Tiểu luận Triết học Những mâu thuẫn biện chứng trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam

Qui luật mâu thuẫn còn được gọi là qui luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập, là một trong ba qui luật của phép biện chứng. Nghiên cứu qui luật này để thấy rõ được nguồn gốc, động lực của sự vận động và phát triển Trong thế giới vô vàn sự vật hiện tượng, mỗi sự vật, hiện tượng tồn tại được đều là một thể thống nhất được tạo thành bởi các mặt, các thuộc tính, các khuynh hướng đối lập nhau và phát triển ngược chiều nhau, tạo thành mâu thuẫn tồn tại trong lòng sự vật hiện tượng đó. Mâu thuẫn tồn tại từ khi sự vật xuất hiện cho đến sự vật kết thúc. Trong cùng một sự vật, hiện tượng không chỉ có một mâu thuẫn mà có thể có rất nhiều mâu thuẫn, khi mâu thuẫn này được giải quyết thì mâu thuẫn khác lại hình thành. và cứ như vậy thế giới vật chất luôn vận động, biến đổi không ngừng. a) Mâu thuẫn là một hiện tượng khách quan và phổ biến. Trong quan điểm của triết học Mác thì rõ ràng vật chất tự thân vận động, nó hoàn toàn không phụ thuộc vào một lực lượng siêu nhiên nào, kể cả con người.Chính vì vậy mà khi thừa nhận mâu thuẫn là nguồn gốc của vận động thì nó đã bao hàm mâu thuẫn là một hiện tượng khách quan, nó không những không lệ thuộc vào ý thức của con người mà còn chi phối, qui định cả hoạt động thực tiễn của con người. Mâu thuẫn tồn tại trong tất cả các lĩnh vực: tự nhiên, xã hội và tư duy con người. Trong xã hội, có những mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng. b) Sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập Đối lập là sự khái quát những mặt, những thuộc tính, khuynh hướng phát triển ngược chiều nhau, cùng tồn tại bên trong sự vật, hiện tượng và tạo nên sự vật hiện tượng đó. Không phải bất kì hai mặt đối lập nào cũng hình thành nên mâu thuẫn. Bởi chính bên trong sự vật đã có rất nhiều mặt đối lập, chỉ có những mặt đối lập nào thống nhất với nhau như một chỉnh thể mới tạo thành mâu thuẫn. Sự thống nhất của các mặt đối lập là sự nương tựa vào nhau là điều kiện tồn tại của nhau. Nếu thiếu một trong hai mặt đối lập chính tạo thành sự vật thì không tồn tại sự vật đó. Bởi vậy, sự thống nhất của các mặt đối lập là điều kiện không thể thiếu trong bất kì sự vật hiện tượng nào. Đấu tranh giưã các mặt đối lập là điều tất yếu trong cùng một sự vật, đó là động lực phát triển của bản thân sự vật hiện tượng ấy. Chính vì vậy mà Lênin khẳng định: “Sự phát triển là một cuộc đấu tranh giữa các mặt đối lập”. Đấu tranh diễn ra trong một thể thống nhất, từ đó sẽ sự phá vỡ thể thống nhất cũ và thiết lập một thể thống nhất mới và làm cho sự vật vận động và phát triển. Bản chất của quá trình đấu tranh đó là sự triển khai của các mặt đối lập, diễn ra vô cùng phức tạp và được chia làm nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn thể hiện một đặc điểm riêng. Khi bàn luận về mối quan hệ thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập, Lênin khẳng định rõ: “ Mặc dù thống nhất chỉ là điều kiện tồn tại của sự vật, hiện tượng, và thông qua nó chúng ta nhận biết được sự vật hiện tượng tồn tại trong thế giới khách quan. Song bản thân sự thống nhất chỉ tương đối tạm thời. Đấu tranh giữa các mặt đối lập mới là tuyệt đối. Nó diễn ra trong suốt quá trình tồn tại của mình.”. Như vậy thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập luôn diễn ra liên tục, và đó chính là cơ sở để giải thích vì sao vật chất tự thân vận động c) Sự chuyển hoá của các mặt đối lập Như chúng ta đã biết, không phải bất kì sự đấu tranh nào của các mặt đều dẫn đến sự chuyển hoá giữa chúng. Chỉ có sự đấu tranh của các mặt đối lập phát triển đến một mức độ nhất định, hội tụ tất cả các điều kiện cần thiết thì mới dẫn đến sự chuyển hoá, bài trừ phủ định lẫn nhau. Khi có sự chuyển hoá của các mặt đối lập, thì lúc đó mâu thuẫn được giải quyết, sự vật cũ mất đi, sự vật mới ra đời. Quá trình này diễn ra hết sức phức tạp, phong phú nhiều vẻ. Nói tóm lại, trong thế giới vô vàn sự vật, hiện tượng, sự vật hiện tượng nào cũng chứa đựng mâu thuẫn được thể hiện ở những mặt, những thuộc tính, khuynh hướng phát triển trái ngược nhau. Khi mâu thuẫn này được giải quyết thì sự vật mới ra đời kéo theo mâu thuẫn mới tồn tại trong sự vật đó.Cứ như vậy thế giới vật chất của chúng ta luôn vận động biến đổi. Với câu nói nổi tiếng của Hêra crít càng minh chứng rõ điều này: “Không ai có thể tắm trên cùng một dòng sông” . 