Thử nghiệm vận dụng chu trình Kolb vào dạy học môn Thiên văn học đại cương tại trường Đại học Sài Gòn

TÓM TẮT Thiên văn học là ngành khoa học nghiên cứu chuyển động của các thiên thể, bản chất và sự tiến hóa của vật chất trong vũ trụ. Vì thế, dạy Thiên văn học cần thiết phải có phương tiện hỗ trợ dạy học hiện đại cùng với phương pháp, mô hình dạy học thích hợp. Đề tài này được thực hiện nhằm giới thiệu chu trình Kolb trong phương pháp dạy học hiện đại và cách thức áp dụng nó thông qua việc xây dựng các bài giảng tiêu biểu trong môn Thiên văn học đại cương. Chúng tôi nhận ra rằng, bài giảng nào có vận dụng chu trình Kolb theo đúng trình tự của chu trình (Kinh nghiệm-Tư duy-Học-Áp dụng) đã làm tăng sự logic tư duy, sự khai thác tư duy, sự chủ động của SV, từ đó tăng hiệu quả tiếp thu của SV, hiệu quả bài giảng của thầy cũng được nâng cao hơn so với khi không dùng chu trình Kolb

pdf7 trang | Chia sẻ: thanhle95 | Lượt xem: 487 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Thử nghiệm vận dụng chu trình Kolb vào dạy học môn Thiên văn học đại cương tại trường Đại học Sài Gòn, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
TAÏP CHÍ KHOA HOÏC ÑAÏI HOÏC SAØI GOØN Soá 25 - Thaùng 12/2014 36 THỬ NGHIỆM VẬN DỤNG CHU TRÌNH KOLB VÀO DẠY HỌC MÔN THIÊN VĂN HỌC ĐẠI CƯƠNG TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN VÕ THÀNH LÂM (*) TÓM TẮT Thiên văn học là ngành khoa học nghiên cứu chuyển động của các thiên thể, bản chất và sự tiến hóa của vật chất trong vũ trụ. Vì thế, dạy Thiên văn học cần thiết phải có phương tiện hỗ trợ dạy học hiện đại cùng với phương pháp, mô hình dạy học thích hợp. Đề tài này được thực hiện nhằm giới thiệu chu trình Kolb trong phương pháp dạy học hiện đại và cách thức áp dụng nó thông qua việc xây dựng các bài giảng tiêu biểu trong môn Thiên văn học đại cương. Chúng tôi nhận ra rằng, bài giảng nào có vận dụng chu trình Kolb theo đúng trình tự của chu trình (Kinh nghiệm-Tư duy-Học-Áp dụng) đã làm tăng sự logic tư duy, sự khai thác tư duy, sự chủ động của SV, từ đó tăng hiệu quả tiếp thu của SV, hiệu quả bài giảng của thầy cũng được nâng cao hơn so với khi không dùng chu trình Kolb. Từ khóa: chu trình Kolb, phương pháp dạy học hiện đại ABSTRACT Astronomy concerns the motions of celestial bodies, and the nature and evolution of matter in the Universe. Hence, it is necessary that modern study means and appropriate teaching models are applied. This subject is implemented to introduce about Kolb cycle in modern Teaching and Learning method, and about how to use it through typical lectures in general astronomy. We realized that, the lecture applied with Kolb cycle and the correct order of Kolb cycle (Experiences-Reflection-Learn-Application) has intensified logical thoughts, thought analysis, students’ proactiveness, and thus promote the efficacy of study. The efficacy of teaching is also increased in comparison with the teaching without Kolb cycle application. Keywords: Kolb cycle, modern Teaching and Learning method 1. GIỚI THIỆU TÓM TẮT CHU TRÌNH KOLB (*) David Kolb là Giáo sư về Phát triển tổ chức tại trường Đại học CaseWestern Reserve, Cleveland, Ohio (Hoa kỳ). Năm 1984, ông đề xuất lý thuyết học tập dựa trên kinh nghiệm (Experiential learning (*)TS, Trường Đại học Sài Gòn theory - ELT), lý thuyết này được xem như một mô hình học tập trải nghiệm (Experiential Learning Model - ELM) hay một chu trình - chu trình Kolb. 1.1. Chu trình Kolb Chu trình Kolb gồm 4 quá trình cơ bản theo thứ tự nhất định được mô tả khái quát như sơ đồ dưới đây: 37 Ở góc độ nghiên cứu của mình, chúng tôi sẽ cụ thể hóa việc áp dụng, vận dụng chu trình Kolb theo các nội dung chính dưới đây. Trong quá trình thực hiện một bài giảng, nếu ta tiến hành theo phương thức và các bước như sau :  Với kiến thức, kinh nghiệm đã có của sinh viên (SV), Thầy giáo nêu vấn đề của bài học mới hoặc làm thí nghiệm (TN) đối với môn Vật lý, Hóa, Sinh. Đây là quá trình: Làm (Experience or Do)  Thầy hướng dẫn SV suy nghĩ, thảo luận, hoặc làm TN giải quyết vấn đề: Đây là quá trình: Tư duy (Reflection)  Trò tự đọc tài liệu, SGK tại chỗ để rút ra kết luận bài học dưới sự định hướng của thầy. Đây là quá trình: Học (Learn)  Thầy đặt câu hỏi (hoặc TN) mới và yêu cầu SV áp dụng kiến thức vừa học để giải quyết. Đây là quá trình: Áp dụng (Apply) Các quá trình trên là một chuổi liên tiếp nhau: Nên ta cũng có thể xem như một chu trình 38 - Quá trình 1: Kinh nghiệm (Experiment or Do) Người học với kiến thức sẵn có hoặc đã đọc tài liệu về chủ đề đang học tập, hoặc đã làm thử theo hướng dẫn của một số bài giới thiệu về chủ đề cần học. Do đó sẽ tạo ra một số kinh nghiệm nhất định cho người học. Theo chu trình Kolb, đó mới chỉ là sự bắt đầu. - Quá trình 2: Tư duy (Reflection or Review) Quá trình tư duy hay quan sát có suy tưởng (Reflective Observation) là quá trình mà người học từ kinh nghiệm sẵn có, tự suy tưởng để xem vấn đề đặt ra đúng hay sai. Từ đó, họ rút ra được bài học bước đầu, học cái vừa tìm, cái mới, định hướng mới cho việc học tập tiếp theo hiệu quả hơn. - Quá trình 3: Học (Learn) Tiếp sau quá trình 2, người học khái quát hóa các kinh nghiệm vừa tiếp thu. Quá trình 3 là giai đoạn quan trọng để các kinh nghiệm được chuyển đổi thành “tri thức”. Trong quá trình này, các kinh nghiệm được nâng cao, phát triển và kết quả là người học đã học được vấn đề đặt ra hoặc thực hiện được kế hoạch cho các hoạt động tiếp theo trong thời gian tới. - Quá trình 4: Thử nghiệm (hay áp dụng- Apply) Ở quá trình 3, người học đã có kết luận được rút ra từ thực tiễn, bài học, thí nghiệm,... Kết luận này sẽ đưa vào thực tiễn để kiểm nghiệm xem có đúng hay không, hoặc áp dụng kết luận đó vào thực tiễn mới thông qua việc áp dụng giải bài tập, làm thí nghiệm mới trên cơ sở kiến thức thu được từ quá trình 3. 1.2. Sự vận hành và biến hóa của chu trình Kolb Chu trình Kolb là phong phú, đa dạng và có hướng mở. Dưới đây là một vài sự vận hành và biến hóa của chu trình Kolb Một tiết dạy, hay một đợt tập huấn ngắn hạn hoặc một bài thực hành thí nghiệm ngắn: Bắt đầu từ kinh nghiệm, đến tư duy, đến học, đến áp dụng rồi chấm dứt chu trình. Hoặc tiết dạy nhiều nội dung hoặc một bài thực hành thí nghiệm lớn: Bắt đầu từ kinh nghiệm, đến tư duy, đến học, đến áp dụng rồi tiếp tục chu trình lần thứ hai. 1.3. Những ưu điểm của chu trình Kolb Ưu điểm 1: Các quá trình có thể có sự vận hành riêng tùy vào môn học mà người ta chú trọng quá trình nào trong 4 quá trình để khai thác kỹ hơn. Đồng thời với sự vận động của chu trình còn có sự vận động riêng của từng quá trình theo trình tự chu trình. 39 Sự vận động của các quá trình trong chu trình Kolb Ưu điểm 2: Chu trình Kolb có thể linh động theo kiểu xoáy trôn ốc tùy vào môn học, khóa học theo cách một lần hay nhiều lần Ưu điểm 3: Ưu điểm của từng quá trình, trong đó quá trình Tư duy (Reflection) hầu hết được chú trọng trong giảng dạy các môn khoa học (science) tại các nước tân tiến Anh, Mỹ,. Chu trình được sử dụng cho cả thầy lẫn trò. Đối với thầy, vận dụng chu trình cho việc thiết kế bài giảng, tập huấn ngắn hạn, trung hạn, khóa học chuyên đề,; đối với trò, chu trình hỗ trợ cho việc lên kế hoạch chương trình học của mình. Kolb cũng chỉ ra rằng, trình tự các quá trình trong chu trình là cần thiết, nhưng không nhất thiết phải bắt đầu từ một quá trình nào nhất định. 2. KHẢ NĂNG VẬN DỤNG CHU TRÌNH KOLB VÀO MÔN THIÊN VĂN HỌC ĐẠI CƯƠNG TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN 2.1. Đặc điểm của việc dạy và học môn Thiên văn học đại cương - Cần điều kiện tiên quyết: Học trước các môn Vật lý đại cương, Cơ lý thuyết, - Cần nhiều hình ảnh minh họa: hình tĩnh, động, mô phỏng thông qua sử dụng đĩa CD, DVD, video, internet, máy vi tính, projector - Môn thiên văn nghiên cứu về tự nhiên về vật chất, thiên thể và sự vận hành biến hóa của hệ Mặt trời, các sao, thiên hà và vũ trụ. Vì thế học và tìm hiểu thiên văn giúp ta hiểu biết nhiều hơn những khám phá mới về tự nhiên, không gian vũ trụ. - Là thú vị, vì một số chương có bài tập, kiến thức người học càng được củng cố minh họa cho những môn học khác; SV có thể đóng vai của người làm công tác thiên văn để tính toán, suy đoán, dự đoán về quá khứ hiện tại và tương lai. 2.2. Đặc điểm của sinh viên - Sinh viên hiếu động, ham tìm hiểu, thích sưu tầm về tự nhiên, thiên văn, vũ trụ. - Sinh viên có thể tự sưu tầm các tài liệu sách giáo khoa, tài liệu kỹ thuật số, mạng internet - Sinh viên có thể đọc và tham khảo được tài liệu bằng tiếng Anh nếu có sự hướng dẫn và cung cấp thuật ngữ chuyên 40 ngành thích hợp. 2.3. Điều kiện về cơ sở vật chất Trường Đại học Sài Gòn có đủ máy chiếu projector, âm thanh ở các phòng học, và Wi-Fi. 3. PHƯƠNG ÁN VẬN DỤNG CHU TRÌNH KOLB VÀO MÔN THIÊN VĂN HỌC ĐẠI CƯƠNG TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN 3.1. Vận dụng chu trình Kolb trong các bài dạy môn Thiên văn học đại cương - Chúng tôi thực hiện bài giảng theo chủ đề của các chương trong giáo trình Thiên văn học đại cương hiện hành, bao gồm: Sao Chổi, Hệ Mặt trời, Thiên hà, vũ trụ học,... - Đối tượng: SV đại