Thực trạng về tổ chức dạy và học tiếng Anh tại trường Đại học Xây dựng miền Trung – Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo

Tóm tắt Trong bối cảnh toàn cầu hóa, năng lực giao tiếp ngoại ngữ đóng vai trò rất quan trọng để tuyển dụng nhân lực và là chìa khóa phát triển hội nhập. Trong đó tiếng Anh đã trở thành 1 ngôn ngữ chung được sử dụng trên rất nhiều quốc gia. Tiếng Anh ngày càng được sử dụng phổ biến trên thế giới, là công cụ giao tiếp phổ biến cho các hoạt động kinh tế chính trị, xã hội văn hoá giữa các quốc gia. Do vậy việc đào tạo tiếng Anh ở các trường Đại học ngày càng được quan tâm đáng kể. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi trình bày một số thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao năng lực tiếng Anh cho sinh viên tại Trường Đại học Xây dựng (ĐHXD) Miền Trung.

pdf6 trang | Chia sẻ: thanhle95 | Lượt xem: 91 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Thực trạng về tổ chức dạy và học tiếng Anh tại trường Đại học Xây dựng miền Trung – Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Thông báo Khoa học và Công nghệ Information of Science and Technology Số 1/2016 No. 1/2016 83 THỰC TRẠNG VỀ TỔ CHỨC DẠY VÀ HỌC TIẾNG ANH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG MIỀN TRUNG – MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO ThS. Nguyễn Thị Kim Cúc CN. Bùi Nguyên Tuân Trung tâm Ngoại Ngữ - Tin học, Trường Đại học Xây dựng Miền Trung Tóm tắt Trong bối cảnh toàn cầu hóa, năng lực giao tiếp ngoại ngữ đóng vai trò rất quan trọng để tuyển dụng nhân lực và là chìa khóa phát triển hội nhập. Trong đó tiếng Anh đã trở thành 1 ngôn ngữ chung được sử dụng trên rất nhiều quốc gia. Tiếng Anh ngày càng được sử dụng phổ biến trên thế giới, là công cụ giao tiếp phổ biến cho các hoạt động kinh tế chính trị, xã hội văn hoá giữa các quốc gia. Do vậy việc đào tạo tiếng Anh ở các trường Đại học ngày càng được quan tâm đáng kể. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi trình bày một số thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao năng lực tiếng Anh cho sinh viên tại Trường Đại học Xây dựng (ĐHXD) Miền Trung. Từ khóa thực trạng, học tiếng Anh, giải pháp, nâng cao chất lượng đào tạo, Trường ĐHXD Miền Trung 1. Mở đầu Giáo dục nói chung và giáo dục đại học Việt Nam nói riêng đang trong tiến trình hội nhập với khu vực và thế giới. Có thể khẳng định việc đào tạo nâng cao năng lực sử dụng ngoại ngữ, đặc biệt là nâng cao năng lực tiếng Anh cho cán bộ, giảng viên và sinh viên là ưu tiên hàng đầu. Ngày 30 tháng 9 năm 2008, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định 1400/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008-2020” với mục tiêu chung là “Đổi mới toàn diện việc dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân, triển khai chương trình dạy và học ngoại ngữ mới ở các cấp học, trình độ đào tạo, nhằm đến năm 2015 đạt được một bước tiến rõ rệt về trình độ, năng lực sử dụng ngoại ngữ của nguồn nhân lực, nhất là đối với một số lĩnh vực ưu tiên; đến năm 2020 đa số thanh niên Việt Nam tốt nghiệp trung cấp, cao đẳng và đại học có đủ năng lực ngoại ngữ sử dụng độc lập, tự tin trong giao tiếp, học tập, làm việc trong môi trường hội nhập, đa ngôn ngữ, đa văn hoá; biến ngoại ngữ trở thành thế mạnh của người dân Việt Nam, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.” 