2. Vai trò của qui luật mâu thuẫn trong hoạt động thực tiễn của con người Mâu thuẫn là hiện tượng phổ biến, nó tồn tại trong mọi mặt của đời sống xã hội dưới nhiều hình thức khác nhau: mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài, mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản, mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn thứ yếu, mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng. Trong hoạt động thực tiễn, mâu thuẫn tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau, việc phân tích mâu thuẫn có ý nghĩa rất quan trọng. Như chúng ta đã biết, trong mỗi một sự vật, hiện tượng, không chỉ có một mâu thuẫn mà cùng một lúc có thể có rất nhiều mâu thuẫn. Việc giải quyết mâu thuẫn là điều tất yếu, nhưng không thể cùng một lúc chúng ta giải quyết được tất cả các mâu thuẫn. Chính vì thế mà phải xác định xem mâu thuẫn nào cần phải giải quyết trước. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “ Bất cứ địa phương nào, cơ quan nào, thường trong một lúc có nhiều công việc trọng yếu. Trong một thời gian đó, lại có một công việc trọng yếu nhất và vài ba việc trọng yếu vừa. Người lãnh đạo trong địa phương hoặc cơ quan đó phải xem xét kĩ hoàn cảnh mà sắp đặt công việc cho đúng. Việc chính, việc gấp thì làm trước. Không nên luộm thuộm, không có kế hoặch, gặp việc nào làm việc ấy, thành thử việc nào cũng là việc chính, lộn xộn, không có ngăn nắp “ Ví dụ: Một trong những nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu là: Tiến hành cải tổ không theo một trình tự rõ ràng, đã có sự phê phán đối với “sự trì trệ” nhưng không xác định được mâu thuẫn nào cần được giải quyết trước, và chúng được thực hiện theo sự nhất quán nào, vào thời gian nào,trong điều kiện nào. Từ đó dẫn đến hiện tượng luống cuống, hỗn độn, mất ổn định của nhà nước và xã hội. Trong hoạt động thực tiễn, phát hiện và nhận thức mâu thuẫn là rất quan trọng, không nên lảng tránh và che dấu mâu thuẫn. Hơn nữa, mâu thuẫn được giải quyết bằng quá trình đấu tranh theo qui luật khách quan. Cho nên rong đời sống xã hội chúng ta phải coi hành vi đấu tranh là chân chính. II/ Tính tất yếu phải xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Đại hội Đảng lần thứ VI có ý nghĩa lịch sử, đánh dấu bước ngoặt chuyển đất nước ta sang thời kì mới, thay thế nền kinh tế hiện vật với cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ( KTTT ĐH XHCN ). KTTT định hướng XHCN, thực chất là kiểu tổ chức nền kinh tế vừa dựa trên những nguyên tắc và qui luật của KTTT, vừa dựa trên nguyên tắc và bản chất của CNXH. Do đó, KTTT định hướng XHCN có hai nhóm nhân tố cơ bản tồn tại trong nhau, kết hợp với nhau và bổ sung cho nhau. Đó là nhóm của KTTT đóng vai trò như là “động lực” thúc đẩy nền sản xuất xã hội phát triển nhanh và nhóm nhân tố của xã hội XHCN, đóng vai trò hướng dẫn, chỉ định sự vân động của nền kinh tế theo những mục tiêu đã xác định. Vai trò quản lý của nhà nước trong nền kinh tế thị trường hết sức quan trọng. Sự quản lý của nhà nước bảo đảm cho nền kinh tế tăng trưởng ổn định, đạt hiệu quả, đặc biệt là sự đảm bảo công bằng và tiến bộ xã hội. Không có ai ngoài nhà nước lại có thể giảm bớt được sự chênh lệch giữa giàu và nghèo, giữa thành thị và nông thôn, giữa công nghiệp và nông nghiệp, giữa các vùng của đất nước.Chính vì vậy mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một đặc trưng cơ bản của nước ta, nó hoàn toàn khác với mô hình kinh tế thị trường của các nước trên thế giới.

doc26 trang | Chia sẻ: haohao89 | Lượt xem: 2002 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Tiểu luận Triết học Những mâu thuẫn biện chứng trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên