trung Ninh2 1Khoa Hóa học, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên, 2Khoa Hóa học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Tóm tắt. “Nghiên cứu bài học” (NCBH) là một mô hình phát triển năng lực nghiệp vụ sư phạm (NVSP) của giáo viên (GV) thông qua việc cải tiến chất lượng dạy và học của từng bài học cụ thể, qua đó cải tiến chất lượng học của học sinh (HS). Việc NCBH giúp cho các GV phát triển được năng lực quan sát HS, năng lực tổ chức các hoạt động nhóm, năng lực chuyên môn cũng như khả năng tư duy, phân tích về các mục tiêu, phạm vi, nội dung của bài học. Từ khóa: Năng lực nghề nghiệp, nghiệp vụ sư phạm, nghiên cứu bài học. 1. Mở đầu Thuật ngữ “nghiên cứu bài học” (NCBH) (tiếng Anh là Lesson Study hoặc Lesson Research) được chuyển từ nguyên nghĩa tiếng Nhật (jugyou kenkyuu). Thuật ngữ NCBH có nguồn gốc trong lịch sử giáo dục Nhật Bản, từ thời Meiji (1868 -1912), như một biện pháp để nâng cao năng lực nghề nghiệp cho giáo viên, cải tiến chất lượng dạy và học trên lớp nhằm nâng cao kết quả của học sinh thông qua nghiên cứu cải tiến các hoạt động dạy học trong các bài học cụ thể. Khi tham gia NCBH, các giáo viên sẽ họp thành từng nhóm nhỏ 4-6 người cùng nhau lựa chọn một bài học nghiên cứu chứa nội dung, kĩ năng, thái độ mà họ muốn hình thành và phát triển ở học sinh, cùng nhau xây dựng một kế hoạch chi tiết hoàn chỉnh cho bài học đó, quan sát bài học được dạy bởi một giáo viên, thảo luận sửa bài học, lặp lại quá trình như trên và chia sẻ kết quả. Cho đến nay NCBH được xem như một mô hình và cách tiếp cận nghề nghiệp của giáo viên và vẫn được sử dụng rộng rãi tại Nhật Bản, đã được giới thiệu trên nhiều quốc gia và đều nhận được sử ủng hộ nhiệt liệt. Điều này cho thấy tính ưu việt và tính hấp dẫn to lớn của NCBH. Ngày nhận bài: 13/4/1013 Ngày nhận đăng: 28/11/2013 Liên hệ: Nguyễn Anh Tuấn, e-mail: tuandhsphn@gmail.com 69 Nguyễn Mậu Đức, Hoàng Thị Chiên, Trần Trung Ninh 2. Nội dung nghiên cứu 2.1. Suy nghĩ cẩn thận về các mục tiêu, phạm vi, nội dung bài học Nghiên cứu bài học rất có ý nghĩa đối với giáo viên vì họ phải suy nghĩ xem đâu là phần trọng tâm, cơ bản của bài học, ví dụ như: ở chương trình này, mục tiêu của bài học này là gì? Làm thế nào để tạo được mối liên hệ của bài học này với các bài học khác? Làm thế nào để học sinh tìm được mối liên hệ giữa các kiến thức của bài học này với các kiến thức đã có của mình? Nếu giáo viên không nghĩ đến những điều này thì không thể tiến hành nghiên cứu bài học được. Đó chính là mục đích hay ý nghĩa của bài học nghiên cứu. Ngay cả khi giáo viên không nghĩ đến những khó khăn của bài học mà họ dạy hàng ngày trong sách giáo khoa thì họ cũng phải nghĩ đến những vấn đề cơ bản của bài học nghiên cứu. Thay vì việc nghĩ rằng: “tôi sẽ trình bày những gì trong bài học này” bằng việc nghĩ rằng “tôi muốn học sinh sẽ học được cái gì từ bài học này?”