2. Thực trạng trong việc giảng dạy và học tiếng Anh ở trường Đại học Xây dựng Miền trung hiện nay 2.1 Phương pháp dạy học của giáo viên Trung tâm Ngoại ngữ tin học Trường Đại học Xây dựng (ĐHXD) Miền Trung hiện có 7 giảng viên (GV) tiếng Anh. Trong đó có 5 GV có trình độ thạc sĩ, có Thông báo Khoa học và Công nghệ Information of Science and Technology Số 1/2016 No. 1/2016 84 một giảng viên đang nghiên cứu sinh tại Đại học quốc gia Hà Nội. Nhìn chung đội ngũ GV có trình độ chuyên môn vững vàng, giàu kinh nghiệm và nhiệt tình giảng dạy và luôn tự trau dồi chuyên môn trong giảng dạy. Việc bồi dưỡng năng lực tiếng Anh được quan tâm đáng kể, nhiều giảng viên tiếng Anh được nhà trường cử đi đào tạo ở nước trong nước và nước ngoài hàng năm nên trình độ chuyên môn ngày càng được nâng cao và đáp ứng yêu cầu của nhà trường và xã hội. Tuy nhiên, phương pháp giảng dạy giao tiếp và trau dồi kỹ năng qua các bài tập tình huống có lẽ chưa được áp dụng triệt để. Trên lớp giáo viên còn giảng giải nhiều (teacher talk) thay vì vài trò người hướng dẫn (facilitator), dành nhiều thời giảng cấu trúc ngữ pháp, giải bài tập, đề kiểm tra, chưa tổ chức các hoạt động thực hành ngôn ngữ, khuyến khích, và động viên trải nghiệm thực tế. Giáo viên vẫn là trung tâm của quá trình giảng dạy, điều đó đồng nghĩa với việc sinh viên là đối tượng thụ động tiếp thu thông tin, họ chỉ làm theo những yêu cầu của giáo viên mà ít có sáng tạo trong việc sử dụng kiến thức mà họ đã tích lũy được. 2.2. Thái độ học tập và trình độ của sinh viên Phần lớn sinh viên của Trường ĐHXD Miền trung đến từ các tỉnh khu vực Miền Trung - Tây Nguyên. Môi trường học tập ngoại ngữ của sinh viên còn nhiều hạn chế, thói quen thụ động trong học ngoại ngữ đã hình thành từ bậc phổ thông đối với số đông sinh viên. Tính thụ động này còn thể hiện qua hiện tượng thường xuyên không chuẩn bị bài, và chưa biết chủ động trong học tập của nhiều sinh viên. Sinh viên chưa tìm ra động lực học tập cũng như phương pháp học thích hợp, nói cách khác, họ ngại học tiếng Anh và nhiều khi lảng tránh việc nghe nói tiếng Anh. Trình độ của sinh viên không đồng đều. Mặc dù đã học tiếng Anh nhiều năm ở trường phổ thông nhưng kỹ năng nghe nói tiếng Anh rất yếu, kết quả kiểm tra tiếng Anh đầu vào chỉ có khoảng 10% sinh viên đạt yêu cầu. Phần lớn sinh viên nhìn nhận ngoại ngữ là một môn học kiến thức chứ không phải là quá trình tập luyện để đạt được kỹ năng sử dụng ngôn ngữ trong những ngữ cảnh phù hợp. Hơn nữa, sinh viên cho rằng tiếng Anh không phải là môn chuyên ngành chỉ là môn điều kiện nên hầu hết sinh viên học đối phó và chỉ cần bài thi đạt yêu cầu là được. 2.3 Thời lượng và giáo trình giảng dạy Theo sự phân phối chương trình đào tạo dành cho sinh viên bậc đại học ở trường Đại học xây dựng Miền trung từ năm 2012 đến nay, tiếng Anh cơ bản gồm có 3 học phần trong đó học phần Anh văn 1 (2 tín chỉ), Anh văn 2 (2 tín chỉ), Anh văn 3 (2 tín chỉ) và tiếng Anh chuyên ngành ( 2 tín chỉ). Như vậy thời lượng học tiếng Anh của sinh viên trên lớp là 8 tín chỉ tương đương với 120 tiết. Tham dự các hội thảo khoa học “ Tổ chức dạy và học ngoại ngữ nhằm thúc đẩy và hỗ trợ người học đạt chuẩn khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo” và tại trường đại học Phú Yên ngày 14/05/2014 và hội thảo khoa học “Chuẩn đầu ra Ngoại ngữ của SV đại học, cao đẳng các tỉnh, thành phố Miền Trung –Tây Nguyên, Thực