Thực trạng việc làm của cử nhân ngành Công tác xã hội và định hướng phát triển năng lực cho sinh viên hiện nay

Tóm tắt: Bài viết tập trung phân tích thực trạng việc làm của cử nhân tốt nghiệp chuyên ngành CTXH dựa trên báo cáo giữa kỳ Đề án 32 của Bộ Lao động Thương Binh và Xã hội, làm rõ những thành tựu và hạn chế tồn tại. Từ đó chỉ rõ nguyên nhân khiến cho một tỉ lệ không nhỏ sinh viên tốt nghiệp ngành này không làm đúng nghề hoặc chưa đáp ứng được yêu cầu của cơ quan tuyển dụng. Bài viết cũng đưa ra những đề xuất cụ thể nhằm phát triển năng lực cho sinh viên ngay từ khi ngồi trên ghế nhà trường nhằm hình thành tình yêu nghề, rèn luyện kỹ năng chuyên môn, gắn đào tạo với thực tiễn để đáp ứng tốt hơn nhu cầu xã hội.

pdf7 trang | Chia sẻ: thanhle95 | Lượt xem: 99 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Thực trạng việc làm của cử nhân ngành Công tác xã hội và định hướng phát triển năng lực cho sinh viên hiện nay, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
TẠP CHÍ KHOA HỌC  SỐ 38/2020 199 THỰC TRẠNG VIỆC LÀM CỦA CỬ NHÂN NGÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CHO SINH VIÊN HIỆN NAY Vũ Thị Thanh Nga Trường Đại học Thủ đô Hà Nội Tóm tắt: Bài viết tập trung phân tích thực trạng việc làm của cử nhân tốt nghiệp chuyên ngành CTXH dựa trên báo cáo giữa kỳ Đề án 32 của Bộ Lao động Thương Binh và Xã hội, làm rõ những thành tựu và hạn chế tồn tại. Từ đó chỉ rõ nguyên nhân khiến cho một tỉ lệ không nhỏ sinh viên tốt nghiệp ngành này không làm đúng nghề hoặc chưa đáp ứng được yêu cầu của cơ quan tuyển dụng. Bài viết cũng đưa ra những đề xuất cụ thể nhằm phát triển năng lực cho sinh viên ngay từ khi ngồi trên ghế nhà trường nhằm hình thành tình yêu nghề, rèn luyện kỹ năng chuyên môn, gắn đào tạo với thực tiễn để đáp ứng tốt hơn nhu cầu xã hội. Từ khóa: Việc làm, sinh viên, công tác xã hội, phát triển năng lực Nhận bài ngày 5.3.2020; gửi phản biện, chỉnh sửa, duyệt đăng ngày 20.3.2020 Liên hệ tác giả: Vũ Thị Thanh Nga; Email: vttnga@daihocthudo.edu.vn 1. ĐẶT VẤN ĐỀ Nghề Công tác xã hội (CTXH) đã và đang có vai trò quan trọng đối với sự phát triển bình đẳng và tiến bộ của mỗi quốc gia và nhân loại. Đặc biệt, nghề CTXH góp phần giải quyết các vấn đề xã hội liên quan đến đời sống của từng cá nhân, từng nhóm nhỏ và cộng đồng những người yếu thế. Tuy nhiên, CTXH là một nghề khá mới ở Việt Nam và chưa được nhiều người biết đến. Kể từ khi Thủ tướng Chính phủ ban hành Đề án Phát triển nghề CTXH ở Việt Nam giai đoạn 2010-2020, Bộ Giáo dục và đào tạo đã tiếp tục nghiên cứu, xây dựng và ban hành hành các văn bản quy phạm pháp luật về đào tạo chuyên ngành CTXH bậc đại học, cao đẳng, khung chương trình đào tạo; Bộ Lao động và Thương binh xã hội và Bộ Nội vụ đã xây dựng và ban hành các văn bản về chức danh, mã số nghề nghiệp, tiêu chuẩn nghiệp vụ cho các chức danh nghề CTXH,Từ năm 2010 đến nay, mỗi năm nước ta có hàng ngàn sinh viên tốt nghiệp ra trường, đây là lực lượng quan trọng bổ sung vào đội ngũ những người làm CTXH ở Việt Nam. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là số lượng sinh viên khi ra trường làm đúng chuyên ngành chưa nhiều, họ phải làm những công việc trái với chuyên ngành mà mình được học trong khi đây vẫn là một nghề khá “hot” 200 TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI hiện nay. Điều này gây nên tâm lý lo âu cho sinh viên chuyên ngành CTXH trong vấn đề tìm kiếm việc làm sau khi ra trường. Điều đó xuất phát từ nhiều nguyên nhân: Do nhận thức của xã hội về nghề CTXH còn mờ nhạt, hệ thống dịch vụ CTXH chậm phát triển; Khuôn khổ pháp lý chưa đảm bảo; Chất lượng đào tạo còn nhiều bất cập do nội dung đào tạo chưa phù hợp, còn nặng về lý thuyết, đào tạo chưa gắn với chuẩn đầu ra Xuất phát từ thực tiễn trên, tác giả tiến hành khảo sát, tổng hợp hiện trạng việc làm của sinh viên CTXH sau khi ra trường; Chỉ ra đâu là nguyên nhân khiến các em đánh mất cơ hội nghề nghiệp; Từ đó đưa ra những định hướng mà sinh viên ngành này cần chuẩn bị trước khi gia nhập vào thị trường lao động. 2. NỘI DUNG 2.1. Cơ hội việc làm của nghề công tác xã hội Kể từ khi Thủ tướng Chính phủ ban hành Đề án phát triển nghề CTXH Việt Nam giai đoạn 2010- 2020, Bộ giáo dục và Đào tạo đã tiếp tục nghiên cứu, xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về đào tạo chuyên ngành CTXH bậc đại học, cao đẳng, khung chương trình đào tạo và yêu cầu về xây dựng chuẩn đầu ra cho các bậc đào tạo CTXH khác nhau, đồng thời cũng đã có đề án phát triển mô hình hỗ trợ tâm lý cho học sinh trong trường học. Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội và Bộ Nội vụ đã xây dựng và ban hành các văn bản về chức danh, mã số nghề, tiêu chuẩn nghệp vụ cho các chức danh nghề CTXH; chỉ đạo chuyển đổi mô hình trung tâm CTXH để cung cấp dịch vụ CTXH phù hợp với nhu cầu của người dân. Tính đến tháng 10 năm 2015 đã hình thành được 34 trung tâm CTXH, trên 4 ngàn văn phòng tư vấn và hàng ngàn điểm tư vấn ở cộng đồng. Hiện tại Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội cũng đang phối hợp Với Hiệp hội dạy nghề và Nghề CTXH Việt Nam nghiên cứu ban hành về tiêu chuẩn đạo đức nghề CTXH cho tất cả những người làm CTXH chuyên nghiệp và bán chuyên nghiệp. Bộ y tế cũng đã có đề án phát triển phòng CTXH trong các bệnh viện; Tòa án nhân dân tối cao cũng đang nghiên cứu xây dựng mô hình hoạt động của các phiên tòa có sự tham gia của NVCTXH chuyên nghiệp, đặc biệt là các phiên tòa có liên quan tới trẻ em, gia đình và tội phạm vị thành niên [3]. Trên 50 trường đại học, cao đẳng, trung cấp đã tham gia đào tạo chuyên ngành CTXH ở các bậc trình độ khác nhau tiến hành nghiên cứu ban hành chuẩn đầu ra về đào tạo và xây dựng chương trình, nội dung đào tạo cho phù hợp với chuẩn đầu ra. Các trường đại học cũng tích cực tham gia vào các hoạt động truyền thông, các sự kiện kỷ niệm ngày CTXH thế giới hàng năm. Việt Nam là đất nước chịu nhiều thiệt hại trong chiến tranh, đời sống người dân còn nhiều khó khăn. Đặc biệt, tỉ lệ đối tượng dễ bị tổn thương cần sự trợ giúp của các dịch vụ CTXH còn nhiều. Ở Việt Nam, với gần 9 triệu người cao tuổi, 6,7 triệu người khuyết tật, 1,5 triệu trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, khoảng 2,7 triệu đối tượng bảo trợ xã hội thuộc diện hưởng trợ cấp hàng tháng... Với số lượng những người yếu thế nhiều như vậy thì nhu cầu người cần trợ giúp của các dịch vụ CTXH rất lớn. Theo khung quốc tế trung bình 1.000 dân cần có 1 nhân viên CTXH, 500 dân phải có 1 nhân viên bán chuyên nghiệp. Như vậy, Việt Nam cần khoảng 300.000 nhân viên CTXH chuyên