. Việc xây dựng các mục tiêu dài hạn có thể cho phép giáo viên giữ lại những phẩm chất như lòng yêu nghề, phẩm chất, năng lực nghề nghiệp thu được từ những giáo viên khác mà có thể làm nền tảng cho việc học tập của học sinh. Từ những mục tiêu dài hạn đó, học sinh tìm thấy động lực để học tập có hiệu quả hơn nhờ sự giúp đỡ của các bạn cùng nhóm, cùng lớp hay chính nhờ khả năng của mình. Bên cạnh đó, những mục tiêu dài hạn của nghiên cứu bài học có thể hỗ trợ cho các giáo viên tìm ra những phương pháp hỗ trợ cho các giáo viên cả về mặt kiến thức cả về mặt chuyên môn. Các bài học nghiên cứu cung cấp cho các giáo viên cơ hội để xác định kiến thức nào là quan trọng của bài học, phát hiện ra những lỗ hổng kiến thức của mình và bổ sung thêm những điều cần thiết phục vụ cho việc dạy học. Các quá trình xây dựng mục tiêu cho một bài học nghiên cứu: + GV chọn một bài học có đặc điểm phù hợp để tiến hành nghiên cứu. + Các GV trong nhóm nghiên cứu phát hiện và thảo về những khoảng trống trong nhận thức của HS và từ đó hình thành mong muốn bổ sung hoàn thiện nó để HS có được sự trưởng thành hơn ngay trong quá trình học tập. + Sau đó GV sẽ lựa chọn một mục tiêu cụ thể nào đó (thường dựa vào chuẩn kiến thức, kĩ năng), từ đó tìm ra PPDH phù hợp để giúp HS đạt được những mục tiêu đã đề ra. + GV suy nghĩ về mối liên hệ giữa nội dung của bài học nghiên cứu với mục tiêu cụ thể của bài học và mục tiêu chung của NCBH cũng như chú ý đến mối liên hệ với những môn học khác. 2.2. Phát triển chuyên môn dạy học NCBH là một mô hình bồi dưỡng, phát triển chuyên môn nghiệp vụ cho GV bởi những lợi ích to lớn mà nó mang lại cho những người tham gia. Mục đích của NCBH là tìm hiểu những gì HS nghĩ, những gì HS tư duy để có những phương pháp dạy cho phù hợp chứ không phải là một bài học biểu diễn. Tất cả các thành viên trong nhóm đều phải có những đóng góp và các ý tưởng đó cần phải được tôn trọng. 70 Phát triển một số năng lực nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên thông qua... Do vậy, bài học là thuộc về cả nhóm chứ không phải của riêng người dạy. Như vậy khi các thành viên tham gia vào NCBH thì sẽ kết hợp được những ưu điểm và cùng hoàn thiện bài học hơn. Thông qua NCBH, GV cảm thấy tập trung hơn vào bài học và tăng sự thích thú trong công việc dạy học. NCBH là để cải tiến nội dung dạy học cụ thể nên thông qua quá trình hợp tác với các GV trong nhóm, họ hiểu sâu hơn về nội dung kiến thức của bài học vì chính họ phải đào sâu suy nghĩ hơn và được bổ sung từ ý kiến của những người khác, qua đó năng lực sư phạm của họ được cải thiện. GV phải cùng nhau thảo luận về những phản ứng có thể có ở HS trong quá trình học để có những PPDH cho phù hợp. Như vậy GV có thể dự kiến trước được những kết quả đối với một bài học và những phản ứng của các HS trong lớp. Thông qua quá trình hợp tác, các giáo viên có thể làm sâu sắc thêm nội dung kiến thức của bản thân, về cách dạy có hiệu quả nội dung đó bởi chính họ phải đào sâu suy nghĩ hơn và được bổ sung từ ý kiến của người khác từ đó năng lực sư phạm được cải thiện. Khi tham gia vào quá trình “Nghiên cứu bài học”, giáo viên vững vàng hơn về chuyên môn, nghiệp vụ, tăng sự chuyên nghiệp của giáo viên và giúp họ tự tin hơn khi dạy các bài học ở lớp của mình, phát triển khả năng giải quyết vấn đề thực tiễn để nâng cao chất lượng dạy học của mình. Trong một cuộc khảo sát 125 giáo viên tham gia nghiên cứu bài học tại Nhật Bản, 98% cho rằng nghiên cứu bài học đã giúp họ cải thiện năng lực giảng dạy và 91% tin rằng nghiên cứu bài học là một hình thức hiệu quả nhất để phát triển năng lực nghề nghiệp cho giáo viên [2, 5] “Các nhóm nghiên cứu một bài học với ý định mang lại cho HS mục tiêu vào cuộc sống” (Lewis, 2000). Dựa trên những bài