trạng và giải pháp” ngày 27 tháng 11 năm 2015 tại trường Đại học Quy Nhơn cho thấy rằng ở các trường đại học khác thời lượng đào tạo tiếng Anh cao hơn nhiều so với trường Đại học xây dựng Miền trung. Hầu hết thời lượng giảng dạy tiếng Anh ở các trường đại học từ 180 tiết trở lên tương đương với 12 tín chỉ. Như vậy, để giúp cho sinh viên đạt chuẩn bậc 3 theo khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dành cho Việt Nam là một thách thức lớn đối với đội ngũ giảng viên của trung tâm Ngoại ngữ Tin học Trường ĐHXD Miền Trung. 2.4. Cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học Lãnh đạo Nhà trường có quan tâm đến việc đầu tư cơ sở vật chất và trang Thông báo Khoa học và Công nghệ Information of Science and Technology Số 1/2016 No. 1/2016 85 thiết bị giảng dạy, máy chiếu để phục vụ giảng dạy, một phòng lab 30 máy dành cho sinh viên rèn luyện kỹ năng trong giờ học ngôn ngữ. Hơn nữa, trường cũng đã trang bị hệ thống thi kiểm tra trắc nghiệm trên máy tính và đã đưa vào sử dụng. Tuy nhiên, nhìn chung điều kiện cơ sở vật chất của Nhà trường vẫn còn hạn chế. Hầu hết, các phòng học tại trường chưa đạt chuẩn cho giờ học tiếng Anh, chưa trang bị loa, mirco. Mô hình lớp học được thiết lập chưa phù hợp đối với đặc thù giờ học tiếng Anh, lớp học còn quá đông, đa số hơn 50 sinh viên trên một lớp làm hạn chế hoạt động theo cặp nhóm, làm cho việc quản lý lớp của giáo viên gặp nhiều khó khăn. Internet đã được trang bị nhưng rất yếu, chưa được sử dụng hiệu quả cho hoạt động dạy và học của giảng viên và sinh viên trên lớp. III. Một số giải pháp góp phần nâng cao chất lượng đào tạo ở trường Đại học xây dựng Miền trung 3.1. Vai trò của giảng viên trong việc nâng cao chất lượng đào tạo trong nhà trường. Giảng viên cần xây dựng động cơ học tập cho sinh viên, phân tích cụ thể mục đích của môn học và tầm quan trọng của việc tiếng Anh. Trên lớp giảng viên cần phát huy vai trò là hướng dẫn viên, và hỗ trợ khi cần thiết, tạo sinh viên chủ động hơn trong học tập. Sử dụng CEF làm cơ sở xây dựng chương trình, lựa chọn giáo trình, xác định mức trình độ đầu vào, đầu ra, mức tăng trưởng và kiểm tra đánh giá thường xuyên. Tăng thời lượng để rèn kỹ năng nghe nói cho sinh viên, khai thác công nghệ thông tin để hỗ trợ tối đa cho việc luyện âm, ngữ điệu và khả năng diễn đạt lưu loát của của sinh viên. Để khuyến khích sinh viên tích cực, chủ động và sáng tạo trong học tập, giảng viên cần tạo ra nhiều hoạt động trên lớp, làm việc theo cặp theo nhóm, qua đó giảng viên có thể xây dựng quy trình đánh giá ghi điểm thưởng và điểm phạt cho mỗi hoạt động tham gia trên lớp. GV tích cực bồi dưỡng chuyên môn của mình qua việc tự điều chỉnh và hoàn thiện kỹ năng nghiệp vụ, tăng hiệu qủa hoạt động sư phạm trên lớp, cải tiến trong giảng dạy và học tập - hoạt động được coi là tất yếu, trực tiếp thúc đẩy chất lượng công tác đào tạo và đòi hỏi người dạy cần phát huy tối đa tính năng động và sáng tạo trong việc luôn tìm kiếm các biện pháp nghiệp vụ cụ thể. 3.2 Một số phương pháp dạy học tích cực cho sinh viên đối với bộ môn tiếng Anh Đối với việc giảng dạy ngoại ngữ, mỗi giảng viên có nhiều phương pháp khác nhau. Mỗi phương pháp đều được có được ưu điểm và nhược điểm riêng của nó. Nếu như với phương pháp dạy ngoại ngữ truyền thống chú trọng nhiều vào việc học và rèn luyện thành thạo các cấu trúc ngữ pháp, thì dạy ngoại ngữ theo