học chính quy ngành SP Vật Lý. - Phương tiện sử dụng: Máy vi tính, đĩa CD, VCD, DVD, đèn chiếu projector, bảng trắng ghi thẳng trên màn hình đang chiếu, phiếu. - Cách thức vận dụng chu trình Kolb trong các bài giảng: Bước 1: Chiếu hình tĩnh, động của bài giảng cho sinh viên xem (Từ kiến thức sẵn có, SV quan sát, nhận định: Thực hiện quá trình 1- Kinh nghiệm) Bước 2: Đặt vấn đề, yêu cầu của bài giảng, SV trao đổi thảo luận nhóm để tìm câu trả lời đúng nhất (Thực hiện quá trình 2- Tư duy) Bước 3: Chiếu hình bổ sung hoặc cho đọc tài liệu nhanh tại chỗ, thu phiếu trả lời của SV. Thầy gợi ý và định hướng cho SV tìm được kết quả (kiến thức) đúng nhất của nội dung bài giảng (Thực hiện quá trình 3- Học) Bước 4: Thầy cho SV làm bài tập định tính, định lượng áp dụng nội dung vừa học (Thực hiện quá trình 4- Áp dụng) 3.2. Vận dụng chu trình Kolb thông qua các seminar của sinh viên Cho sinh viên phân nhóm, tự soạn, tự thuyết trình, nhằm mục đích thực hiện chu kỳ 2 của chu trình Kolb (chu kỳ 1 Thầy dạy, vận dụng Kolb ở 2 điểm: trình tự, và sự vận động của quá trình tư duy,...Chu kỳ 2: Trò seminar-thực hiện vòng 2 theo trình tự đó nhưng khối lượng kiến thức cao, nhiều hơn) - Mục đích: + Thầy dạy theo chu trình Kolb, sinh viên học. Kết quả: Sinh viên hiểu chu trình Kolb, thông qua thực hiện các nhiệm vụ theo chu trình Kolb, sinh viên hiểu tốt bài giảng. + Sinh viên tự mình thực hiện các nhiệm vụ theo chu trình Kolb trong seminar + Cả chu kỳ 1,2 liền kề nhau trong 1 môn học đã nói lên tính tích cực, “biến hóa” của chu trình Kolb vì chu kỳ 2 sẽ nâng cao hơn về số lượng, khối lượng kiến thức cho người học. - Các chủ đề sinh viên thực hiện seminar: Dưới đây là một trong số các chủ đề do nhóm SV chọn hoặc tự lập chủ đề theo đề cương môn học và giáo trình hiện hành + Sao- Mặt Trời + Thiên cầu- Nhật động + Lượng giác cầu + Quy luật chuyển động của các thiên thể + Bốn mùa- Thời gian – Lịch - Tiến trình thực hiện chu trình Kolb theo chủ đề: +Chu kỳ 1: Thầy thuyết giảng có vận dụng chu trình Kolb 4 quá trình. +Chu kỳ 2: Trò seminar theo trình tự: o Quá trình 1: SV thuyết trình (20 phút) 41 o Quá trình 2: Thầy và bạn học đặt câu hỏi cho nhóm thuyết trình, thảo luận, trả lời có định hướng của thầy. o Quá trình 3: SV hệ thống các kiến thức chính của bài thông qua các câu trả lời, nêu bật nội dung chính và minh chứng các nội dung, công thức tính toán nếu có. Đây là quá trình học của cả tập thể lớp. o Quá trình 4: Nhóm vận dụng kiến thức để giải thích và giải bài tập định tính, định lượng. Thầy bổ sung kết luận cho hoàn chỉnh. Hai chu kỳ trên, được mô tả bằng sơ đồ dưới đây: Màu đen (đứt nét) là chu kỳ 1, màu đỏ (liền nét) là chu kỳ 2. Chu trình Kolb 2 chu kỳ 3.3. Kết quả đạt được Thầy giảng ít, sử dụng ngôn ngữ hình ảnh gây hứng thú cho SV (quá trình kinh nghiệm) và nêu vấn đề đã giúp SV phát huy được tính tích cực học tập, chủ động chiếm lĩnh kiến thức (quá trình tư duy). Sau quá trình học, SV được áp dụng ngay và nhờ đó SV tự tin hơn. Sự vận dụng chu trình Kolb đã làm nổi