Sự phát triển của Singapore dưới góc nhìn mật độ, khoảng cách và sự chia cắt

Như chúng ta đã biết trong ba khía cạnh phát triển vùng hay của một quốc gia bao gồm mật độ, khoảng cách và sự chia cắt . Do đó, muốn vùng hay quốc gia phát triển kinh tế thành công thì phải tạo điều kiện để phát triển và bên cạnh đó phải có những chính sách để cho vùng hay quốc gia được phát triển đồng đều hơn. Là một trong bốn con rồng Châu Á, Singapore đã nổi lên như một điểm sáng về kinh tế. Mặc dù chỉ là một quốc đỏa nhỏ và nghèo tài nguyên như Singapore đã có những chính sách phát triển kinh tế rất hiệu quả. Dựa trên cơ sở đó, nhóm muốn tìm hiểu về sự phát triển của quốc gia này dưới góc nhìn của ba khía cạnh mật độ, khoảng cách và sự chia cách, song song đó có những chính sách nào để dung hòa các yếu tố trên để có một Singapore phát triển như hiện nay.

ppt31 trang | Chia sẻ: tranhoai21 | Lượt xem: 1524 | Lượt tải: 3download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Sự phát triển của Singapore dưới góc nhìn mật độ, khoảng cách và sự chia cắt, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN TPHCM LỚP ĐỊA LÝ KINH TẾ VÙNG K30MÔN :CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN VÙNGBÀI TẬP GIỮA KỲGVHD : HỒ KIM THITS. TRƯƠNG THỊ KIM CHUYÊNSỰ PHÁT TRIỂN CỦA SINGAPORE DƯỚI GÓC NHÌN MẬT ĐỘ, KHOẢNG CÁCH VÀ SỰ CHIA CẮTDANH SÁCH NHÓM :PHÙNG THỊ THÙY DUNG 0956080024VŨ THÙY DƯƠNG 0956080028TRẦN THỊ HÀ 0956080038TRẦN THỊ PHƯỢNG HẰNG 0956080043NGUYỄN BẢO HỒ 0956080053NGUYỄN ĐỨC PHONG 0668146 (K27)Như chúng ta đã biết trong ba khía cạnh phát triển vùng hay của một quốc gia bao gồm mật độ, khoảng cách và sự chia cắt . Do đó, muốn vùng hay quốc gia phát triển kinh tế thành công thì phải tạo điều kiện để phát triển và bên cạnh đó phải có những chính sách để cho vùng hay quốc gia được phát triển đồng đều hơn. Là một trong bốn con rồng Châu Á, Singapore đã nổi lên như một điểm sáng về kinh tế. Mặc dù chỉ là một quốc đỏa nhỏ và nghèo tài nguyên như Singapore đã có những chính sách phát triển kinh tế rất hiệu quả. Dựa trên cơ sở đó, nhóm muốn tìm hiểu về sự phát triển của quốc gia này dưới góc nhìn của ba khía cạnh mật độ, khoảng cách và sự chia cách, song song đó có những chính sách nào để dung hòa các yếu tố trên để có một Singapore phát triển như hiện nay.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CứU Phương pháp thu thập tài liệu : chủ yếu thu thập tài liệu thứ cấp đó là các báo cáo, chuyên đề nghiên cứu, bài báo, tạp chí, số liệu thống kê.Phương pháp phân tích tổng hợp tài liệu. CHƯƠNG 1. GiỚI THIỆU CHUNG VỀ SINGAPOREKHÁI QUÁT VỀ VỊ TRÍTÌNH HÌNH CHÍNH TRỊKINH TẾVĂN HÓA XÃ HỘI CHƯƠNG 2. SỰ PHÁT TRIỂN CỦA SINGAPORE DƯỚI GÓC NHÌN MẬT ĐỘ, KHOẢNG CÁCH, SỰ CHIA CẮTMẬT ĐỘ1.1 MẬT ĐỘ DÂN SỐ1.2 MẬT ĐỘ KINH TẾKHOẢNG CÁCH2.1 CƠ SỞ HẠ TẦNG2.2 THỊ TRƯỜNG2.3 NGUỒN NHÂN LỰCSỰ CHIA CẮT – XÉT VỀ TÔN GIÁOCHƯƠNG 3. TÁC ĐỘNG CỦA CÁC CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA SINGAPORE3.1 CHÍNH SÁCH NHÀ Ở XÃ HỘI3.2 CHÍNH SÁCH NGUỒN NHÂN LỰC3.3 CHÍNH SÁCH HÒA HỢP VỀ TÔN GIÁOCHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ SINGAPORE1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VỊ TRÍ Singapore là một quốc đảo nhỏ bé với diện tích 647,5 km2. Nằm trong khu vực Đông Nam Á và trên tuyến đường giao thông quan trọng trong tuyến hàng hải từ Ấn Độ Dương sang Thái Bình Dương với eo