nghiệp và bán chuyên nghiệp [1]. Hiện cả nước đã hình thành, phát triển được 408 cơ sở trợ giúp xã hội TẠP CHÍ KHOA HỌC  SỐ 38/2020 201 công lập và ngoài công lập. Số lượng các cơ sở đào tạo chuyên ngành CTXH tăng nhanh với 55 trường đại học, cao đẳng và 21 cơ sở dạy nghề. Các tỉnh, thành phố đã hình thành mạng lưới 80.000 cán bộ, nhân viên, cộng tác viên làm CTXH ở các hội, đoàn thể các cấp.Tuy nhiên cả nước mới có khoảng 70.000 nhân viên CTXH cả đào tạo và chưa đào tạo, như vậy nhân lực ngành CTXH mới đáp ứng được 1/4 nhu cầu đặc biệt là nhân lực cấp xã, cấp cơ sở. [2] Những người có trình độ chuyên môn về CTXH có thể làm việc tại các cơ quan quản lý Nhà nước thuộc ngành Lao động, Thương binh và Xã hội; Trong các cơ sở y tế từ Trung ương tới địa phương. Ngoài ra, cử nhân CTXH cũng có thể làm việc tại các cơ sở cung ứng dịch vụ CTXH, các trường học, các trung tâm tham vấn và thực hành CTXH trong các lĩnh vực sức khỏe tâm thần, giáo dục, pháp luật, kinh tế, truyền thông, văn hóa, xã hội, môi trường, hoặc làm việc tại các cơ sở nghiên cứu và đào tạo CTXH. Trong tương lai, những người có chuyên môn về CTXH có thể tìm kiếm việc làm trong rất nhiều lĩnh vực khác nhau. 2.2. Thực trạng việc làm của sinh viên sau khi ra trường Đối với nhiều quốc gia trên thế giới, CTXH đã phát triển trở thành một nghề chuyên nghiệp. Tuy nhiên, ở Việt Nam nghề CTXH mới chỉ ở bước đầu hình thành, chưa được phát triển theo đúng ý nghĩa của nó trên tất cả các khía cạnh. Thực tế cho thấy, đa phần nhân viên làm CTXH chưa được đào tạo cơ bản. Đội ngũ nhân viên này phát triển có tính tự phát chủ yếu là của các tổ chức đoàn thể như Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Người cao tuổi, Hội Cựu chiến binh, cán bộ phường, xã đôi khi là những người dân tự nguyện. Họ làm việc chủ yếu theo kinh nghiệm, chưa được đào tạo kỹ năng khoa học xã hội, kỹ năng nghề cần thiết về CTXH. Do vậy, hiệu quả giải quyết các vấn đề xã hội, vấn đề của cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng dân cư không cao, thiếu tính bền vững. Việc đào tạo, phát triển nguồn nhân lực CTXH chuyên nghiệp chưa gắn với việc phân bổ và sử dụng hiệu quả. Mặc dù nước ta đang rất thiếu những người được đào tạ cơ bản về CTXH làm việc nhưng lại có khá nhiều sinh viên được đào tạo bậc đại học, cao đẳng ngành này ra trường lại chưa tìm được đúng công việc với ngành nghề mình đã học; Họ đang phải đi làm những việc trái với ngành nghề đào tạo của họ, thậm chí là làm những công việc chỉ cần lao động phổ thông hoặc được đào tạo ở trình độ trung cấp, sơ cấp như bán hàng hoặc phục vụ ở các nhà hàng. Điều này gây nên tâm lý lo âu cho sinh viên chuyên ngành CTXH trong vấn đề tìm kiếm việc làm sau khi tốt nghiệp. Trên thực tế, cho dù đào tạo CTXH vẫn đang quá ít so với nhu cầu, nhưng nhân lực được đào tạo ngành này lại vẫn dư thừa so với thực tế sử dụng. Số lượng các cơ sở xã hội ở nước ta hiện khá lớn, nằm trong hệ thống an sinh xã hội do ngành Lao động- Thương binh- Xã hội quản lý. Theo Phòng Bảo trợ xã hội Sở Lao động- Thương binh- Xã hội, đội ngũ nhân viên làm CTXH ở Thành phố Hồ Chí Minh chỉ có trên 5.000 người, trong đó 2.000 người làm việc trong các cơ sở xã hội, trung tâm cai nghiện. Kết quả điều tra về nhu cầu đào tạo của cán bộ viên chức, nhân