phương pháp thực hành giao tiếp việc hình thành ở người học năng lực sử dụng ngôn ngữ thành thạo lại là trọng tâm của quá trình dạy học. Khác với phương pháp nghe nói nhấn mạnh đến vai trò của luyện tập từ các mẫu cấu trúc có sẵn, cách giảng dạy theo phương pháp thực hành giao tiếp nhấn mạnh đến khả năng tương tác của người học trong bối cảnh giao tiếp, trong đó mỗi hành vi ngôn ngữ của người học sẽ thay đổi tùy thuộc vào những phản ứng và câu trả lời trước đó của những người cùng tham gia. Một phương pháp cố định không thể là chìa khoá chung cho mọi giảng viên mà phải tuỳ thuộc từng hoàn cảnh lớp học, đối tượng học, nội dung học để mỗi giảng viên cần điều chỉnh các hoạt động giảng dạy hợp lý. Chúng ta không thể có một phương pháp cụ thể cứng nhắc áp dụng cho tất cả các đối tượng mà phải phụ thuộc vào trình độ nhận thức, năng khiếu, sở thích, niềm say mê với môn học mà người dạy và người học chọn cho Thông báo Khoa học và Công nghệ Information of Science and Technology Số 1/2016 No. 1/2016 86 mình phương pháp riêng để học tập và giảng dạy. Một số phương pháp dạy học sau đây có thể được xem là phương pháp có thể phát huy tính tích cực chủ động trong học tập. 3.2.1. Phương pháp động não (Brainstorming) Động não là phương pháp giúp sinh viên trong một thời gian ngắn nảy sinh được nhiều ý tưởng, nhiều giả định về một vấn đề nào đó. Thực hiện phương pháp này, giảng viên cần đưa ra một hệ thống các thông tin làm tiền đề cho buổi thảo luận. Để thực hiện phương pháp này, giảng viên nêu câu hỏi, vấn đề cần được tìm hiểu trước cả lớp hoặc trước nhóm và khích lệ sinh viên phát biểu và đóng góp ý kiến càng nhiều càng tốt. Sau đó giảng viên liệt kê tất cả các ý kiến phát biểu đưa lên bảng và phân loại ý kiến để làm sáng tỏ những ý kiến chưa rõ ràng và thảo luận sâu từng ý. 3.2.2. Phương pháp vấn đáp (oral) Vấn đáp là phương pháp trong đó giảng viên đặt ra câu hỏi để sinh viên trả lời, hoặc sinh viên có thể tranh luận với nhau và với cả giảng viên, qua đó sinh viên lĩnh hội được nội dung bài học. Căn cứ vào tính chất hoạt động nhận thức, người ta phân biệt các loại phương pháp vấn đáp: - Vấn đáp tái hiện: giảng viên đặt câu hỏi chỉ yêu cầu sinh viên nhớ lại kiến thức đã biết và trả lời dựa vào trí nhớ, không cần suy luận. Vấn đáp tái hiện không được xem là phương pháp có giá trị sư phạm. Đó là biện pháp được dùng khi cần đặt mối liên hệ giữa các kiến thức vừa mới học. - Vấn đáp giải thích – minh hoạ: Nhằm mục đích làm sáng tỏ một đề tài nào đó, giảng viên lần lượt nêu ra những câu hỏi kèm theo những ví dụ minh hoạ để sinh viên dễ hiểu, dễ nhớ. Phương pháp này đặc biệt có hiệu quả khi có sự hỗ trợ của các phương tiện nghe – nhìn. - Vấn đáp tìm tòi như là giảng viên dùng một hệ thống câu hỏi được sắp xếp hợp lý để hướng sinh viên kích thích sự ham hiểu biết của mình. Giảng viên tổ chức sự trao đổi ý kiến, tranh luận giữa giảng viên với cả lớp nhằm giải quyết vấn đề đã đặt ra. Trong vấn đáp tìm tòi, giảng viên giống như người tổ chức sự tìm tòi, còn sinh viên giống như người tự lực phát hiện kiến thức mới. Vì vậy, khi kết thúc cuộc đàm thoại, sinh viên có được niềm vui của sự khám phá trưởng thành thêm một bước về trình độ tư duy. 3.3.3. Phương pháp hoạt động nhóm (Group based Learning) Lớp học được chia thành từng nhóm nhỏ từ 5 đến 7 người. Tùy mục đích, yêu cầu của vấn đề học tập, các nhóm được phân chia