biển Malaca tuyến hành lang vận tải quan trọng này tạo điều kiện vô cùng thuận lợi cho việc Singapore trở thành một hải cảng khổng lồ nơi trung chuyển hàng hóa của khu vực và của cả thế giới.2. TÌNH HÌNH CHÍNH TRỊ Nền kinh tế Singapore dựa vào hoạt động thương mại dịch vụ là chủ yếu . Cơ cấu kinh tế ngành của singapore năm 2011, nông nghiệp 0%, công nghiệp 27%, thương mại dịch vụ 73%.3 . Kinh tế singaporeMột quốc gia đa văn hóa và sắc tộc đó là điều đầu tiên khi nói về văn hóa của Singapore. Sự giao hòa của 4 nền văn hóa chính là văn hóa Mã lai, Ấn độ, Trung quốc và Châu Âu,. Sự chung sống hòa hợp giữa những nền văn hóa này với nhau làm cho Singapore trở thành một quốc gia an toàn hòa bình ổn định và đặc biệt thịnh vượng , là điểm đến lý tưởng của du khách cũng như doanh nhân, một xã hội rất ít tội phạm với mức sống cao , và được mệnh danh là một quốc đảo xanh của khu vực Châu Á.4 . Văn hóa xã hội CHƯƠNG 2. SỰ PHÁT TRIỂN CỦA SINGAPO DƯỚI GÓC NHÌN MẬT ĐỘ, KHOẢNG CÁCH VÀ SỰ CHIA CẮT.MẬT ĐỘ 1.1 MẬT ĐỘ DÂN SỐ Ở Singapore mức độ tập trung dân số cao và mật độ dân số đô thị chiếm 100% dân số. Theo số liệu năm 2010 thì mật độ dân số của Singapore xấp xĩ 151 của thế giới và xếp thứ 2 trên thế giới ( mật độ dân số của thế giới là 48 người / km2). Song , do mức độ tập trung dân số cao ở khu vực đô thị điều đó đặt ra nhiều thách thức cho vấn đề quy hoạch các chính sách phát triển bởi những vấn đề xã hội như vấn đề nhà ở , an ninh xã hội, 7.252Người/km26.0515.4794.2753.9513.3783.0032.540Biểu đồ 1. Mật độ dân số singapore từ năm 1961-2010Nguồn: Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp và Ngân hàng Thế giới ước lượng dân số.-năm 2010Mức độ tập trung các hoạt động kinh tế cao hơn so với các nước trong khu vực và nằm trong top những nền kinh tế phát triển hàng đầu trên thế giới.Thông qua quá trình phát triển của singapore cho thấy mức độ tập trung các hoạt động kinh tế ngày càng tăng. Singapore có cơ sở hạ tầng và một số ngành công nghiệp phát triển cao hàng đầu Châu Á và thế giới như: cảng biển, công nghiệp đóng và sửa chữa tàu, công nghiệp lọc dầu, chế biến, điện tử và lắp ráp máy móc tinh vi. Singapore có 12 khu vực công nghiệp lớn, trong đó lớn nhất là Khu công nghiệp Du-rông (Jurong). Singapore là nước hàng đầu về sản xuất ổ đĩa máy tính điện tử và hàng bán dẫn. Singapore còn là trung tâm lọc dầu và vận chuyển quá cảnh hàng đầu ở Châu Á.Đơn vị đo lương hiệu quả hoạt động kinh tế được thể hiện qua:1.2 Mật độ kinh tếBiểu đồ cơ cấu GDP của Singapore năm 2010Nguồn : Bài báo cáo quan hệ hợp tác Việt Nam – Singapore , phòng thương mại công nghiệp Việt Nam, 7-2010. Bên cạnh sự phát triển kinh tế và việc tập trung dân số cao thì mật độ về xã hội ở Singapore cũng rất phát triển như chỉ số HDI, công bằng xã hội, an ninh, môi trường sống ,. Nguồn : 2011 Report Environmental degradation stunts people's capabilities in many ways, going beyond incomes and livelihoods to include impacts on health, education and other dimensions of well–being.