viên và cộng tác viên CTXH tại thành phố Hồ Chí 202 TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI Minh tiến hành trên 4.170 người cho thấy chỉ có 1.037 người (gần 25%) được đào tạo dài hạn về chuyên môn nghiệp vụ nghề CTXH. Thạc sĩ Lê Chí An, Phó Chủ nhiệm câu lạc bộ CTXH chuyên nghiệp thành phố Hồ Chí Minh, nhận xét: “Trong khi đa số lực lượng nhân sự của các cơ sở chưa đạt tới trình độ chuyên nghiệp, các cơ sở thiếu hụt nhân sự chuyên môn thì phần lớn sinh viên ngành công tác xã hội ra trường không được tuyển dụng để làm đúng ngành nghề đã học. Nếu may mắn được tuyển vào làm ở đâu đó thì cũng không phát huy được kỹ năng nghề nghiệp”. Hiện nay chỉ có một số tổ chức hoặc dự án quốc tế đã có đăng tuyển nhân viên CTXH. Nhưng với các vị trí này, sinh viên tốt nghiệp cũng khó có thể dự tuyển vì trình độ ngoại ngữ hạn chế. Tại một số trường học có phòng tham vấn học đường, phòng CTXH bệnh viên có tuyển dụng vị trí nhân viên CTXH. Tuy nhiên số lượng tuyển dụng còn hạn chế; hơn nữa tại các đơn vị này phần lớn thực hiện luân chuyển cán bộ là giáo viên hay nhân viên y tế kiêm nhiệm ví trí nhân viên CTXH. Trong đó, nhân sự công tác xã hội cần 1.000 người/năm. Song, trên thực tế, đa số sinh viên được đào tạo chính quy ngành công tác xã hội vẫn không có việc làm. Trên 60% sinh viên sau khi tốt nghiệp ngành CTXH phải đi làm việc khác hoặc đi học lên cao thêm.[3][4] 2.3. Nguyên nhân Một trong những nguyên nhân của tình trạng trên là nhận thức về tính chuyên nghiệp và khoa học của công việc “giúp đỡ” như nghề CTXH còn hạn chế. Mặc dù với các chính sách được ban hành, từ năm 2010, ngành CTXH có được danh chính ngôn thuận nhưng đến nay vẫn chưa có sự công nhận của xã hội. Nhiều người thường cho rằng đây là người đi làm từ thiện. Không chỉ người dân mà ngay cả đội ngũ cán bộ làm việc trong các cơ sở cung cấp dịch cụ xã hội, cán bộ làm việc trong các cơ quản quản lý các cấp chính quyền địa phương; theo kết quả khảo sát của Bộ Lao động- Thương binh- Xã hội năm 2015 cho thấy chỉ có khoảng 10% cán bộ làm việc trong tổ chức cung cấp dịch vụ xã hội biết đến dịch vụ CTXH và thực hành cung cấp dịch vụ CTXH (Kết quả kháo sát cơ sở trợ giúp 2015); Còn người dân chỉ biết đến chính sách trợ giúp xã hội, rất ít người biết đến dịch vụ CTXH; Vì vậy khi được hỏi về nhu cầu được cung cấp dịch vụ CTXH trong tương lai thì gần như họ rất khó trả lời và không biết trả lờ như thế nào. Hệ thống dịch vụ xã hội chậm phát triển, trong số 21 nhóm dịch vụ CTXH mà nhiều nước trên thế giới đang thực hiện thì ở Việt Nam qua khảo sát 2015, mới chỉ thực hiện được khoảng một phần ba, đặc biệt là các dịch vụ mang tính chuyên môn chuyên sâu như đánh giá mức độ tổn thương, đánh giá nguy cơ rủi ro, đánh gá sức khỏe tâm thần, chuyển gửi, kết nối dịch vụ liên tục, quản lý ca, dịch vụ chăm sóc thay thếhầu như chưa có hoặc chưa chuyên nghiệp. [2] Về khung pháp lý tuy đã có một số văn bản quản lý nhà nước được ban hành nhưng chưa đủ, thiếu các văn bản quy phạm pháp luật quan trọng như: Xác định vai trò, vị trí của nhân viên CTXH, việc làm của nhân viên CTXH, định mức dịch vụ cơ chế tài chính, mạng lưới cung cấp dịch vụ TẠP CHÍ KHOA HỌC  SỐ 38/2020 203 Việc phát triển nguồn nhân lực CTXH còn nhiều bất cập. Khó khăn đầu tiên là đội ngũ giảng