ngẫu nhiên hay có chủ định, Khi làm việc nhóm, các thành viên phải làm việc theo qui định do giảng viên đặt ra hoặc do chính nhóm đặt ra. Các thành viên đều phải làm việc chủ động, không thể ỷ lại vào một vài người hiểu biết và năng động hơn. Các thành viên trong nhóm giúp đỡ nhau tìm hiểu vấn đề nêu ra trong không khí thi đua với các nhóm khác. Khi có một nhóm nào lên thuyết trình, các nhóm còn lại phải đặt ra các câu hỏi phản biện hoặc câu hỏi đề nghị làm sáng tỏ vấn đề. Phương pháp hoạt động nhóm giúp các thành viên trong nhóm chia sẻ những kinh nghiệm của bản thân, cùng nhau xây dựng nhận thức mới. Bằng cách nói ra những điều đang nghĩ, mỗi người có thể nhận rõ trình độ hiểu biết của mình về chủ đề nêu ra. Bài học trở thành quá trình học hỏi lẫn nhau chứ không phải là sự tiếp nhận thụ động từ giảng viên. Thành công của bài học phụ thuộc vào sự nhiệt tình tham gia của mọi thành viên, vì vậy phương pháp này còn gọi là phương pháp cùng tham gia. Tuy nhiên, phương pháp này bị hạn chế bởi không gian chật hẹp của lớp học, bởi thời gian hạn định của tiết học, cho nên giảng viên phải biết tổ chức hợp lý và sinh viên đã khá quen với phương pháp này thì mới có kết quả. Trong hoạt động nhóm, tư duy Thông báo Khoa học và Công nghệ Information of Science and Technology Số 1/2016 No. 1/2016 87 tích cực của sinh viên phải được phát huy và ý nghĩa quan trọng của phương pháp này là rèn luyện năng lực hợp tác giữa các thành viên trong tổ chức lao động. 3.2.4. Phương pháp đóng vai (Role playing) Đóng vai là phương pháp tổ chức cho sinh viên thực hành một số cách ứng xử nào đó trong một tình huống giả định. Trên thực tế, phương pháp đóng vai có một số ưu điểm như sinh viên được rèn luyện thực hành những kỹ năng ứng xử và bày tỏ thái độ trong môi trường an toàn trước khi thực hành trong thực tiễn, gây hứng thú và chú ý cho sinh viên và tạo điều kiện làm nảy sinh óc sáng tạo của sinh viên, khích lệ sự thay đổi thái độ, hành vi của sinh viên theo chuẩn mực hành vi đạo đức và chính trị - xã hội. Có thể thấy ngay tác động và hiệu quả của lời nói hoặc việc làm của các vai diễn. Cách tiến hành phương pháp này giảng viên chia nhóm, giao tình huống đóng vai cho từng nhóm và quy định rõ thời gian chuẩn mực, thời gian đóng vai. Các nhóm thảo luận chuẩn bị đóng vai. Khi sử dụng phương pháp này giảng viên nên cho tình huống mở, không cho trước “kịch bản”, lời thoại. Phải dành thời gian phù hợp cho các nhóm chuẩn bị đóng vai. Người đóng vai phải hiểu rõ vai của mình trong bài tập đóng vai để không lạc đề. Nên khích lệ cả những sinh viên nhút nhát tham gia. Nên hoá trang và đạo cụ đơn giản để tăng tính hấp dẫn của trò chơi đóng vai. Phương pháp này có thể giúp đạt được chuẩn đầu ra như: Tư duy suy xét, phản biện; nhận biết về kiến thức, kỹ năng và thái độ cá nhân của bản thân. 3.2.5 Phương pháp đặt và giải quyết vấn đề. (Problem based learning) Mục tiêu của học dựa trên vấn là để học nhiều hơn về một chủ đề chứ không phải là chỉ tìm ra những câu trả lời đúng cho những câu hỏi được giảng viên đưa ra (Hmelo-Silver, 2004). Trong phương pháp học dựa trên vấn đề, sinh viên vừa nắm được kiến thức mới, vừa nắm được phương pháp lĩnh hội kiến thức đó, phát triển tư duy chủ động, sáng tạo, được chuẩn bị một năng lực thích ứng với đời sống xã hội, phát hiện kịp thời và giải quyết hợp lý các vấn đề nảy sinh (Hmelo- Silver, 