- United nations develepment programme.0.8010.8350.8640.6340.6600.6792. Khoảng cách 2.1 Cơ sở hạ tầng Singapore có một mạng lưới đường bộ rộng rãi và khối lượng vận chuyển hệ thống hiện đại . Cơ sở hạ tầng giao thông phát triển với nhiều loại giao thông công cộng nổi bật nhất là xe bus và tàu điện ngầm khá phát triển ( hệ thống MRT) . Việc sử dụng các loại hình giao thông công cộng chiếm đến 70% trong việc lưu thông của người dân Singapore chính vì điều này , hệ thống giao thông của Singapore rất hiện đại và văn minh. Cảng biển sâu ( cảng trung chuyển quốc tế Singapore) và sân bay được xếp hạng tròn số các tiện nghi tốt nhất trên thế giới.Hệ thống viễn thông phát triển . Việc sử dụng kỹ thuật số và công nghệ hiện đại nhất Một cơ sở hạ tầng tích hợp và hiệu quả ( điện , nước , đường giao thông) cho phép các công ty quốc tế để di chuyển và thiết lập một cách dễ dàng.2.2 Thị trường Singapore nằm giao nhau của con đường huyết mạch chính vận chuyển hàng hóa giữa Ấn Độ Dương, Thái Bình Dương và eo biển Malacca , có nhiều eo biển thuận lợi cho việc neo đậu các thuyền bè Khoảng cách thị trường thuận lợi để Singapore phát triển thành một trung tâm quan trọng trong các lĩnh vực thương mại viễn thông , du lịch. Singapore nối Malaysia bởi 2 cây cầu vượt và những hòn đảo nhỏ thuộc quần đảo Riau của Indonexia và chỉ cách quốc gia này bởi một chuyến tàu cao tốc . Với một hệ thống cơ sở hạ tầng hiện đại và phát triển . Singapore có 1 phi trường lớn phục vụ được hơn 69 hãng hàng không. Song song đó là hệ thống giao thông và cảng biển trung chuyển quốc tế Singapore . Cho nên khoảng cách tiếp cận và khả năng kết nối của quốc gia này so với những quốc gia xung quanh khá dễ dàng. Singapore là một quốc gia mở cửa , cho nên khoảng cách đến thị trường toàn cầu rất quan trọng . Singapore có nền kinh tế phát triển và thị trường hoàn toàn tự do , môi trường kinh doanh lành mạnh, không có hối lộ, giá cả ổn định . Vì thế việc thu hút đầu tư tù nước ngoài và việc sử dụng các tiềm lực bên trong quốc gia , là một trong những nhân tố quyết định quan trọng của nền kinh tế Singapore .Bảng xếp hạng môi trường kinh doanh các nước khu vực châu ÁNguồn : BMI – Quí I/ 20102.3 Nguồn nhân lực Singapore hầu như không có tài nguyên cho nên nguồn nhân lực được xem là một dạng tài nguyên đặc biệt để phát triển kinh tế- xã hội . Lao đông của Singapore tập trung chủ yếu trong lĩnh vực dịch vụ và công nghiệp. Lực lượng lao động của Singapore có trình độ chuyên môn kỹ thuật caoBiểu đồ 2. phân bổ lao động theo ngành năm 2010Nguồn : Bài báo cáo quan hệ hợp tác Việt Nam – Singapore , phòng thương mại công nghiệp Việt Nam, 7-2010.3 . Sự chia cắt Singapore là một quốc gia đa sắc tộc, ngôn ngữ, tôn giáo, trong đó đông nhất là người Hoa với khoảng 76,3%, người Mã Lai chiếm 15%, rồi đến người Ấn Độ chiếm 6,4%. Ngoài ra còn có người châu Âu, Nhật Bản, Arập, Do Thái, Nepal, Phillipines vàMyanmar (năm 2010).Chính vì vậy chính phủ phải điều phối chính sách tôn giáo phù hợp làm cho tôn giáo đoàn kết, hòa hợp, không xảy ra xung đột trong nhiều năm qua nhằm tránh sự xung đột trong quốc gia.Hình. Tôn giáo của các nhóm dân tộc ở Singapore năm 2010Văn hóa Tết ở SingaporeLễ hội Thaipusan - Ấn độVăn hóa MalaysiaNhìn chung , ở Singapore có ít sự chia cắt :Thể chế chính trị thống nhất.Hệ thống cơ sở hạ tầng có khả năng kết nối tốtCó các chính sách quản lý và phát triển tốt.CHƯƠNG 3. TÁC ĐỘNG CỦA CÁC CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA SINGAPORE3.1 Chính sách nhà ở xã hội Những khu ổ chuột hồi năm 1960 Bối cảnh :Trước những năm 1960, dân số Singapore mới có khoảng 1,6 triệu người nhưng có tới 70% hộ gia đình sống trong những khu nhà xuống cấp, mất vệ sinh; 1/4 dân số sống ở