viên còn chưa hoàn thiện. Nhiều giảng viên đều “tay ngang” vào nghề như xã hội học, tâm lý học. Cơ sở thực hành còn yếu và thiếu. Chúng ta mới bắt đầu từ mô hình trung tâm bảo trợ xã hội. Đa số sinh viên vẫn phải thực hành nghề tại các trung tâm bảo trợ xã hội. Trong khi đó, trung tâm bảo trợ tính chất chủ yếu là nuôi dưỡng. Còn trung tâm CTXH có thêm những chức năng tư vấn, tham vấn và hỗ trợ. Đội ngũ kiểm huấn viên (đào tạo thực hành) cũng còn thiếu và yếu. Bên cạnh đó, chương trình đào tạo vẫn chưa chuẩn hóa. Mỗi trường dạy theo một kiểu khác nhau. Nhiều nơi có giảng viên ngành xã hội học dạy thì sẽ bị ảnh hưởng theo hướng định tính của ngành xã hội học chứ chưa chú trọng thực hành. Trong khi đó, ngành CTXH đòi hỏi thực hành theo nhóm, cộng đồng, gia đình nhiều hơn. Mặt khác, cơ sở vật chất đào tạo cho nghề CTXH còn có khoảng cách xa với thế giới. Tại Mỹ, họ có hệ thống công nghệ thông tin, máy chiếu hình ảnh giúp giảng viên hạn chế thời gian để mô tả những ca thực hành. Có như vậy, lượng kiến thức được tích hợp nhiều hơn cho người học. Ngoài ra đầu vào đào tạo chuyên ngành CTXH trong những năm gần đây có số điểm thấp hơn so với nhều ngành khác. Do vậy đây cũng là cản trở trong quá trình đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành. Nhiều sinh viên ngành này chưa hình thành được “lòng yêu nghề” , gắn bó với nghề thực sự, mơ hồ về công việc mình sẽ làm, cần trang bị những năng lực gì để đáp ứng công việc sau khi ra trường. 2.4. Chúng ta cần chuẩn bị những gì khi còn là sinh viên? Thực chất của nghề CTXH là cung cấp dịch vụ cho người dân, nhân viên xã hội là người phục vụ chứ không phải là người chủ. Đối tượng được chăm sóc, phục vụ đều là những đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt, là những người cần chăm sóc sức khỏe, được bảo vệ, che chở Chính vì vậy, ngoài kiến thức, nhân viên CTXH cần phải được đào tạo nhiều về kỹ năng mềm. Ví dụ, trường hợp một người có tổn thương tâm lý và có ý định tự tử, nhân viên xã hội cần tìm hiểu nguyên nhân và mức độ tổn thương của người đó và giúp đỡ họ vượt qua khủng hoảng bằng cách tham vấn hoặc trị liệu tâm lý để người đó ổn định lại và không có hành vi làm tổn hại đến bản thân nữa. Thêm nữa, sinh viên CTXH cần tăng cường kỹ năng về truyền thông CTXH như mạng xã hội, tiếp thị xã hội, trang bị thêm kỹ năng gây quỹ như tổ chức sự kiện gây quỹ, viết dự án vận động Mặt khác, do đối tượng được chăm sóc, phục vụ là những đối tượng đặc biệt nên cũng rất cần các nhân viên làm CTXH có đạo đức nghề nghiệp. Ví dụ, đối tượng bị khủng hoảng tâm lý hoặc không có khả năng tự vệ, nếu như nhân viên chăm sóc không có đạo đức nghề nghiệp thì người được chăm sóc lại có thể bị xâm hại. Điều cốt yếu của người làm CTXH là phải yêu nghề, say mê với nghề và luôn mong muốn khám phá về các vấn đề của con người và cuộc sống. Hơn nữa, trong giai đoạn khởi đầu nghề nghiệp thì sinh viên phải chịu được gian khổ mà thu nhập lại không cao. Chính vì vậy, nếu không có đam mê thì rất khó làm việc”. Sinh viên CTXH phải có sự đam mê, chịu 204 TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI khó. Bởi bản chất của nghề này là hỗ trợ để giải quyết các vấn đề của xã hội, nếu không có đam mê thì rất khó làm việc. Đặc biệt, giai đoạn khởi đầu nghề nghiệp thì