học tốt để tổ chức các hoạt động trong bài học nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra. GV phải suy nghĩ xem nên dạy như thế nào để đạt được mục tiêu ban đầu đã đặt ra của bài học, phải dạy như thế nào để sau bài học HS thu được những kiến thức, kĩ năng mà họ mong muốn. GV cùng nhau dự tiếp nhận bài học, cách HS suy nghĩ và giải quyết các vấn đề được đặt ra trong bài học, HS có thể đáp ứng được một cách đầy đủ những câu hỏi, bài tập hay yêu cầu mà GV đặt ra hay không? GV đặt mình vào vị trí của HS để thấy những khó khăn trong việc giải quyết vấn đề được đặt ra trong bài học, từ đó tìm ra những phương pháp phù hợp để việc dạy học đạt hiệu quả. Trong nghiên cứu bài học, giáo viên suy nghĩ thật kĩ lưỡng về những câu hỏi, những hoạt động và các phương pháp tiếp cận được sử dụng trong bài học. Giáo viên dự đoán trước những những tình huống xảy ra trong học sinh khi tiếp cận với vấn đề. Bằng cách quan sát học sinh, giáo viên thấy được đâu là những câu hỏi hay, kích thích tư duy của học sinh, đâu là những hành động làm tăng hứng thú của học sinh với môn học. Tham gia vào nghiên cứu bài học, giáo viên thực hiện vai trò của người nghiên cứu, cải tạo thực tiễn. Họ trở nên vững vàng hơn về chuyên môn, nghiệp vụ, tăng sự chuyên nghiệp và tự tin hơn trong việc giải quyết vấn đề của thực tiễn để nâng cao chất lượng dạy học. Trước khi tiến hành bài học nghiên cứu, mỗi giáo viên cũng cần nghiên cứu thật kĩ lưỡng các nội dung dạy học, suy nghĩ thật cẩn thận về những vấn đề có thể phát sinh trong quá trình dạy học. Do đó, quá trình thực hiện bài học có thể coi như một quá trình nghiên 71 Nguyễn Mậu Đức, Hoàng Thị Chiên, Trần Trung Ninh cứu lại bài học của giáo viên. Nghiên cứu bài học tạo cơ hội cho giáo viên có thể quan tâm tới tất cả các học sinh trong lớp, tạo cơ hội phát triển cho mọi học sinh. Và dẫn tới hệ quả tất yếu là nâng cao chất lượng học tập của học sinh. Qua nghiên cứu bài học, giáo viên biết cách xử lí những vấn đề chung trong lớp học như làm thế nào để tổ chức một cuộc tranh luận khi có những quan điểm khác nhau đối với một nội dung học tập nào đó. Chẳng hạn như ở trong lớp có duy nhất một em có ý kiến khác với các bạn khác trong lớp, học sinh đó có thể bị dao động và dễ dàng chuyển sang ý kiến của đa số các bạn và phủ nhận ý kiến của mình. Khi đó, giáo viên có nhiệm vụ là làm thế nào để học sinh đó kiên định với ý kiến của mình. Giáo viên cần hỏi những gì học sinh đang suy nghĩ, những gì học sinh còn đang nghi ngờ rồi sau đó làm thế nào để tổ chức một cuộc tranh luận giữa những học sinh không cùng ý kiến với nhau. Nếu làm được điều này sẽ làm tăng thêm sự tự tin cho học sinh và giúp học sinh có thói quen cùng nhau thảo luận và biết kiên định với suy nghĩ của mình. Đồng thời cũng tạo ra cho lớp học sự sôi nổi trong học tập và làm tăng hứng thú của các học sinh với môn học. 2.3. Phát triển năng lực quan sát học sinh Một bài học thành công hay không thành công không phải do những gì xảy ra trong bài học đó tạo nên mà nó là những gì giáo viên thu nhận được từ các đồng nghiệp cũng như những gì học sinh thu được sau bài học. Sự đánh giá này được thể hiện trong chính quá trình quan sát học sinh. Giáo viên quan sát học sinh học tập, động cơ và hành vi của học sinh qua đó hiểu được cách học sinh tư duy và cải thiện