2004). Muốn tạo được một môi trường học tập năng động và hấp dẫn trong đó có sự phối hợp tích cực của thầy và trò. Việc áp dụng phương pháp với vai trò là người điều khiển trong quá trình dạy học, người dạy phải tạo ra mọi tình huống, mọi khả năng để hướng dẫn các hoạt động của người học trong giờ học. Người dạy cần vận dụng mọi thao tác và phương tiện, cử chỉ điệu bộ để tăng cường thúc đẩy các hoạt động giao tiếp. Các phương tiện dạy học được phát huy triệt để. 3.3 Một số kiến nghị đối với nhà trường Nhà trường cần trang bị đầy đủ phương tiện phù hợp với điều kiện giảng dạy đặc thù cho giờ học tiếng Anh, trang thiết bị nghe nhìn, internet đảm bảo chất lượng phục vụ cho việc giảng dạy và học tập trực tuyến trên lớp. Sĩ số lớp phù hợp không quá 30 sinh viên/lớp. Tăng thêm thời lượng cho môn tiếng Anh trên lớp ít nhất là 180 tiết tương đương (12 tín chỉ). Tiếp tục phát huy việc khảo sát, kiểm tra, đánh giá, phân loại trình độ tiếng Anh đầu vào của sinh viên năm thứ nhất bậc đại học để định hướng kế hoạch xếp lớp theo năng lực và trình độ tiếng Anh của sinh viên từ đó lên kế hoạch bồi dưỡng kịp thời để sinh viên có thể đủ kiến thức tiếp tục tham gia vào học tiếng Anh chính khóa đồng thời giúp sinh viên nhận biết trình độ tiếng Anh hiện có ý thức để định hướng và có sự chuẩn bị tốt hơn. Phối hợp các đối tượng tình nguyện viên bản ngữ của các tổ chức quốc tế tham gia vào câu lạc bộ tiếng Anh để sinh viên có cơ hội tiếp cận và sử dụng tiếng Anh ngoài lớp. Tăng thêm giáo trình và tài liệu tham khảo tiếng Anh ở thư viện hỗ trợ cho Thông báo Khoa học và Công nghệ Information of Science and Technology Số 1/2016 No. 1/2016 88 sinh viên có điều kiện nâng cao năng lực ngôn ngữ. Mỗi năm Nhà trường cần tạo điều kiện cho giảng viên tiếng Anh có cơ hội đi học tập, bồi dưỡng nghiên cứu chuyên môn, năng lực ngôn ngữ ở các nước bản ngữ. IV. Kết luận Tóm lại, để giúp sinh viên đạt chuẩn đầu ra theo bộ giáo dục đào tạo quy định, cả tập thể lãnh đạo nhà trường, giảng viên ngoại ngữ cùng tất cả các sinh viên đại học trong trường phải nổ lực hết sức và quyết tâm cao. Sinh viên phải tự học và biết chủ động nỗ lực trong học tập khi thực hiện lộ trình trên là yếu tố quan trọng hàng đầu. Với giảng viên cho thấy giảng dạy với phương pháp phù hợp như chú trọng hướng dẫn thực hiện các bài tập trau dồi kỹ năng, luyện chiến thuật học nghe, nói, đọc, viết là phương châm chủ đạo trong quá trình giảng dạy môn học. Đối với nhà trường, lộ trình đạt chuẩn bậc 3 đối với sinh viên là một yếu tố quan trọng. Để tối đa hiệu quả là tính đồng bộ, và nhất quán trong cách tổ chức thực hiện mục tiêu này, không thể thiếu sự hỗ trợ từ phía nhà trường với sự cải tiến và trang bị mới các thiết bị hỗ trợ dạy và học ngôn ngữ. Nếu đảm bảo được tính đồng bộ của các hoạt động dạy, học, sự quyết tâm cao từ phía nhà trường, giảng viên và sinh viên, chúng tôi tin rằng việc đào tạo sinh viên ở Trường ĐHXD Miền trung có trình độ năng lực ngoại ngữ đạt chuẩn bậc 3 như quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Bachman, L.F & Palmer, A.S, 1996.Language Testing in Practice. OUP. 2. Ngô Doãn Đãi, 2001.Đa dạng hóa phương pháp giảng dạy để nâng cao chất lượng đào tạo, Tài liệu tham khảo phương pháp giảng dạy đại học, Đại học Quốc gia Hà Nội. 3. N.T.T.Hà & V.Đ.Phước, 2007. Làm thế nào để có được hiệu quả đào tạo tiếng Anh trong chương trình chính quy