sinh viên ngành này phải làm việc rất gian khổ với những công việc cực nhọc, có thể là nguy hiểm mà thu nhập không cao, nếu không kiên nhẫn và kiên định mục tiêu sẽ rất khó đeo đuổi nghề. Ngoài rèn luyện năng lực bản thân, sinh viên ngành CTXH cần phải biết làm tình nguyện và thực tập tại các tổ chức xã hội để lấy kinh nghiệm. Rất nhiều cơ hội việc làm đến với sinh viên CTXH chính là từ những công việc thực tập và các tổ chức xã hội thì luôn sẵn sàng đón nhận sinh viên thực tập. Trong thời gian học tập tại trường, các bạn sinh viên nên tham gia tình nguyện ở nhiều lĩnh vực. Qua đó, tìm kiếm môi trường phù hợp với khả năng và sở thích của mình để có thể định hướng phát triển nghề nghiệp sau này. Nghề nào cũng cần có tình yêu nghề và đòi hỏi phải có kiến thức và kỹ năng chuyên môn. Đối với những người làm nghề CTXH còn cần phải có sự dấn thân vì cộng đồng và sự phát triển của xã hội. 3. KẾT LUẬN Có thể nói rằng nghề CTXH ở Việt Nam đối diện vớ rất nhiều thách thức và khó khăn trên con đường phát triển hướng tới tình chuyên nghiệp. Tuy nhiên những thách thức này có thể là động lực để phát triển đào tạo CTXH theo đúng tiêu chuẩn của nghề, của xã hội và hội nhập với thế giới. Theo đó, những sinh viên theo học ngành CTXH có thể sẽ gặp phải những khó khăn khi đi xin việc làm do sự mới mẻ của ngành nghề, nhận thức của các tổ chức xã hội cũng như người dân về nghề còn mờ nhạt, hệ thống dịch vụ xã hội còn mỏng, khuôn khổ pháp lý chưa đảm bảo cho nhân viên CTXH thực hành nghề; Đào tạo nghề CTXH còn nhiều bất cập, phân bổ nguồn lực bất hợp lýTuy nhiên mỗi sinh viên ngay từ khi ngồi trên ghế nhà trường cần trang bị cho mình những kiến thức vững vàng về nghề, lòng yêu nghề, sự dấn thân, trau dồi kỹ năng mềm thông qua thực hành, thực tập và tham gia các hoạt động xã hội, dự án phát triển cộng đồng nhằm đắp ứng nhu cầu của xã hội về một nhân viên CTXH chuyên nghiệp. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Đề án đổi mới trợ giúp xã hội Việt Nam giai đoạn 2016-2020, Bộ Lao động- Thương binh & Xã hội. 2. Kết quả khảo sát trợ giúp xã hội Việt Nam năm 2015, Cục Bảo trợ Xã hội. 3. Đánh giá giữa kỳ thực hiện Đề án phát triển nghề CTXH Việt Nam giai đoạn 2010-2020 (gọi tắt là đề án 32), Bộ Lao động Thương binh & Xã hội và Unicef. 4. Đề án quy hoạch mạng lưới cơ sở trợ giúp xã hội giai đoạn 2016-2025, Bộ Lao động- Thương binh & Xã hội TẠP CHÍ KHOA HỌC  SỐ 38/2020 205 THE EMPLOYMENT OF BACHELOR AT COMMUNITY SERVICES MAJOR AND SEVERAL SUGGESTIONS TO DEVELOP STUDENT’S POTENTIAL Abstract: The article analyzes the state of employment of bachelors at Community Services Majors based on the mid-term report of Project 32 announced by the Ministry of Labor, War invalids and Social affairs. Based on clarifying both achievements and drawbacks of the issue, it also points out several reasons that cause the students being mismatched to their jobs or cannot meet the job requirements. The article later gives specific suggestions for developing students’ potential during the school term in order to foster their dedication for job, improve professional skills, and connect the training process with the reality to meet social demands. Keywords: Employment, students, Community Services, potential development
Tài liệu liên quan