kĩ năng quan sát của mình. Trong các lớp do giáo viên dạy một lớp học, giáo viên có thể không phát hiện ra khuyết điểm của mình. Họ tự hài lòng với phương pháp giảng dạy của mình dẫn đến việc dạy một bài học theo một cách trong nhiều năm khiến họ cảm thấy nhàm chán, đơn điệu. Nhưng qua quá trình hợp tác nghiên cứu bài học, giáo viên được quan sát người khác dạy, thấy nhiều phương pháp dạy cho một nội dung. Điều này làm vốn kinh nghiệm của họ trở nên phong phú hơn. Qua sự đóng góp của tập thể, họ nhìn ra điểm yếu trong phương pháp, kĩ năng của mình, từ đó nâng cao năng lực chuyên môn, khám phá được nhiều điểm mới mẻ trong công việc. Họ tự tin hơn khi dạy bài học đó ở lớp của mình, phát triển khả năng giải quyết vấn đề thực tiễn. Nghiên cứu bài học tạo cơ hội cho giáo viên xem xét việc dạy và học diễn ra trong thực tế một cách khách quan thông qua dữ liệu quan sát giờ học trực tiếp hoặc gián tiếp (qua dữ liệu quan sát của các giáo viên khác, băng ghi hình, ý kiến nhận xét. . . ). Khi đứng lớp có nhiều biểu hiện của học sinh mà giáo viên không bao quát hết được, nhưng khi ngồi ở dưới quan sát hay quan sát qua băng ghi hình buổi học, giáo viên sẽ bao quát được quá trình tiếp thu kiến thức của học sinh, những gì các đồng nghiệp khác của họ quan sát được tiếp tục bổ sung vào sự quan sát của họ. Qua quá trình quan sát giáo viên thấy được tác động của phương pháp dạy học của mình tới học sinh, “nhìn thấy được “ quá trình học, suy nghĩ của học sinh và tránh áp đặt chủ quan cho học sinh. Qua những phản ứng của học sinh với bài học, giáo viên có thể tự nhận thấy mức độ hiệu quả của phương pháp mà mình đang sử dụng chứ không phải từ sự đánh giá của các giáo viên khác. Cũng 72 Phát triển một số năng lực nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên thông qua... qua những phản ứng đó mà giáo viên sẽ có những thay đổi về phương pháp giảng dạy cho phù hợp hơn với các lớp sau. Vậy trong NCBH các GV sẽ quan sát những gì và quan sát như thế nào? Trong NCBH GV phải học cách quan sát. Họ không chỉ quan sát cái bề ngoài mà cần nhìn sâu vào “bên trong chiếc hộp đen”, xem xét cách HS học, cách HS suy nghĩ và tiếp thu kiến thức, cách HS phản ứng với các yêu cầu do GV đề ra, cách HS làm việc nhóm cùng nhau, HS mắc sai lầm ở điểm nào, gặp khó khăn ở đâu, nhưng người quan sát không nói chuyện và giúp đỡ HS. Tức là người quan sát cần phải học để nhìn thấy được HS học như thế nào. Sự quan sát ấy hướng tới tất cả HS trong lớp chứ không riêng gì những HS nổi bật. Sau khi kết thúc tiết học, những người tham gia sẽ cùng nhau thảo luận về bài học đã được thực hiện. Trước tiên, người vừa dạy nói về những khó khăn, thuận lợi trong quá trình dạy bài học nghiên cứu, sau đó những người dự giờ sẽ trao đổi về những gì họ quan sát được trong khi thực hiện bài học. Đó là những dữ liệu về bài học, học tập của HS chứ không phải về người GV. Họ chia sẻ, bổ sung, góp ý cho nhau để cùng hoàn thiện hơn nữa bài học. Các thành viên tham gia quan sát và thảo luận cần ý thức được rằng bài học là sản phẩm chung của tập thể chứ không phải của một GV. Mức độ thành công được đo bằng độ hiểu bài của HS, những kiến thức, kĩ năng mà bài học đem đến cho HS. Giáo viên tổ chức cho học sinh làm việc và có thời gian để giải quyết các vấn đề của riêng mình hay của nhóm, sau đó