các khu nhà ổ chuột và 1/3 sống trong các khu nhà tự phát ven thành phố. Để tạo nơi ăn chốn ở cho người dân.Bắt đầu từ năm 1960, Chính phủ bắt tay thực hiện chính sách mọi người đều phải có nhà ở. Nội dung chính sách : Năm 1964, thành lập Ủy ban Phát triển nhà ở (HDB), có nhiệm vụ giải phóng mặt bằng tạo quỹ đất sạch; tái định cư, quy hoạch các khu phố mới; thiết kế, xây dựng và phân phối các căn hộ; trợ cấp và cho vay đối với người mua nhà ở với giá phải chăng. Những người dân đóng góp vào CPF ( Quỹ tiết kiệm TW) được hỗ trợ mua nhà giá rẻ hơn hai lần, được vay tiền với lãi suất thấp hơn ngân hàng, thậm chí có thể bán căn hộ theo giá thị trường.Giai đoạn 1 (năm 1960-1970)Giai đoạn 2 (năm 1971-1980) Giai đoạn 3 (năm 1981-1991) Giai đoạn sau năm 1991 đến nay Thay đổi kì diệu Từ một nước đại đa số người dân sống trong các khu ổ chuột, khu định cư lụp xụp, nhếch nhác, đến nay 91% người dân Singapore sở hữu nhà, trong đó có tới 83% người dân được sở hữu nhà ở giá thấp. Và singpore ngày nay3.2 chính sách xây dựng nguồn nhân lực. a. Chính sách đào tạo lao động. Singapore là một quốc đảo nhỏ , ít tài nguyên thiên nhiên. Vì vậy để có một nền kinh tế phát triển cần tập trung nâng cao nguồn nhân lực nhằm phát huy tối đa tài năng của người lao động . Singapore đã liên tục đầu tư vào việc đào tạo cả một hệ thống thông qua con đường giáo dục lâu dài là trở thành “ Trung tâm giáo dục toàn cầu”. Mục tiêu của hệ thống giáo dục là phát triển tài năng của mỗi cá nhân để đóng góp cho nền kinh tế và phấn đấu để lao động singapore có tính cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Hệ thống các trường đại học ở Singapore bao gồm 3 trường đại học Quốc gia : trường Đại học Quốc gia Singapore ( NUS), Đại học công nghệ Nanyang( NTU), Đại học quản trị Singapore (SMU) và liên kết với các trường đại học nước ngoài như các trường đại học của Pháp, Thụy Sỹ, Đức, Trung Quốc,. Singapore coi trọng giáo dục con người, chú trọng đầu tư cho giáo dục đào tạo, phát triển kỹ năng con người. Phương pháp giáo dục của Singapore là “ dạy ít- học nhiều” kết hợp với các hoạt động ngoại khóa , giao lưu, kỹ năng sống, kỹ năng làm việc nhóm , cho nên người học sẽ được trang bj nhiều kỹ năng cần thiết khi bước vào thị trường lao động. Với chính sách giáo dục như vậy , Singapore đã tạo ra những lao động có trình độ lao động kỹ thuật cao, đạt được những tiêu chuẩn quốc tế.Hệ thống giáo dục Singaporeb. Chính sách thu hút lao động chất lượng cao.Theo cựu thủ tướng Lý Quang Diệu đã xác định rõ yếu tố nhân tài là yếu tố then chốt quyết định khả năng cạnh tranh và phát triển của nền kinh tế, chính vì thế mà trong những năm gần đây, thu hút nhân tài đặc biệt là nhân tài nước ngoài là chiến lược ưu tiên hàng đầu của singapore. Singapore xác định giáo dục là một kênh hữu hiệu thu hút du học sinh nước ngoài. Sinh viên nước ngoài có thể vay tiền để chi trả cho các chi phí cần thiết về sinh hoạt và học tập. Sau khi tốt nghiệp với kết quả học tập cao , những du học sinh này phải cam kết làm việc tại singapore ít nhất là 3 năm. Giáo dục Với cách làm này chính phủ Singapore luôn có nguồn lao động chất lượng cao, được bổ sung làm việc cho các công ty của singapore, song song , các trường đại học có động lực và được tạo điều kiện đầu tư và cải tiến hiện địa hóa trường học theo tiêu chuẩn quốc tế và yêu cầu của thị trường lao động Ưu