bật thêm tính logic, tính thuyết phục, tính khoa học, đáp ứng được tương đối trọn vẹn quy trình kế thừa kiến thức sẵn có thông qua Hành (thí nghiệm, làm,) rồi suy nghĩ, tư duy để hiểu và Học một cách chủ động, rồi từ đó người học sẽ vận dụng, áp dụng các kiến thức học mới đó hiệu quả hơn và vì thế khả năng chủ động sáng tạo cao hơn. Trong chu trình đó vai trò của người học là trung tâm, chủ động khai thác khả năng tư duy của mình đúng logic, đúng hướng hơn, vì thế khả năng Học- Hành của người học được tự phát huy cao nhất có thể. 4. KẾT LUẬN Các kết quả từ thử nghiệm qua các bài dạy bằng các phương pháp, phương thức khác nhau có áp dụng chu trình Kolb đã cho thấy bài giảng nào có áp dụng chu trình Kolb đã làm tăng sự logic tư duy, sự khai thác tư duy, sự tích cực, chủ động của SV (vận động của quá trình: Tư duy,), đồng thời theo đúng trình tự của chu trình (vận động của chu trình: Kinh nghiệm-Tư duy-Học-Áp dụng) đã làm tăng tính thuyết 42 phục, tăng số lượng, chất lượng tiếp thu kiến thức của SV, từ đó tăng hiệu quả tiếp thu của SV, hiệu quả bài giảng của Thầy cũng được nâng cao hơn so với khi không dùng “Chu trình Kolb”. Kết quả seminar của SV đã thêm một bằng chứng khác về tính hiệu quả của vận dụng chu trình, đó là SV học chu trình, hiểu và áp dụng được chu trình. Trên quan điểm tiếp thu và duy trì những cái hay của phương pháp dạy học truyền thống, đồng thời kết hợp với phương tiện dạy học thông thường, hiện đại, cùng với việc vận dụng chu trình Kolb theo một cấu trúc mới nhằm làm phong phú hóa, tích cực hóa việc dạy học lấy người học làm trung tâm, góp phần cập nhật kiến thức và nâng cao hiệu quả giảng dạy theo hướng đổi mới trong Chỉ thị số 32 của Bộ GD và ĐT năm 2006 và Nghị quyết Đại hội Đảng XI. Chu trình Kolb có thể vận dụng cho một số môn học thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học xã hội ở các cấp học khác nhau. Việc vận dụng chu trình Kolb phù hợp ở trường đại học sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động nghề nghiệp của giảng viên theo học chế tín chỉ hiện nay. TÀI LIỆU THAM KHẢO Tiếng Việt 1. Jacques Delors (20030, Học tập - Một kho báu tiềm ẩn, Nxb Giáo Dục. 2. Trần Bá Hoành cùng nhóm tác giả (2002), Áp dụng dạy và học tích cực trong môn Vật lý, Nxb ĐHSP HN. 3. Wilbert J. McKeachie (2002), Những thủ thuật trong dạy học, nguồn tài liệu Dự án Việt, Bỉ. Tiếng Anh 4. Geoffrey Petty (1998), Teaching Today, Stanley Thornes Ltd- United Kingdom. 5. Katy Salisbury (2003), Vietnam Subject Specialist Trainer Training Course, University of St Mark & St John, Erriford Road- Plymouth Devon, PL8 8BH, England. 6. Kolb, D. A. (1984), Experiential Learning, London: Prentice Hall. 7. Kolb D. (2011), Experiential learning: experience as the source of learning and development. Prentice Hall. 2011. Internet 8. en.wikipedia.org/wiki/David_A._Kolb 9. www.academia.edu/4173058/Kolb 10. www.learning-theories.com/experiential-learning-kolb.html. *Ngày nhận bài: 3/10/2014. Biên tập xong: 1/12/2014. Duyệt đăng: 6/12/2014