các học sinh sẽ trình bày kết quả của mình trên bảng và chứng minh giả thuyết của mình. Giáo viên tổng kết lại bài học để giúp học sinh thấy được những gì là quan trọng. Việc tổng kết bài học có thể trình bày trên bảng để đến cuối giờ học sinh có thể thấy được những nội dung kiến thức đã được trình bày và giúp học sinh dễ dàng ghi chép những gì quan trọng của bài học. Khi tiến hành nghiên cứu bài học, giáo viên cần chú ý: + Những gì giáo viên muốn học sinh lĩnh hội được sau khi kết thúc bài học? + Làm thế nào để tất cả học sinh trong lớp đều tham gia vào bài học? + Các câu hỏi nào sẽ được sử dụng để kiểm tra, đánh giá học sinh? + Làm thế nào để học sinh suy nghĩ và trả lời theo những dự đoán của mình? + Làm thế nào để khi kết thúc bài học, học sinh hiểu được ý nghĩa của bài học đó? 2.4. Phát triển năng lực hợp tác, hoạt động theo nhóm Trong các lớp học truyền thống ở Việt Nam, hình thức dạy học phổ biến là một GV chuẩn bị bài học và tiến hành dạy ở một số lớp, trong khi quá trình NCBH lại đòi hỏi một nhóm GV hợp tác cùng nhau trong tất cả các khâu từ lựa chọn bài học, xây dựng kế hoạch, quan sát giờ học, phân tích và sửa kết quả, thậm chí quá trình trên còn lặp lại nhiều lần. Hiếm khi chúng ta thấy các GV chia sẻ kinh nghiệm giảng dạy hoặc nội dung kiến thức với đồng nghiệp trong các buổi họp tổ chuyên môn. Sau khi giảng dạy, tất cả mọi hoạt động giảng dạy đều là độc lập, mang tính cá nhân và GV đó được coi là bậc thầy duy nhất của lớp học. Bất cứ điều gì xảy ra trong lớp học đều đóng lại, chỉ giới hạn giữa GV giảng 73 Nguyễn Mậu Đức, Hoàng Thị Chiên, Trần Trung Ninh dạy và HS của mình. Mặc dù vẫn có một số GV chia sẻ và thảo luận với nhau về những vấn đề giảng dạy của bản thân hoặc thậm chí nâng cao nội dung kiến thức của riêng mình với các đồng nghiệp, nhưng họ vẫn ngại và nhút nhát khi làm điều đó. Do đó cho thấy cần thiết phải thúc đẩy một nền văn hóa hợp tác, chia sẻ, hỗ trợ liên tục cho nhau giữa các GV trong các trường học. Có lẽ ban đầu một số GV sẽ bỡ ngỡ và cho rằng mô hình này tốn rất nhiều thời gian nhưng sau khi hợp tác trong một chu kì NCBH chuyên môn của họ được phát triển, họ cảm thấy hài lòng với những tiến bộ rõ rệt mà nó mang lại và không có gì ngạc nhiên về kết quả này. Từ đó, các GV sẽ nhiệt tình tham gia bởi nhiều lúc, họ cũng muốn chia sẻ cùng với đồng nghiệp của mình về nội dung, kiến thức, phương pháp dạy các bài học trong chương trình mà chưa có điều kiện thực hiện. Nghiên cứu bài học thúc đẩy, duy trì sự hợp tác giữa các giáo viên giúp phát triển kĩ năng làm việc nhóm. Việc này thu hẹp khoảng cách giữa các thành viên trong nhóm nghiên cứu và góp phần phát triển không khí hợp tác, đoàn kết trong nhà trường. Nghiên cứu bài học tạo ra cộng đồng học tập, văn hóa học tập và củng cố tình đồng nghiệp trong nhà trường. Sau khi nghiên cứu bài học, các giáo viên viết báo cáo chia sẻ những kinh nghiệm họ thu được qua quá trình nghiên cứu bài học, đưa ra một kế hoạch bài học chi tiết để các nhóm giáo viên khác có thể tham khảo và phát triển nó vào thực tế việc dạy và học tại lớp mình, hoặc họ có thể thành lập một nhóm nghiên cứu bài học và dựa trên thành quả nghiên cứu của những người đi trước, tiếp tục nghiên cứu để phát triển bài học sâu hơn. Một khi kết quả của quá trình nghiên cứu bài học được chia sẻ, kết