tiên tuyển dụng lao động có kỹ năng dựa trên tiêu chí năng lực, khả năng đóng góp vào sự phát triển của đất nước , không phân biệt quốc tịch , chủng tộc của người nhập cư. Tuy nhiên , chính phủ singapore cũng hạn chế những lao động nước ngoài không có tay nghề . Nhằm thu hút và giữ chân lao động chất lượng cao, Bộ quản lý nguồn nhân lực Singapore đã áp dụng quy luật “ Giấy phép làm việc cá nhân (PEP)- năm 2008” Tạo môi trường làm việc thuân lợi Môi trường làm việc ở Singapore rất thuận lợi và chuyên nghiệp . Với hệ thống cơ sở hạ tầng tốt và các tuyến giao thông trong thành phố và mạng lưới giao thông đến các quốc gia và các nước trong khu vực rất thuận lợi, các dịch vụ công cộng hành chính đơn giản và đều được tiến hành nhanh gọn. Thu hút nhân tài trong cơ quan nhà nước Thu hút nhân tài trong các cơ quan Nhà nước với mức lương cao và sự kính trọng của người dân . Sức hấp dẫn của chức vụ cao trong chính quyền singapore thu hút những lao động có năng lực thật sự. Mức lương cao và luật pháp nghiêm minh là hai nhân tố có hiệu lực nhất ngăn cản các nhà lãnh đạo không thể có động cơ tham nhũng.c. Chính sách sử dụng lao động3.3 Chính sách hòa hợp dân tộc Singapore là một xã hội di dân. Việc thông qua tín ngưỡng, tôn giáo từ nước gốc đem đến để duy trì một sợi dây liên kết văn hoá là điều rất tự nhiên. Do vậy, quan hệ giữa tôn giáo và sắc tộc ở Singapore khá mật thiết. Trong quá trình phát triển nền kinh tế và xã hội ở Singapore, điều kiện tồn tại của tôn giáo truyền thống đã biến đổi làm cho một mặt là tính khoan dung, tính nhân từ tôn giáo và sự coi trọng hoà bình yên ổn được phát triển và mặt khác là sự bất đồng giữa các tôn giáo và các giáo phái về các vấn đề như giáo lý, giới luật, sự tranh chấp về tín đồđược kiềm chế. Chính phủ Singapore nhận thức rằng đa dạng về tôn giáo và dân tộc là tình hình cơ bản của Singapore, xử lý vấn đề tôn giáo phù hợp thì nhân dân các dân tộc sẽ đoàn kết, xã hội sẽ ổn định.Nội dung chính sách :  Singapore Nhà nước ban hành “Đạo luật duy trì sự hoà hợp giữa các tôn giáo” và xây dựng một chính sách hoà hợp giữa các tôn giáo, công dân theo tôn giáo bình đẳng về giá trị, trên cơ sở xây dựng một nhà nước thế tục, đa sắc tộc.Nhà nước khuyến khích các tôn giáo để chủ động giải quyết những vướng mắc giữa các tôn giáo, tạo mối quan hệ để phát triển, đoàn kết các tôn giáo và các tôn giáo cũng tham gia xây dựng phát triển đất nước.Tình hình thực tế tôn giáo ở quốc gia này nên Chính phủ Singapore đã có chính sách tôn giáo phù hợp làm cho tôn giáo đoàn kết, hòa hợp, không xảy ra xung đột trong nhiều năm qua.DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢOMột vài suy nghĩ về chính sách vùng ở Việt Nam nhìn từ cách tiếp cận của báo cáo thế giới năm 2009- TS. Trương Thị kim Chuyên- Trường đại học khoa học xã hội và nhân văn.TÔN GIÁO VÀ CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO CỦA SINGAPORE, Ban tôn giáo chính phủ, nghiệm Singapore, Thứ sáu 17/04/2009 09:17, Báo An Ninh Thủ Đô , diệu nhà công ở Singapore, ASCI Tư vấn du học toàn cầu, sách nguồn nhân lực của Singapore,  .Chiến lược phát triển kinh tế bền vững của Singapore, Kiều Tỉnh, Tầm nhìn.net, Báo kinh tế doanh nhân thời đại, ững nước đông đúc và thưa thớt nhất thế giới, Thứ Sáu, 19/03/2010 - 09:32, học thành công của Singapore, Henri Ghesquiere, người dịch Phạm văn Nga, Phạm Hồng Đức,2008.