quả và những kinh nghiệm đó không còn bó hẹp ở phạm vi nhóm nghiên cứu nữa mà thông qua sách báo, internet, nó sẽ được các giáo viên ở những nơi khác biết đến và đóng góp tích cực vào việc sửa nội dung chương trình, cải tiến phương pháp giảng dạy, qua đó nâng cao năng lực chuyên môn của giáo viên và chất lượng học của học sinh. Điều này rất có ý nghĩa với các giáo viên trẻ chưa thực sự có nhiều kinh nghiệm trong việc dạy học. 2.5. Vận dụng nghiên cứu bài học trong đào tạo giáo viên hóa học Từ năm 2010 Khoa Hóa học Trường Đại học sư phạm Hà Nội đã triển khai vận dụng NCBH cho sinh viên năm thứ 4. Đã có 3 đề tài khóa luận của sinh viên triển khai NCBH ở các trường THPT ở Nam Định và Hà Nội đã bảo vệ thành công. Hoạt động NCBH đã góp phần nâng cao chất lượng thực tập sư phạm của nhóm sinh viên gồm Lê Vân Anh, Hoàng Thị Thu Hương và Trần Thị Kim Cúc. Năm 2011, sinh viên Khiếu Mạnh Cường ở lớp chất lượng cao K59 đã tiếp tục đề tài NCBH ở Trường chuyên của Đại học Sư phạm Hà Nội. Nhóm sinh viên đã vận dụng NCBH trong hai đợt thực tập sư phạm năm thứ 3 và năm thứ 4 theo đúng quy trình. Các giờ học nghiên cứu đã được ghi hình, phân tích và rút kính nghiệm qua việc xem lại video giờ dạy. Kết quả vận dụng NCBH cần được mở rộng hơn để đảm bảo tính tin cậy và mức độ ảnh hưởng của nghiên cứu. 3. Kết luận Trong quá trình NCBH, nhóm GV sẽ cùng nhau xây dựng kế hoạch bài học, tổ chức quan sát giờ dạy của nhau, cùng chia sẻ, trao đổi với nhau về những điều quan sát được 74 Phát triển một số năng lực nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên thông qua... trong giờ học và đưa ra nhận xét về tác động của những lời giảng giải, các câu hỏi, các nhiệm vụ mà GV đưa ra cho HS,...cùng nhau rút kinh nghiệm và điều chỉnh kế hoạch bài học, nội dung và phương pháp dạy học,...để bài học được thực hiện ở các lớp khác tốt hơn. Vì thế, trong NCBH các GV sẽ hợp tác cùng nhau thu thập nội dung kiến thức bài học (từ sách giáo khoa, sách tham khảo, báo chí, sách GV, internet,. . . ) và xây dựng một kế hoạch chi tiết cho bài học. Họ sẽ cùng suy nghĩ xem trong bài học, HS có thể mắc sai lầm ở đâu? Gặp khó khăn ở điểm nào?... để có cách dạy cho phù hợp. Đồng thời, trong NCBH sẽ có những buổi làm việc của nhóm GV, những giờ dạy có nhiều người dự, những quan sát được thiết kế và thực hiện trong giờ học, những trao đổi sau giờ dạy. . . Các tác giả Lewis, C (2004)[4], Makoto Yoshida (2003) [5] cũng chỉ ra rằng quá trình GV cùng làm việc với nhau đó làm cho kiến thức về môn học, về phương pháp giảng dạy, kĩ năng hiểu và làm việc với HS của GV được tăng lên. Như vậy, NCBH có thể được xem là hình thức tự bồi dưỡng, phát triển nghề nghiệp của GV trong nhà trường và rất quan trọng trong quá trình đào tạo giáo viên. TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] Nguyễn Mậu Đức, Lê Huy Hoàng, 2012. Phương pháp bồi dưỡng chuyên môn nghịêp vụ cho giáo viên, sinh viên Sư phạm thông qua mô hình “Nghiên cứu bài học”. Tạp chí Giáo dục, số 293, tr 38-39. [2] A. Takahashi, et al., 2006.Deloping good mathematics practice through lesson study: A U.S. perspective. APEC-Tsukuba International Conference Japan. [3] Fernandez, C., Chokshi, S., Cannon, J., Yoshida, M. (In press). Learning about lesson study in the United States, In B. M. (Ed.), N
Tài liệu liên quan